Kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống và vận dụng kỹ năng sống để viết văn nghị luận xã hội cho học sinh qua truyện cười “tam đại con gà”, chương trình ngữ văn 10, ban cơ bản - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT THỌ XUÂN 5

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
VÀ VẬN DỤNG KỸ NĂNG SỐNG
ĐỂ VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH
QUA TRUYỆN CƯỜI “TAM ĐẠI CON GÀ”,
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10, BAN CƠ BẢN

Người thực hiện:
Ngô Văn Hoà
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

THANH HOÁ NĂM 2017

1


MỤC LỤC
TT
1.
2.
3.
4.
5.
6.

2
3
3
3
4
5
5
5
7
10
11
13
14

1. MỞ ĐẦU
2


1.1. Lí do chọn đề tài
Trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam nói riêng và bối cảnh toàn
cầu nói chung, càng ngày chúng ta càng nhận ra tầm quan trọng của việc học các
kỹ năng sống để ứng phó với sự thay đổi, biến động của môi trường kinh tế - xã
hội và thiên nhiên. Ðặc biệt với học sinh, việc trang bị kỹ năng sống càng trở
nên bức thiết, bởi đây là yếu tố không thể thiếu, để giúp các em biết định hướng
phát triển cá nhân một cách tốt nhất. Có thể nói kĩ năng sống chính là những
nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi, thói quen tích
cực, lành mạnh. Người có kĩ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những
khó khăn thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù
hợp; luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình. Không những thúc đẩy
sự phát triển cá nhân, kĩ năng sống còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã



Trong phạm vi đề tài, tôi chỉ trình bày kinh nghiệm của cá nhân ở một
truyện cười, cụ thể là truyện “Tam đại con gà” trong chương trình Ngữ văn 10,
Ban cơ bản và áp dụng cho một đối tượng cụ thể là học sinh trường THPT Thọ
Xuân 5 - Thọ Xuân.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tự nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Tôi chủ động tìm
hiểu các tài liệu về phương pháp, cách thức giáo dục kỹ năng sống và kỹ năng
viết văn nghị luận cho học sinh để đúc rút kinh nghiệm cho đề tài này.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Để có cơ sở
cho việc áp dụng phương pháp và kinh nghiệm này, tôi đã tổ chức điều tra, khảo
sát, thu thập thông tin về thực tế dạy học liên quan đến đề tài của mình ở các lớp
10 trường THPT Thọ Xuân 5 và một số lớp 10 trường THPT Lam Kinh
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Qua việc khảo sát, thu thập thông
tin, tôi đã tiến hành xử lí số liệu, thống kê đối chiếu kết quả trước và sau khi áp
dụng đề tài để rút kinh nghiệm và khẳng định tính thực tiễn và hiệu quả của đề
tài.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận.
- Khi bàn về quá trình dạy học và những chức năng cơ bản của nhà
trường, có ý kiến cho rằng: “Quá trình dạy học và quá trình giáo dục là những
bộ phận của quá trình sư phạm toàn diện, thống nhất. Nhà trường phải thực hiện
chức năng kép vừa dạy chữ vừa dạy làm người cho học sinh, nghĩa là vừa trang
bị cho các em kiến thức để hòa nhập, để tiếp tục học lên, đồng thời vừa hình
thành nhân cách, đạo đức để các em có thể sống và phát triển được trong xã hội
luôn biến động như ngày nay. Để nâng cao chất lượng giáo dục, người dạy cần
am hiểu và biết cách tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Kĩ năng sống
đã trở thành một hợp phần quan trọng trong nhân cách con người sống xã hội
hiện đại” [4]. Vì thế, giáo dục kỹ năng sống đang trở thành vấn đề cấp thiết với

[6]. Điều đó có thể thấy, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong giai đoạn
hiện nay đang còn nhiều khiếm khuyết và cần sự quan tâm đúng mức hơn.
- Thực tế cho thấy, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh hiện nay được quan
tâm nhiều hơn. Cơ hội thực hiện giáo dục kỹ năng sống rất nhiều và rất đa dạng.
Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục kỹ năng sống với các hoạt động giáo dục vốn đã
được lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay, tạo nhiều cơ hội và
điều kiện để triển khai giáo dục kỹ năng sống. Tuy nhiên, kỹ năng sống của học
sinh còn nhiều khiếm khuyết. Tình trạng học sinh thiếu kỹ năng sống còn phổ
biến, việc ứng phó với các tình huống trong cuộc sống còn hạn chế, nhìn nhận
vấn đề xã hội một cách phiến diện, xử lí thông tin trong thực tế còn yếu,…. [4]
- Trên thực tế khảo sát tại trường THPT Thọ Xuân 5 và THPT Lam Kinh về
giáo dục kỹ năng sống và giảng dạy lồng ghép kỹ năng sống qua các bài học, tôi
thấy, do quỹ thời gian cho hoạt động ngoài giờ lên lớp hạn chế nên các hoạt
động giáo dục kỹ năng sống được thực hiện không thường xuyên. Còn trong tiết
dạy, giáo viên phải chạy theo thời gian của tiết học, phải chuyển tải nhiều nội
dung trong khi thời gian có hạn, giáo viên có khuynh hướng tập trung cung cấp
kiến thức mà ít quan tâm rèn luyện kỹ năng cho học sinh, nhất là kỹ năng ứng
xử với xã hội, ứng phó và hòa nhập với cuộc sống.
- Về thực tế giảng dạy truyện cười dân gian hướng đến giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh, tôi thấy:
+ Giáo viên thực hiện tiết dạy theo hướng tập trung khai thác các tình
huống gây cười, nhân vật bị phê phán rồi nêu bật ý nghĩa giá trị tác phẩm mà ít
quan tâm đến nội dung giáo dục cách nhìn nhận, đánh giá về sự việc, hiện
tượng, nhân vật cho học sinh. Việc lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh gần như không thực hiện hoặc có cũng rất sơ lược.
+ Đối với học sinh: Việc học truyện cười dân gian thường tạo cảm giác
thoải mái, vui vẻ nên các em gần như không để ý đến tác dụng định hướng kỹ
năng sống. Đặc biệt là chưa bao giờ quan tâm về việc áp dụng các kỹ năng sống
thu nhận được để viết văn nghị luận xã hội sau này.
5

trí hoặc khuyết tật của người khác, chủ yếu nhằm mua vui, giải trí. [1], [2]
- Truyện trào phúng: Kể về những thói hư tật xấu của con người, đi ngược
lại với quan điểm đạo đức của nhân dân như thói lười biếng, giấu dốt, tham
nhũng,... [1], [2]
II. Đọc hiểu truyện cười Tam đại con gà
1. Nhân vật thầy đồ
a. Mâu thuẫn của nhân vật
Câu hỏi: Nhân vật thầy đồ được giới thiệu là người như thế nào ?
- Được giới thiệu khái quát qua mấy dòng đầu của truyện:
+ Người dốt nát lại hay nói chữ, đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt
+ Có người tưởng thật đón về dạy trẻ.
=> Điều trái tự nhiên là: Dốt nát lại làm ra vẻ là giỏi. Đây là mâu thuẫn
của nhân vật. Và mâu thuẫn này sẽ được bộ lộ trong quá trình nhân vật tham gia
các tình huống, sự kiện của truyện, từ đó làm nảy sinh tiếng cười và ý nghĩa, giá
trị của truyện.
6


b. Quá trình tự bộc lộ mâu thuẫn và cái dốt:
- Tình huống thứ nhất:
+ Gặp chữ kê nghĩa là gà trong sách Tam thiên tự thầy không biết nhưng
học trò hỏi gấp.
+ Xử lí tình huống: Thầy đành nói bừa đó là chữ Dủ dỉ là con dù dì.
+ Nhân vật tự bộc lộ: Là kẻ dốt nát (đến những chữ cơ bản nhất trong
sách dạy trẻ cũng không biết), lại còn giấu dốt và liều lĩnh.
- Tình huống thứ hai:
+ Thầy cũng tự thấy mình dốt, lòng thấp thỏm nên cho học trò đọc khẽ.
+ Xử lí tình huống: Thầy đến khấn thổ công và xin ba đài âm dương để
xem có phải chữ dủ dỉ không. Cả ba đài được cả. Thầy đắc chí, ung dung cho
học trò đọc to.

- Ở tình huống thứ hai:
7


+ Ý nghĩa phê phán: Phê phán những kẻ dốt nát, lại mê tín và liều lĩnh,
hành động thiếu cơ sở khoa học. Đồng thời, cũng phê phán những kẻ nhận thức
đúng đắn nhưng hành động lại trái ngược.
+ Bài học rút ra: Nhận thức và hành động luôn phải thống nhất để đi đến
thành công. Trong việc xử lí các tình huống của cuộc sống phải trên cơ sở khoa
học, thực tế.
- Ở tình huống thứ 3:
+ Ý nghĩa phê phán: Phê phán những kẻ dốt nát mà lại chống chế, huênh
hoang.
+ Bài học rút ra: Con người không huênh hoang giấu dốt mà luôn cần
khiêm tốn học hỏi.
- Ở tình huống thứ 4:
+ Ý nghĩa phê phán là: Phê phán những kẻ kém hiểu biết sách vở, lại kém
hiểu biết thực tế nhưng lại huênh hoang văn hay chữ tốt, liều lĩnh dạy đời bằng
những ngôn từ phi lí.
+ Bài học rút ra: Con người luôn cần có những hiểu biết phong phú cả về
sách vở lẫn thực tế cuộc sống để có thể thành công trong cuộc sống. Khi thuyết
phục người khác một vấn đề nào đó cần có cơ sở và hiểu biết chắc chắn, thực tế,
khoa học.
2.3.3. Bước thứ ba: Vận dụng giá trị, ý nghĩa và bài học của truyện vào thực
tế cuộc sống để rèn luyện kỹ năng sống.
Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận theo nhóm để phát hiện những kỹ
năng sống cần thiết đã tiếp thu được thông qua bài học. Giáo viên cần kết luận
những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất: Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin.
- Người đón thầy đồ về dạy chữ cho con đã không tìm hiểu trước về thầy

xử lí của thầy lại là chuyện khác. Nhưng, nhận thức được bản thân mình như
thầy đồ cũng là bài học đáng quan tâm và học tập.
- Từ đó có thể kết luận với học sinh: Tự nhận thức luôn là kỹ năng cần
thiết để biết mình đang ở đâu trong xã hội, trong công việc hoặc một lĩnh vực cụ
thể. Rèn luyện kỹ năng này, cùng với ý chí tiến thủ và học hỏi không ngừng sẽ
giúp mỗi người không ngừng vươn lên trong cuộc sống và đạt tới ước mơ của
mình.
Thứ ba: Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ.
- Nhân vật thầy đồ thực sự có biết đến kĩ năng này, khi thầy không biết cái
chữ mà học trò đang hỏi là gì, thầy quyết định liều lĩnh đó là chữ Dủ dỉ là con
dù dì. Tuy nhiên, thầy đồ không dám chắc nên bảo học trò đọc nhỏ. Để chắc
chắn, thầy đồ đã tìm kiếm sự hỗ trợ, đã tìm đến bàn thờ thổ công khấn xin ba đài
âm dương xem chữ đó có đúng như thầy đang dạy hay không. Như thế có thể
thấy, kỹ năng tìm kiếm hỗ trợ trong bất cứ tình huống nào cũng quan trọng để
giúp chúng ta giải quyết các tình huống của cuộc sống.
- Điều đáng nói là, thầy đồ đã tìm kiến sự hỗ trợ không phải bởi những
người hiểu biết hơn hoặc những cơ sở khoa học và thực tế đáng tin cậy, thầy đồ
đã tìm sự hỗ trợ từ một nhân vật chỉ có tính biểu tượng tâm tinh và bằng phương
pháp mê tín, siêu hình. Do vậy, kết quả là thầy đồ đã thực sự thất bại và bộc lộ
sự dốt nát, liều lĩnh, kém hiểu biết và mê tín của mình.
- Từ đó, giáo viên có thể kết luận: Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta
gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người
khác. Nên, rèn luyện kỹ năng tìm kiến sự hỗ trợ là tất yếu trong xu thế hội nhập
và toàn cầu hóa như hiện nay. Tuy nhiên, không phải sự hỗ trợ nào cũng giúp
ích cho mỗi người. Tìm kiếm sự hỗ trợ phải đi liền với khả năng nhận thức, hiểu
biết, xử lí thông tin mới đem lại hiệu quả và giúp ích cho mỗi người, chứ tìm
kiến sự hỗ trợ theo cách của thầy đồ trong truyện là hoàn toàn sai lầm trong cuộc
sống. Học sinh cần nhớ, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ cần dựa trên các yếu tố [7]:
+ Ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ.
+ Biết xác định được những địa chỉ đáng tin cậy.

+ Về nhược điểm: Nhân vật chủ nhà có nhiều nhược điểm, nhưng cơ bản
nhất là trong cách nhìn nhận, đánh giá con người và tìm hiểu, xử lí thông tin về
sự việc, hiện tượng trước khi đưa ra quyết định. Cụ thể, nhân vật đã không tìm
hiểu kĩ về nhân vật thầy đồ trước khi mời thầy đồ ấy về dạy chữ cho con mình.
Kết quả như ta biết, chủ nhà đã mời phải một thầy đồ dốt nát, liều lĩnh, huênh
hoang.
+ Theo quan điểm toàn diện có thể thấy: Nhân vật chủ nhà là biểu hiện
của cái nhìn phiến diện, một chiều về các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống, là
cách nhìn nhận sự việc và cách làm việc quan liêu, chủ quan, phiến diện.
Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận và cho biết quan điểm về nhân vật
thầy đồ theo hai hướng là: Những ưu điểm và hạn chế của nhân vật. Sau khi học
sinh thảo luận, đưa ý kiến, giáo viên cần định hướng cho học sinh có cái đánh
giá về nhân vật này với các nội dung cơ bản như sau:
- Về những ưu điểm và hạn chế cơ bản, tổng thể của nhân vật thầy đồ
+ Về ưu điểm của nhân vật:
Một là: Thầy đồ đã nhận thức được bản thân mình (biết mình): Thầy đồ
luôn biết mình dốt.
10


Hai là: Thầy đồ đã có những phản ứng nhanh, kịp thời trước các tình
huống của cuộc sống, như bị học trò hỏi chữ hay trước những chất vấn về chữ
nghĩa của chủ nhà.
+ Về nhược điểm: Dễ nhận thấy là sự huênh hoang, dốt nát, liều lĩnh, giấu
dốt, mê tín, chống chế phi lí, thiếu hiểu biết thực tế,….
+ Từ đó có thể thấy: Truyện dù tập trung phê phán nhân vật thầy đồ dốt
nát, giấu dốt, liều lĩnh nhưng ta vẫn thấy những điểm tích cực của nhân vật và có
thể giúp ta vận dụng trong cuộc sống.
- Từ cách xem xét về hai nhân vật trên, ta có thể thấy rằng, trong cách
đánh giá, nhìn nhận một con người, một vấn đề của cuộc sống luôn cần có cái

dụng kỹ năng đã học và kỹ năng thu nhận được qua truyện cười Tam đại con gà
để thể hiện suy nghĩ về sự việc hiện tượng trong cuộc sống thì hầu hết các em
11


chỉ viết bài theo quan điểm và cách nhìn một chiều hoặc ngợi khen hoặc phê
phán.
- Ở lớp 10C4 (lớp định hướng xã hội) và 10C5 (lớp đại trà) của nhà
trường, tôi đã dạy bằng sáng kiến này. Cụ thể là:
+ Tôi sử dụng phương pháp như đã trình bày ở trên, với yêu cầu nhận xét
về nhân vật thầy đồ. Kết quả, phần nhiều học sinh đều nhận xét thầy đồ với hai
mặt ưu điểm và nhược điểm.
+ Với bài thực hành về nghị luận xã hội, tôi cũng thu được kết quả là:
Phần nhiều học sinh có cái nhìn tổng thể, toàn diện, đa chiều về sự việc hiện
tượng, nghĩa là có khen, chê phù hợp, có đánh giá ưu điểm, hạn chế của vấn đề.
Chẳng hạn, tôi cho các em thể hiện suy nghĩ về sự việc: Năm 2013, em
học sinh lớp 11 là Nguyễn Văn Nam ở Nghệ An đã liều mình cứu được 4 em
nhỏ đuối nước, nhưng vì kiệt sức mà còn cố gắng cứu nốt em nhỏ thứ 5 đang
chới với giữa dòng. Em Nam đã bị dòng nước lũ cuốn đi cùng với em nhỏ thứ 5
kia.
Trong bài viết của các em lớp 10C3, các em đều bày tỏ sự cảm phục,
thương yêu đối với nhân vật. Còn ở lớp 10C4 và 10C5, hầu hết đều có cái nhìn
hai chiều về hành động của học sinh Nguyễn Văn Nam là: Trong đó khen ngợi,
cảm phục học sinh ấy rất nhiều, nhưng có nhiều bài viết đã bày tỏ thái đó tiếc
nuối (có ý phê bình) khi thấy học sinh Nam đã đã không biết lượng đúng sức
mình, dẫn đến kết quả là không cứu thêm được người khác và cũng không bảo
vệ được chính mình.
- Như vậy, ở một góc độ nhất định, tôi thấy rằng, từ việc được hướng dẫn
cách nhìn nhận và đánh giá toàn diện về nhân vật thầy đồ ở trên, cùng với việc
hình thành, định hướng và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, những học sinh


5/43

30/43

8/43

5/43

25/43

10/43

3/43

10C4 (áp dụng SK) 15/44 27/44 2/44 20/44
10C5 (áp dụng SK) 10/45 30/45 5/45 10/45
2.4.2. Đối với bản thân, đồng nghiệp nhà trường.

20/44
30/45

3/44
3/45

1/44
2/45

SK)


còn có thể áp dụng cho các bài học tương tự ở các khối lớp khác. Vì vậy, tôi
mạnh dạn trình bày cùng đồng nghiệp để được trao đổi, rút kinh nghiệm cho
việc đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh. Mong được đồng nghiệp góp ý để được hoàn thiện
hơn.
- Kiến nghị: Không.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 22 tháng 5 năm
2017
Tôi xin cam đoan sáng kiến này là do
tôi tự viết, nếu sai, tôi hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Tác giả

13


Ngô Văn Hòa

TÀI LIỆU THAM KHẢO (TLTK)
1. SGK Ngữ văn 10, tập I, II, NXB Giáo dục, 2008.
2. SGK Ngữ văn 10 Nâng cao, tập I, II, NXB Giáo dục, 2008.
3. SGV Ngữ văn 10, tập I, II, NXB Giáo dục, 2008.
4. Nguyễn Khánh Trung – Giáo dục cổ truyền và giáo dục hiện đại.
5. Luật Giáo dục.
6. Thông báo 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị (khóa X).
7. 21 nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, trích “Giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh”. NXB GD.
14


Thanh
11, Ban cơ bản nhằm phát huy tính
Hóa
tích cực, chủ động của học sinh.

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status