1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài.
Từ năm 2007 trở lại đây Bộ giáo dục và đào tạo áp dụng hình thức thi trắc
nghiệm trong kì thi THPT Quốc Gia, cao đẳng toàn quốc thay vì hình thức thi tự
luận như trước đây với bộ môn Sinh học. Trong một đề thi với số lượng câu hỏi
nhiều, cộng với thời gian có hạn, để làm tốt bài thi của mình thì học sinh không
chỉ biết cách giải thôi chưa đủ mà cần phải biết cách giải nhanh gọn, chính xác.
Trong quá trình thực hiện giảng dạy cho đối tượng học sinh là các em đang
chuẩn bị thi THPT Quốc Gia thi vào các trường đại học, cao đẳng, với hình thức
đề thi trắc nghiệm khách quan được áp dụng như hiện nay. Tôi thấy bản thân và
không ít giáo viên, học sinh xuất hiện một nhu cầu rất lớn là làm thế nào tìm ra
được phương pháp giải nhanh gọn tiết kiệm thời gian các dạng bài tập vận dụng
cao trong toàn bộ chương trình, đề thi.
Với phần kiến thức về quy luật di truyền, các bài tập phần nhận biết hay
thông hiểu thì không kể đến nhưng với phần bài tập vận dụng và vận dụng cao
đặc biệt các bài toán liên quan đến có bao nhiêu phát biểu đúng, có bao nhiêu
phép lai thỏa mãn điều kiện đề ra, có bao nhiêu loại kiểu gen có 2 hoặc 3 alen,
có bao nhiêu kiểu hình, số loại kiểu gen tối đa… Thì từ trước tới nay cũng đã
có một công công thức trên mạng internet, một số tài liệu trên thị trường trình bày
về vấn đề giải nhanh các bài toán sinh học. Tuy nhiên hiện nay chưa có một sách
nào viết chuyên sâu về vấn đề này dẫn đến học sinh và giáo viên trực tiếp giảng
dạy còn mông lung, ví dụ: chưa có tài liệu nào viết về số loại kiểu gen của cơ thể
tứ bội giao phối với nhau, số loại kiểu hình trong tương tác cộng gộp nhiều cặp
gen (2,3,4….), số loại kiểu gen mang 2 alen ở đời con….., tuy nhiên với mục đích
vẫn muốn tìm phương pháp ngắn gọn hơn nữa nên trong thời gian “cày xới trên
mảnh đất quy luật di truyền” này theo tôn chỉ đó, với kiến thức và vốn kinh
nghiệm của bản thân tôi đã tìm ra một số phương pháp giải nhanh các bài toán
quy luật di truyền mà một số sách, trên mạng chưa viết để ứng dụng giải nhanh
các bài toán vận dụng cao hơn nhiều lần, đồng thời còn giúp học sinh thấy tự tin
hơn với kiến thức và kĩ năng giải các bài toán sinh học trước khi bước vào phòng
thi. Với hiệu quả như vậy tôi đã chọn đề tài “PHƯƠNG PHÁP GIẢI NHANH
cách giải cũ và cách giải mới.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Từ sáng kiến kinh nghiệm của mình tôi đã tìm ra những điểm mới như sau:
- Xây dụng và áp dụng công thức tính số loại kiểu gen mang 2, 3… alen ở đời
con.
- Xây dựng và áp dụng bài toán tính : Số loại kiểu gen ở đời con khi cho bố mẹ
có kiểu gen tứ bội lai với nhau.
- Xây dựng công thức từ số loại kiểu hình ở đời con suy ra kiểu gen của bố mẹ
trong tương tác cộng gộp.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1. Phân tích cấu trúc và nội dung thường ứng dụng dạng bài tập tính số
loại kiểu gen, số loại kiểu hình, Sinh học 12-THPT
Bài toán 1 (tính số loại kiểu gen): Thường ứng dụng trong các phép lai cơ
thể tứ bội với nhau mà khi giảm phân cho giao tử lưỡng bội có khả năng thụ tinh
với xác xuất như nhau.
Bài toán 2 (tính số loại kiểu gen chứa 2, 3,4… alen trội hoặc lặn): Được
ứng dụng trong các quy luật:
- Quy luật Menđen: Quy luật phân ly độc lập
- Tương tác gen.
Bài toán 3 (tính số loại kiểu hình): ứng dụng trong các bài tập về tương
tác cộng gộp.
2.1.2. Phương pháp giải nhanh là gì ?
Như ta đã biết khi phân tích đề minh họa số 1, số 2, số 3 trong kì thi THPT Quốc
Gia 2017, ta thấy phần “ Tính quy luật của hiện tượng di truyền” ra 9 câu trong
tổng số 40 câu hỏi, Trong đó:
2
3
0.75
9
2.25
Mặt khác phần cơ chế di truyền, biến dị cũng có một câu vận dụng cao, câu hỏi
đó có thể là bài tập về đa bội thể. Như vậy trong 6 câu hỏi vận dụng cao (chiếm
15%) thi phần này số câu hỏi đã chiếm 4 câu hơn một nửa. Nếu học sinh không
có cách giải nhanh thì rất khó đảm bảo về thời gian hoàn thiện đề thi đúng yêu
cầu.
Vậy phương pháp giải nhanh trong toán sinh là gì? Với một bài tập trước đây
nếu chúng ta thi theo hình thức tự luận thì phải 30 phút mới giải xong, tuy nhiên
nếu ta xây dựng công thức cho các em học sinh thì bày này trong vòng tối đa 3
phút phải làm ra kết quả để tô vào ô đáp án bù các câu khác có thê chỉ 30 giây.
Vậy phương pháp giải nhanh chính là trong thời gian rất ngắn ta phải tìm ra kết
quả so với các phương pháp thông thường khác.
2.1.3. Xây dựng các công thức giải nhanh.
a. Số loại kiểu gen ở đời con của cơ thể tứ bội.
Bài toán: Nếu bố mẹ (P): AaaaBBbb × AaaaBBbb khi giảm phân chỉ cho giao
tử lượng bội có khả năng thụ tinh bình thường. Không phát sinh đột biến mới.
Thì F1 có mấy loại kiểu gen?
- Cách 1: Phương pháp giải thông thường.
Viết giao tử của cơ thể bố; Viết giao tử của cơ thể mẹ; Sau đó hợp tử tạo ra là
tích giao tử của cơ thể bố và giao tử của cơ thể mẹ.
Thống kể kiểu gen ở đời F1, thống kể loại kiểu gen trùng nhau, sau đó tính tổng
chính là số loại kiểu gen tạo ra.
P : AaaaBBbb × AaaaBBbb
+ Xét riêng:
Aaaa × Aaaa → [G: (1/2Aa, 1/2aa) × (1/2Aa, 1/2aa)]
F1: 1/4AAaa: 1/4Aaaa: 1/4Aaaa: 1/4aaaa. → Vậy đời con có 3 loại kiểu gen.
BBbb × BBbb → [G: (1/6BB, 4/6Bb, 1/6bb) × (1/6BB, 4/6Bb, 1/6bb)]
P: AaBbDdEe × AaBbDdEe
F1: Số loại kiểu gen mang 2 alen trội là:
AAbbddee, AaBbddee, AabbddEe, aaBbDdee……….
Sau đó công các kiểu gen mang 2 alen trội lại với nhau tìm ra 10 kiểu gen.
Phương pháp này rất mất thời gian, dễ nhầm lẫn vì không liệt kê hết các loại
kiểu gen cần tìm.
- Cách 2: Phương pháp giải nhanh
Trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm ra công thức như sau: (2)
Số loại kiểu gen bằng
LOẠI KIỂU GEN = n + n-1+ n-2+ n -3+ …+ n-n
Trong đó: n là số cặp gen dị hợp.
Áp dụng lại bài toán trên: P: AaBbDdEe × AaBbDdEe
Số loại kiểu gen mang 2 alen trội ở F1 là: Ta thấy n = 4.
Vậy đáp án cần tìm là: 4+3+2+1 = 10 kiểu gen.
Khi các em học sinh đã có công thức này thì áp dụng vào giải toán sẽ rất tiết
kiệm được thời gian.
c. Từ số loại kiểu hình suy ra số loại kiểu gen trong các bài toán tương tác
cộng gộp.
Bài toán: Ở một loài thực vật, tính trạng chiều cao cây do nhiều gen phân li độc
lập (mỗi gen đều có 2 alen) tương tác với nhau theo kiểu cộng gộp. Cứ mỗi alen
trội trong kiểu gen làm cây cao thêm 10cm. Cho cây cao nhất giao phấn với cây
thấp nhất có chiều cao 120cm, thu được F1. Cho F1 giao phấn với nhau, thu được
F2 gồm 9 loại kiểu hình. Biết rằng không xảy ra đột biến, theo lí thuyết, có bao
nhiêu phát biểu sau đây về F2 đúng?
(1) Cây cao nhất có chiều cao 160cm.
(2) Cây cao 140cm có 10 loại kiểu gen.
(3) Cây cao 150cm chiếm 7/32.
4
Trong tương tác cộng gộp vai trò các alen trội là như nhau trong kiểu gen quy
định kiểu hình. Gọi (n) là số cặp gen dị hợp (mỗi gen có 2 alen).
Khi cho cơ thể dị hợp (n) cặp gen tự thụ phấn (hoặc giao phấn) thì số loại kiểu
hình ở đời con là:
Số loại kiểu hình bằng(3)
LOẠI KIỂU HÌNH = 2*n + 1
Trong đó: n là số cặp gen dị hợp.
Áp dụng lại bài toán trên: 9 = 2n +1. Suy ra: n = 4 cặp gen dị hợp.
Vậy kiểu gen của F1 là AaBbDdEe. Khi xác định được kiểu gen của F1 ta sẽ dễ
dàng tìm ra được các yêu câu cần tìm của bài toán.
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Từ thực tế trực tiếp giảng dạy học sinh ở trên lớp, sự trao đổi của các đồng
nghiệp cũng như tham khảo các tài liệu hiện có trên thị trường, qua các năm gần
đây tôi nhận thấy đại bộ phận học sinh đều coi bài toán liên quan đến tính số loại
kiểu gen, tính số loại kiểu gen chứa 2,3,4.. alen trội hoặc lặn, số loại kiểu hình…
là bài toán khó (theo kinh nghiệm giảng dạy tôi có thể gọi các bài toán như trên
là các bài toán hay và khó tương đương với mức 4 – vận dụng cao trong thi
5
THPT QG). Vì vậy khi vận dụng thì lúng túng, có khi giải được nhưng không
hiểu được bản chất vấn đề, và nếu giải được thì mất khá nhiều thời gian, không
phù hợp cách thi hiện nay. Sở dĩ có thực trạng đó theo tôi là do một số nguyên
nhân cơ bản sau:
- Thứ nhất là do phân phối của chương trình và theo chuẩn kiến thức kỹ
năng có giới hạn nên khi dạy trên lớp giáo viên không thể đi sâu vào phân tích
một cách chi tiết
Các bại tập hay và khó về quy luật di truyền để có hường nghiên cứu. Vì vậy đại
bộ phận học sinh không thể hệ thống hóa được phươg pháp tối ưu nhất để giải
các dạng tài tập này. Trong khi đó các đề thi trong các năm gần đây có nhiều
F1: 1/36 AAAA: 4/36AAAa : 1/36AAaa : 4/36AAAa : 16/36AAaa: 4/36Aaaa:
1/36AAaa: 4/36Aaaa: 1/36aaaa.
→ F1 có 5 kiểu gen : AAAA, AAAa, AAaa, Aaaa, aaaa.
+ Bbbb × Bbbb → [G: (1/2Bb, 1/2bb) × (1/2Bb, 1/2bb)]
6
F1: 1/4BBbb : 2/4Bbbb: 1/4bbbb.
→ F1 có 3 kiểu gen
- Xét chung:
Số loại kiểu gen ở đời F1 là: 3*5 = 15 → chọn Đáp án B
Cách giải 2: Phương pháp giải nhanh
Số loại kiểu gen bằng :
LOẠI KIỂU GEN = Giao tử ♂ + Giao tử ♀ - 1
Áp dụng:
+ AAaa × AAaa → Số loại kiểu gen F1 là: 3 + 3 – 1 = 5.
+ Bbbb × Bbbb → Số loại kiểu gen F1 là : 2 + 2 – 1 = 3.
=> Số loại kiểu gen chung là: 5*3 = 15 → chọn Đáp án B
→ Cách giải này học sinh chỉ cần xác định được số loại giao tử của bố và mẹ là
suy ra được kết quả. Việc viết giao tử và xác định số loại giao tử không mấy khó
khăn
Ví dụ 2( Trích đề minh họa thi ĐH 2016): Ở một loài thực vật, tính trạng chiều
cao do 2 cặp gen Aa, Bb nằm trên 2 cặp NST khác nhau quy định theo kiểu
tương tác cộng gộp, trong đó cứ có 1 alen trội thì chiều cao của cây tăng lên
10cm ; Tính trạng màu hoa do một cặp gen Dd quy định, trong đó D quy định
hoa đỏ trội hoàn toàn so với d quy định hoa trắng. Phép lai giữa 2 cây tứ bội có
kiểu gen AAaaBbbbDDDd × AAaaBbbbDddd thu được đời F1. Cho rằng cơ thể
tứ bội giảm phân chỉ sinh ra giao tử lưỡng bội và các loại giao tử lưỡng có khả
năng thụ tinh bình thường. Theo lí thuyết, đời F 1 có tối đa số loại kiểu gen và số
loại kiểu hình lần lượt là
lập (mỗi gen đều có 2 alen) tương tác với nhau theo kiểu cộng gộp. Cứ mỗi alen
trội trong kiểu gen làm cây cao thêm 10cm. Cho cây cao nhất giao phấn với cây
thấp nhất có chiều cao 120cm, thu được F1. Cho F1 giao phấn với nhau, thu được
F2. Biết rằng không xảy ra đột biến, theo lí thuyết, Cây cao 140 cm có bao nhiêu
loại kiểu gen?
Cách giải 1. Phương pháp thông thường
Ta thấy chiểu cao của cây do 4 cặp gen (Aa,Bb,Dd,Ee) phân li độc lập tương tác
theo kiểu cộng gộp quy định chiêu cao cây.
Cây cao nhất có kiểu gen là AABBDDEE, cây thấp nhất có kiểu gen là aabbddee
F1 có kiểu gen là: AaBbDdEe. F1 lai với F1 ta có phép lai
F1 × F1: AaBbDdEe × AaBbDdEe
F2: Viết giao tử, sau đó kẻ bảng penet thông kê kết quả lai.
Theo bài ra cây thấp nhất có chiều cao 120 cm, mà mỗi alen trội làm cây cao 10
cm. Vậy cây cao 140 cm có chứa 2 alen trội.
Sau khi đếm trong bảng penet ta tìm được 10 kiểu gen.
Nhận xét: cách giải này mất khá nhiều thời gian, dễ đếm nhầm kiểu gen.
Cách giải 2: Phương pháp giải nhanh
Ta thấy F1 dị hợp 4 cặp gen. Sử dụng công thức:
Số loại kiểu gen bằng
LOẠI KIỂU GEN = n + n-1+ n-2+ n -3+ …+ n-n
Trong đó: n là số cặp gen dị hợp.
Vậy cây cao 140 cm chứa 2 alen trội có số loại kiểu gen cần tìm là:
4 + 3 + 2 + 1 + 0 = 10 kiểu gen.
Nhận xét: Cách giải 1dài dòng, mất nhiều thời gian, cách giải hai đơn giản hơn
rất nhiều
c. Từ số loại kiểu hình suy ra số loại kiểu gen trong các bài toán tương tác
cộng gộp.
Ví dụ 4: Ở một loài thực vật, tính trạng chiều cao cây do nhiều gen phân li độc
lập (mỗi gen đều có 2 alen) tương tác với nhau theo kiểu cộng gộp. Cứ mỗi alen
trội trong kiểu gen làm cây cao thêm 10cm. Cho cây cao nhất giao phấn với cây
Áp dụng lại bài toán trên: 9 = 2n +1. Suy ra: n = 4 cặp gen dị hợp.
Vậy kiểu gen của F1 là AaBbDdEe.
Nhận xét: Khi có công thức ta xác định được kiểu gen của F 1 một cách dễ dàng
và thực hiện các yêu cầu của bài toán một cách nhanh gọn, đáp ứng về mặt thời
gian của đề bài.
Ví dụ 5: ( Trích đề minh họa thi ĐH 2016): Ở một loài thực vật, tính trạng chiều
cao do 2 cặp gen Aa, Bb nằm trên 2 cặp NST khác nhau quy định theo kiểu
tương tác cộng gộp, trong đó cứ có 1 alen trội thì chiều cao của cây tăng lên
10cm ; Tính trạng màu hoa do một cặp gen Dd quy định, trong đó D quy định
hoa đỏ trội hoàn toàn so với d quy định hoa trắng. Phép lai giữa 2 cây tứ bội có
kiểu gen AAaaBbbbDDDd × AAaaBbbbDddd thu được đời F1. Cho rằng cơ thể
tứ bội giảm phân chỉ sinh ra giao tử lưỡng bội và các loại giao tử lưỡng có khả
năng thụ tinh bình thường. Theo lí thuyết, đời F 1 có tối đa số loại kiểu gen và số
loại kiểu hình lần lượt là
A. 45 ; 15.
B. 45 ; 7.
C. 15 ; 4.
D. 32 ; 8.
* Xác định kiểu hình
Cách giải 1. Phương pháp thông thường
- Xét riêng từng nhóm
+ DDDd × Dddd → Chỉ cho 1 loại kiểu hình D - Hoa đỏ.
9
+ AAaa × AAaa → Cho 5 kiểu gen: AAAA, AAAa, AAaa, Aaaa, aaaa.
+ Bbbb × Bbbb → Cho 3 kiểu gen: BBbb. Bbbb, bbbb.
- Xét chung: Vì alen A và B tương tác theo kiểu cộng gộp
Ta gép nối hai alen A và B thì có tối đa 6 alen trội trong một kiểu gen
(AAAA+BBbb). Từ đó suy ra kiểu hình tương tứng như sau:
Biết rằng các cây tứ bội giảm phân chỉ cho các loại giao tử lưỡng bội có khả
năng thụ tinh bình thường. Theo lí thuyết, trong các phép lai trên, có bao nhiêu
phép lai cho đời con có kiểu gen phân li theo tỉ lệ 8:4:4:2:2:1:1:1:1?
A. 2.
B. 3.
C. 4.
D. 5.
Giải: Phương pháp giải nhanh
Ta thấy đời con phân li kiểu gen theo tỉ lệ 8:4:4:2:2:1:1:1:1 → Vậy đời con có
9 loại kiểu gen.
Áp dụng công thức:
Số loại kiểu gen bằng :
LOẠI KIỂU GEN = Giao tử ♂ + Giao tử ♀ - 1
10
Ta dễ dàng tìm ra các phương án đúng là (1), (2), (5).
Chọn phương án B
Câu 2: Ở một loài thực vật tứ bội, xét gai gen mỗi gen có hai alen (A,a và B,b).
Trong đó alen A quy định cây cao trội hoàn toàn so với alen a quy định cây thấp;
alen B qui định hoa đỏ trội hoàn toàn so với alen b quy định hoa trắng. Biết rằng
thể tứ bội khi giảm phân chỉ cho giao tử lưỡng bội với xác suất thụ tinh ngang
nhau. Theo lí thuyết, trong các phép lai sau có bao nhiêu phép lai cho đời con 9
loại kiểu gen?
(1) AaaaBBbb × AaaaBBbb.
B. 3.
C. 4.
D. 2.
15 kiểu gen = 5 *3.
Áp dụng công thức tính loại kiểu gen của cơ thể tứ bội ta dễ dàng tìm ra phương
án đúng là (1) → Chon đáp án A
Câu 4: Ở một loài thực vật tứ bội, xét gai gen mỗi gen có hai alen (A,a và B,b).
Trong đó alen A quy định cây cao trội hoàn toàn so với alen a quy định cây thấp;
alen B qui định hoa đỏ trội hoàn toàn so với alen b quy định hoa trắng. Biết rằng
thể tứ bội khi giảm phân chỉ cho giao tử lưỡng bội với xác suất thụ tinh ngang
nhau. Theo lí thuyết, Khi cho lai cây cao, đỏ với cây cao trắng thì trong các phép
lai sau có bao nhiêu phép lai cho đời con 9 loại kiểu gen?
(1) AaaaBBbb × AaaaBBbb.
(2) AAaaBBbb × AaaaBBbb.
(3) AaaaBBbb × Aaaabbbb.
(4) AaaaBBbb × AAAabbbb.
(5) AAAaBbbb × AAAaBBBb.
(6) AaaaBbbb × AaaaBbbb.
(7) AaaaBBBb × AaaaBBBb.
(8) AAaaBBBb × AAAABBbb.
(9) AAAaBBBb × AAAaBBBb.
A. 2.
B. 3.
C. 4.
D. 5.
11
Phương pháp giải nhanh : Khi cho lai cây cao, đỏ với cây cao trắng. Có nghĩa
là cơ thể P có kiểu gen là:
A. 2.
B. 3.
C. 4.
D. 1.
Từ 9 loại kiểu hình, sử dụng công thức số 3 ta có:
Số kiểu hình = 2*n +1. ( trong đó n là số cặp gen dị hợp)
Ta có 9 = 2*n +1 → n = 4(AaBbDdEe)
Khi đã xác định được kiểu gen F1 ta dễ dàng thực hiện được các yêu cầu:
(1) Cây cao nhất có 8 alen trội: chiều cao là 120 + 80 = 200cm. → (1) Sai
(2) Cây cao 140 cm thì trong kiểu gen có 2alen trội, Áp dụng công thức (2) ta
có số loại kiểu gen là: 4+3+2+1+0 = 10. → (2) Đúng
C a 2n
(3) Cây cao 150 cm chứa 3 alen trội chiếm 2 n = 7/32 → (3) Đúng
2
(4) Ở F2 có 34 = 81 kiểu gen → (4) Đúng
Vậy ta chon → đáp án B
Câu 7: Ở một loài thực vật, tính trạng chiều cao cây do ba cặp gen (A,a; B,b;
D,d) tương tác cộng gộp quy định, trong đó mỗi alen trội làm chiều cao cây tăng
thêm 10 cm. Phép lai cây cao nhất có chiều cao 210 cm với cây thấp nhất ở (P)
thu được F1. Cho F1 lai với cây có chiều cao 170cm thu được F 2, Theo lí thuyết,
có bao nhiêu phát biểu sau đây đúng ?
12
(1) Ở F2 không có cây nào cao 210cm.
Các alen lặn đột biến k, l, m đều không tạo ra được các enzim K, L và M tương
ứng. Khi các sắc tố không được hình thành thì hoa có màu trắng. Cho cây hoa
đỏ đồng hợp tử về cả ba cặp gen giao phấn với cây hoa trắng đồng hợp tử về ba
cặp gen lặn, thu được F1. Cho các cây F1 giao phấn với nhau, thu được F 2. Biết
rằng không xảy ra đột biến, theo lí thuyết, trong các phát biểu sau về F 2 có bao
nhiêu phát biểu đúng?
(1) Cây hoa vàng có 4 loại kiểu gen.
(2) Số cây hoa trắng chiếm tỉ lệ 7/16.
(3) Cây hoa mang 2 alen trội có 10 loại kiểu gen.
(4) Trong những cây hoa đỏ, cây thần chủng về hai cặp gen chiếm tỉ lệ 1/3.
A. 1.
B. 2.
C. 3.
D. 4.
Với ý (3) bài này ta áp dụng công thức 2 dễ dàng suy ra số loại kiểu gen là 10
c. Từ số loại kiểu hình suy ra số loại kiểu gen trong các bài toán tương tác
cộng gộp.
Câu 9. Ở một loài thực vật, tính trạng chiều cao cây do các gen trội nằm trên các
cặp nhiễm sắc thể khác nhau tương tác cộng gộp với nhau quy định. Phép lai
(P): cây cao nhất × cây thấp nhất thu được F 1. Cho các cây F1 tự thụ phấn thu
được F2 có 9 loại kiểu hình. Trong các kiểu hình ở F 2, kiểu hình thấp nhất cao 70
cm; kiểu hình cao 90 cm chiếm tỉ lệ nhiều nhất. Biết rằng không xảy ra đột biến.
Theo lí thuyết, có bao nhiêu phát biểu sau dây đúng?
(1) Ở F2 cây cao nhất có chiều cao 100 cm.
(2) Ở F2 cây mang 2 alen trội có 10 loại kiểu gen .
(3) Ở F2 cây có chiều cao 90 cm chiếm tỉ lệ 27,34%.
(4) Ở F2 có 27 loại kiểu gen.
A. 2.
B. 3.
C. 4.
D. 1.
Từ 7 loại kiểu hình, sử dụng công thức số 3 ta có:
Số kiểu hình = 2*n +1. ( trong đó n là số cặp gen dị hợp)
Ta có 7 = 2*n +1 → n = 3(AaBbDd)
Khi đã xác định được kiểu gen F1 ta dễ dàng thực hiện được các yêu cầu:
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Với việc triển khai công thức thực hiện như đã nêu trên và tiến hành lấy ý kiến
của đồng nghiêp, của học sinh, theo dõi tinh thần thái độ của học sinh trong quá
trình học tập và qua bài kiểm tra khảo sát đánh giá thì đại bộ phận học sinh trong
lớp dạy đều năm vững được phương pháp, kỹ năng và giải nhanh. Đồng thời có
nhiều học sinh còn có thể tự nghiên cứu sâu hơn các bài tập hay và khó mức vận
dụng cao trong các đề ôn luyện thi THPT QG.
- Thực tế giảng dạy tôi cảm thấy rất tự tin vì tất cả các bài toán đều được giải
hết sức cụ thể, dễ hiểu gắn gọn Ví dụ minh hoạ rõ ràng. Và đã đạt được những
kết quả nhất định: học sinh tích cực tham gia giải bài tập, nhiều em tiến bộ
nhanh, nắm vững kiến thức cơ bản và nâng cao tạo hứng thú say mê học tập
trong bộ môn Sinh học. Từ đó phát huy được khả năng tự giác, tích cực của học
sinh, giúp các em bồi dưỡng khả năng tự học và sáng tạo các phương pháp giải
nhanh cho các dạng toán khác trong chương trình.
- Với cơ sở lý thuyết, công thức mới xây dựng tỉ mỉ, khoa học, chính xác giúp
cho đồng nghiệp, học sinh hiểu sâu sắc một số công thức tính nhanh mà lâu nay
vẫn làm theo kiểu thông thường mất rất nhiều thời gian.
14
- Sáng kiến này cũng giúp học sinh tự tin, yêu thích môn Sinh học hơn đặc biệt
+ Đối với sở giáo dục thì nên triển khai rộng rãi những sáng kiến được ngành
xếp giải cho anh chị em giáo viên trong tỉnh được tham khảo, mở mang thêm
kiến thức kỹ năng.
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Nga Sơn, ngày 25 tháng 05 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người viết SKKN
Mai Xuân Hội
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Đề thi đại học, cao đẳng các năm
2) Sách giáo khoa, Sách giáo viên Sinh học 12 – NXB GD.
3) Đề thi thử đại học, THPT Quôc Gia của các trường THPT trên cả nước
16