SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI :
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH CÓ LỰC HỌC
TRUNG BÌNH VÀ YẾU KHỐI 12
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hương
Chức vụ : Giáo viên
SKKN thuộc môn : Ngữ văn
THANH HÓA, NĂM 2016
MỤC LỤC
tran
Nội dung
A. MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
2
2. Mục đích nghiên cứu
2. Đoạn văn nghị luận
3
II. Thực trạng của vấn đề
3
1. Yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay.
3
2. Thực trạng dạy và học làm văn ở các trường THPT
4
3. Thực trạng dạy và học Làm văn ở trường THPT Thạch Thành 3
5
III. Giải pháp rèn luyện kĩ năng phân tích đề và lập dàn ý trong
bài văn nghị luận xã hội.
7
Cung cấp lý thuyết về văn nghị luận xã hội
7
1.
Lý do chọn đề tài:
Trong chương trình THPT, phân môn Làm văn được chia làm hai kiểu bài:
Nghị luận văn học và Nghị luận xã hội. Bài Nghị luận văn học giúp học sinh
cảm thụ, phân tích, đánh giá một áng văn thơ, những nhân vật trong tác phẩm
văn học. Việc rèn luyện kiểu bài này rất cần thiết cho học sinh khi làm các bài
kiểm tra, bài thi nhưng lại ít cần thiết khi người học vào đời. Bài Nghị luận xã
hội rèn luyện cho học sinh cách nhìn nhận, kiến giải, trình bày những ý kiến
riêng về một vấn đề tư tưởng, đạo lý hoặc một vấn đề xã hội đáng quan tâm.
Việc rèn luyện kiểu bài này không chỉ cần cho học sinh trong các bài kiểm tra,
bài thi mà còn giúp ích cho người học khi bước vào đời.
Tập trung vào kiểu bài Nghị luận xã hội là một nỗ lực đổi mới chương trình
Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay. Kiểu bài nghị luận xã hội đề cập và
có liên quan đến nhiều phương diện của đời sống. Thông thường những nội
dung được đề cập đến là những vấn đề nổi bật, tạo được sự chú ý và tác động
đến đời sống xã hội. Không chỉ đề cập đến những vấn đề tốt đẹp, tích cực trong
xã hội mà kiểu bài Nghị luận xã hội còn lưu ý học sinh đến những vấn đề tiêu
cực, đang bị xã hội lên án và phê phán. Với dạng bài Nghị luận xã hội, học sinh
cần làm rõ vấn đề nghị luận, từ đó thể hiện thái độ, sự đánh giá của bản thân
cũng như đề xuất các ý kiến, giải pháp trước vấn đề xã hội được nêu ra.
Từ năm 2009, trong cấu trúc đề thi đã quy định có câu Nghị luận xã hội.
Trong cấu trúc đề thi, câu hỏi về Nghị luận xã hội chiếm 3 điểm trong thang
điểm 10 của toàn đề và tập trung vào hai dạng chính là tư tưởng, đạo lý và hiện
tượng đời sống. Tuy nhiên, viết văn Nghị luận xã hội không phải là chuyện dễ
dàng. Đối với học sinh, một trong những vấn đề bối rối khi làm bài thi là viết bài
văn Nghị luận xã hội ngắn (khoảng 400 – 600 từ). Tuy chỉ chiếm 3/10 điểm
toàn đề thi nhưng đây cũng là một phần quan trọng đối với những học sinh trung
bình – yếu.
Làm thế nào để học sinh viết được những bài Nghị luận xã hội lôgic, trôi
độ tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong việc viết bài văn nghị
luận hoàn chỉnh, đảm bảo đúng yêu cầu mà vẫn hay, thu hút và lôi cuốn người
đọc, người nghe.
5.
6.
-
-
Phương pháp nghiên cứu:
Nhóm phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích, thống kê, phương pháp thu
thập và xử lý số liệu.
Nhóm phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Dự kiến đóng góp của đề tài:
Về lý luận: Góp phần hệ thống hóa lý luận về dạy học Làm văn THPT nói chung
và văn nghị luận xã hội nói riêng trong chương trình Ngữ văn 12, đồng thời, góp
thêm cơ sở khoa học cho việc đổi mới phương pháp dạy và học làm văn ở nhà
trường THPT.
Về thực tiễn: Đề xuất cách thức rèn luyện kĩ năng nhận diện và viết văn nghị
luận xã hội cho học sinh THPT; giúp giáo viên thuận lợi hơn trong quá trình rèn
luyện cho học sinh trung bình – yếu lớp 12 viết văn nghị luận xã hội.
B. PHẦN NỘI DUNG
I.
Cơ sở lý luận
1. Khái quát về văn nghị luận:
văn bản.
II. Thực trạng và những mâu thuẫn.
1 Yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay.
Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn
luôn được các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu. Nhiều phương pháp, biện
pháp mới liên tục được đưa ra dù có khác nhau nhưng đều khẳng định vai trò
của người học là chủ thể của nhận thức tích cực trong quá trình học tập. Đổi mới
phương pháp dạy và học văn theo định hướng coi học sinh là chủ thể sáng tạo
phải là sự thay đổi toàn diện và đồng bộ. Hơn nữa, mục tiêu chính của dạy văn ở
cấp trung học phổ thông là dạy người, dạy cho học sinh cách sống, cách cảm,
cách nghĩ và kĩ năng giao tiếp. Sẽ không thể giao tiếp tốt nếu học sinh không
thông thạo bốn kĩ năng: nghe – nói – đọc – viết. Chính vì vậy, đổi mới phương
pháp dạy học văn ở trường phổ thông không thể không hướng đến rèn luyện cho
học sinh kĩ năng “viết”.
Làm văn là môn học mang tính chất thực hành tổng hợp. Khi làm bài tập làm
văn, học sinh phải huy động cả năng lực quan sát, trí nhớ, vốn sống và khả năng
tư duy của mình để nội dung bài làm có được nét tinh tế, những vẻ sinh động và
một phong cách riêng. Mỗi bài tập làm văn có thể coi là một “tác phẩm nhỏ” của
học sinh. Tác phẩm ấy phản ánh khá rõ ràng nhận thức, tình cảm của học sinh
đối với vấn đề văn học và cuộc sống. Nó cũng phản ánh khá rõ năng lực và tư
duy, trình độ ngôn ngữ và một phần cá tính của học sinh.
2.
Thực trạng dạy và học làm văn ở các trường THPT
Làm văn là một phân môn khó vì nó đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến
thức đã được học ở các phân môn đọc văn và tiếng Việt vào việc làm văn. Mặt
khác, ý thức học môn văn của học sinh chưa cao và cũng có trường hợp giáo
kiến thức xã hội. Điều này các em phải tự tích lũy theo thời gian vì không ai trực
tiếp dạy cho các em. Vì thế, học sinh ngại tìm hiểu về các vấn đề xã hội. Mà
thiếu kiến thức thực tế, chắc chắn học sinh không thể làm tốt bài văn nghị luận
xã hội.
3.
Thực trạng dạy và học Làm văn ở trường THPT Thạch Thành 3
Trường THPT Thạch Thành 3 là một trường miền núi, chất lượng học sinh
đầu vào rất thấp, đặc biệt là môn Ngữ văn. Các em chưa có kĩ năng nhận diện đề
và làm bài nên lúng túng nghĩ gì viết đó, không phân tích đề hoặc lập dàn ý
thậm chí, khi làm văn nghị luận xã hội, các em để giấy trắng. Nhiều học sinh
còn chưa nhận ra mức độ khó của đề bài nghị luận xã hội nên vẫn tỏ ra xem
thường, một số khác thì tỏ ra hoang mang, lo lắng, không biết làm thế nào để
làm tốt văn nghị luận xã hội. Hơn nữa, một số em, ý thức học tập và rèn luyện
đạo đức kém, có tư tưởng chán học, làm ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập.
Đề nghị luận xã hội là đề mở, đem đến cho học sinh sự hứng khởi khi được
trình bày những suy nghĩ của cá nhân về một câu danh ngôn, một vấn đề cuộc
sống nhưng cũng khiến học sinh lúng túng, thậm chí cảm thấy loại đề này khô
khan, không có cảm hứng để viết. Một số em, chỉ chú trọng vào nghị luận văn
học, các em chỉ cần “qua cầu” môn văn, tìm điểm bù ở các môn tự nhiên hoặc
tìm sự may mắn ở những môn trắc nghiệm.
Để giúp học sinh có thể tìm thấy cho mình một phương pháp học tập có hiệu
quả, biết rèn luyện các kĩ năng viết văn nghị luận xã hội là một vấn đề khó khăn
đối với giáo viên Ngữ văn. Nếu không có một kế hoạch ôn luyện cụ thể thì khó
có thể giúp học sinh ôn tập một cách hiệu quả nhất. Vì thế, đòi hỏi về mặt thời
gian và nhân lực cho việc đầu tư là rất lớn.
Đa số giáo viên Ngữ văn của trường là giáo viên trẻ, hướng dẫn học sinh viết
văn nghị luận xã hội, đôi khi chính giáo viên cũng tỏ ra lúng túng khi phải chỉ ra
những bước cụ thể để giúp học sinh viết một cách thuần thục. Cũng có giáo viên
Viết bài
12A1
50 %
45 %
5%
12A2
50 %
40 %
10 %
12A3
60 %
35 %
5%
12A4
65 %
Khá
%
S
%
L
0
0
4
0
0
5
10.
3
12.
5
Trung bình
Yếu - kém
3
7
12A
4
3
9
0
0
6
0
0
0
16.
2
0
11
16
29.
7
có tính chất khuyên răn như tục ngữ, danh ngôn, nhận định… mang tính chân
lí).
a.
•
•
•
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý.
Khái niệm: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý là việc sử dụng kết hợp các thao
tác nghị luận để bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống,
quan niệm của con người. Vấn đề tư tưởng, đạo lý thường được nêu trong ý
kiến, nhận định của các bậc vĩ nhân hay nhà thơ, nhà văn… hoặc trong ca dao,
tục ngữ.
Ví dụ: Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của
anh (chị) về ý kiến sau: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc
chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa” (Theo sách “Dám thành
công” – nhiều tác giả, NXB trẻ, Tr 90).
Yêu cầu: Hiểu được vấn đề cần nghị luận là gì? Từ vấn đề nghị luận đã xác
định, người viết tiếp tục phân tích, chứng minh những biểu hiện cụ thể của vấn
đề, thậm chí so sánh, bàn bạc, bác bỏ... nghĩa là biết áp dụng nhiều thao tác lập
luận và phải biết rút ra ý nghĩa vấn đề.
Đề tài:
•
Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập…)
Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Khái niệm: Nghị luận về một hiện tượng đời sống là cách sử dụng tổng hợp các
thao tác lập luận để bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với đời sống
xã hội (đáng khen, đáng chê hay có vấn đề cần suy nghĩ), từ đó, làm cho người
đọc hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu sâu để đồng tình hoặc bác bỏ trước những hiện
tượng đó. Ví dụ: (1) Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy
nghĩ của anh (chị) về tính trung thực trong học tập và thi cử.
Ví dụ: (2) Báo Vietnamnet ngày 25/11/2013 đăng bài viết có nhan đề:
“Lòng tự trọng của một sinh viên đánh giày vỉa hè”. Bài báo kể về một sinh
viên nghèo quê ở Quảng Ngãi, học trường Đại học Bưu chính Viễn thông, Thành
phố Hồ Chí Minh. Cậu kiếm sống bằng nghề đánh giày ở các vỉa hè thuộc quận
Thủ Đức. Một buổi sáng chủ nhật, có một khách hàng tốt bụng đã mời cậu uống
cà phê và tặng lại số tiền dư nho nhỏ, vì ông cảm thấy hài lòng khi nhận về đôi
giày vừa được cậu đánh xi cẩn thận. Dù rất khó khăn, nhưng bạn sinh viên ấy
•
•
-
•
vẫn từ chối khoản dư và tự trả tiền cho li cà phê đã uống. Cậu nói: “Con uống
thì con trả, chú cho con đánh giày để có thu nhập là con cám ơn nhiều lắm rồi”
Hãy viết bài văn ngắn (khoảng 400 từ) bày tỏ suy nghĩ của anh
(chị) về ý thức giữ gìn lòng tự trọng qua cách ứng xử của bạn sinh viên trong
câu chuyện trên?
Yêu cầu: Nắm được nội dung, yêu cầu của dạng bài nghị luận về một hiện
tượng đời sống; Cách thức triển khai bài nghị luận về một hiện tượng đời sống;
+ Đề xuất phương hướng phát
huy.
3
+ Đề xuất phương hướng khắc
phục
- Rút ra bài học nhận thức và liên hệ bản thân
Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa của hiện tượng, mở rộng vấn đề.
2. Rèn
luyện kĩ năng nhận diện đề và tìm hiểu đề
Dường như khi hỏi học sinh về lý thuyết các bước làm một bài nghị luận
nói chung, nghị luận xã hội nói riêng, các em đều định hình được 4 bước: Tìm
hiểu đề, tìm ý; Lập dàn ý; Viết bài; Đọc lại bài viết và sửa chữa. Tuy nhiên, khi
tiếp cận một đề làm văn, đa phần các em không tuân thủ 4 bước nói trên. Một số
em cẩn thận cũng chỉ gạch nhanh vài ý ra giấy nháp rồi cắm cúi viết đến khi
trống đánh hết giờ thì nộp bài. Chính vì vậy, có những bài viết lạc đề, diễn đạt
lủng củng, không có trọng tâm, không trau chuốt.
Ở phần trên, người viết đã giới hạn hai dạng đề nghị luận xã hội đó là
dạng nghị luận về tư tưởng, đạo lý và dạng nghị luận về hiện tượng đời sống.
Tuy nhiên, trên thực tế, các đề nghị luận xã hội vô cùng phong phú và đa dạng.
Sự phân chia các dạng đề chỉ mang tính tương đối. Nhiều khi, giới hạn giữa hai
dạng đề nghị luận là rất nhỏ, vì thế, học sinh khó xác định được dạng đề. Do đó,
việc nhận diện đề trước khi tìm hiểu đề và lập dàn ý, cũng như viết thành bài là
hết sức quan trọng. Thao tác này sẽ giúp học sinh định hướng đúng cho bài làm,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân.
Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của đất nước”. Anh (chị) hãy
viết một bài văn ngắn trình bày quan điểm của mình về việc làm thế nào để phát
huy tốt nhất thời vàng son của tuổi trẻ hiện nay?
Các đề bài trên là dạng đề đơn giản, thường gặp nên học sinh có thể dễ dàng
nhận ra dạng đề nhờ các dấu hiệu ngôn ngữ có trong đề bài: các đề (1), (2) thuộc
dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lý. Đối với đề (1) và (2), học sinh nhận
ra dạng đề nghị luận về tư tưởng, đạo lý nhờ các câu nói nằm trong dấu ngoặc
kép. Đề (1) là câu nói của nhà văn Nga, Lép Tôn-xtôi, còn đề (2) là câu nói của
Lâm Ngữ Đường ở Trung Quốc. Yêu cầu của hai đề bài này là bình luận về câu
nói được trích dẫn. Nội dung của hai phát ngôn trên đều thuộc về vấn đề nhận
thức cuộc sống. Như vậy, ở dạng đề đơn giản, học sinh có thể nhận ra kiểu bài
nghị luận về một tư tưởng, đạo lý nhờ vào tín hiệu những nhận định, tư tưởng
được trích dẫn nguyên văn và đặt trong dấu ngoặc kép ở ngay đề bài.
Đối với đề (3) và (4), học sinh nhận ra dạng bài nghị luận về một hiện tượng
đời sống nhờ vào đối tượng được đề cập đến trong đề bài và yêu cầu của đề bài.
Đối tượng được đề cập đến là một sự kiện, một vấn đề đang xảy ra trong cuộc
sống hiện tại. Thông thường, đề bài đơn giản, học sinh có thể dễ dàng xác định
được dạng đề thông qua các từ ngữ như: hiện tượng, vấn đề, vấn nạn… Ở đề (3)
tín hiệu nhận diện là “vấn đề tai nạn giao thông”, ở đề (4) là hiện tượng nghiện
“game”.
Tuy nhiên, đối với đề (5) và (6), vấn đề nhận diện đề không đơn giản. Đối
với đề (5) có trích dẫn câu nói của B. Gates, vế đầu tiên có yêu cầu bàn luận về
câu nói này nhưng ở vế sau của đề bài yêu cầu bàn về trách nhiệm của thế hệ trẻ
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lại là vấn đề về hiện tượng đời
sống. Như vậy, đề bài này vừa là nghị luận về một tư tưởng, đạo lý vừa là nghị
luận về hiện tượng đời sống. Với yêu cầu của đề bài (5), phải giải quyết trọng
tâm là bàn luận về tư tưởng, đạo lý nhiều hơn là hiện tượng đời sống. Tương tự
phải là thao tác của riêng văn nghị luận xã hội mà bất cứ bài làm văn nào cũng
cần thiết phải chú ý. Trước mỗi đề nghị luận, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
đọc kĩ đề, gạch chân những từ ngữ quan trọng và tự đặt ra những câu hỏi như:
Vấn đề đặt ra trong đề bài là gì? Cần sử dụng những thao tác nào để nghị luận?
Để phân tích đề đạt hiệu quả cao, học sinh cần trải qua các bước sau:
Bước 1: Đọc kĩ đề bài. Đây là bước cần thiết để có được những nhận định
chung nhất, những dự cảm đầu tiên về nội dung làm bài và những phương
hướng để giải quyết vấn đề do đề bài nêu ra.
Bước 2: Phân tích, xác định yêu cầu về nội dung và hình thức nghị luận:
-
Xác định rõ ba yêu cầu: (1) Yêu cầu về thể loại; (2) những yêu cầu về nội dung
và (3) yêu cầu về phạm vi dẫn chứng. Đối với đề nghị luận xã hội, yêu cầu (1)
và (3) gần như giống nhau ở các đề bài. Thông thường, yêu cầu (1) là bình luận
còn yêu cầu (3) là dẫn chứng phải lấy từ thực tế cuộc sống, có thể lấy từ sách vở,
văn học nhưng cần hạn chế vì dễ sa vào ngoại đề. Yêu cầu (2) là quan trọng
nhất, đòi hỏi học sinh phải xác định đúng nội dung để đi đúng trọng tâm yêu
cầu.
Ví dụ:
Đề 1: Tục ngữ có câu: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Nhưng cũng
có bạn cho rằng: Nếu không có ý thức học tập thì chắc gì đã có sàng khôn nào?
Hãy chứng minh rằng cả câu tục ngữ và ý kiến trên đều có khía cạnh đúng.
Yêu cầu về nội dung (luận đề): dữ kiện “đi một ngày đàng, học một sàng
khôn” và “Nếu không có ý thức học tập thì chắc gì đã có sàng khôn nào?”
(chứng minh cả câu tục ngữ và ý kiến của bạn đều có khía cạnh đúng).
Đề 2: Suy nghĩ của anh (chị) về lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong
xã hội hiện nay?
Luận đề của đề bài này là vấn đề lòng yêu thương con người của tuổi trẻ
trong xã hội hiện nay.
Đề 3: Trong đoạn trích “Đất Nước” (Trích trường ca “Mặt đường khát
trong thang điểm của các đề thi thường chưa tới 50% so với số điểm tối đa. Có
thể thấy những bài văn này viết lan man, chung chung thành một đoạn chưa
thành bài văn. Thậm chí, giáo viên nhắc nhở nhiều lần cũng chỉ được một số em
chú ý thực sự đến việc tìm luận điểm cho bài viết.
Ở dạng bài nghị luận xã hội, luận điểm chính đã có sẵn trong cấu trúc bài
làm theo yêu cầu của sách giáo khoa. Học sinh chỉ cần tuân theo trình tự các
bước để lập dàn ý. Sau đây, tôi xin mạnh dạn đưa ra một cấu trúc bài làm về thứ
tự các luận điểm trong một bài văn nghị luận xã hội:
•
Đối với dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lý:
Cấu trúc bài văn cần đạt:
Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về tư tưởng, đạo lý cần bàn luận.
Thân Bài: gồm 3 nội dung:
-
Luận điểm 1: Giải thích:
+ Luận cứ: giải thích từ khóa (nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn).
+ Luận cứ: Giải thích từng vế (Nếu tư tưởng, đạo lý có nhiều vế).
+ Luận cứ: Giải thích khái quát nghĩa cả câu.
-
Luận điểm 2: Bàn luận:
+ Luận cứ (phần bình): Phân tích ý nghĩa, tác động, ảnh hưởng của tư tưởng,
đạo lý đối với đời sống con người (mặt đúng).
+ Luận cứ (phần luận): mở rộng vấn đề: Phê phán những thái độ sai trái,
+ Từ đó, ý kiến này ngầm đưa ra dụng ư khuyên răn con người ta muốn có
học vấn cao, phải nỗ lực học tập, tự vượt lên chính mình, kiên trì và chiến thắng
hoàn cảnh khó khăn để học hỏi, hoàn thiện bản thân. Đây là một lời khuyên sâu
sắc, đúng đắn, sáng suốt, có giá trị muôn đời.
+ Luận cứ (phần luận): Phê phán thái độ lười học, tự kiêu, chủ quan trong
học tập. Tình trạng lười học, bỏ học, học giả, học thiếu trung thực hiện nay trong
xã hội, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp khắc phục.
+ Luận cứ: Nêu một số dẫn chứng tiêu biểu: Hồ Chí Minh, Gor-ki...
- Luận điểm: Bài học nhận thức cho bản thân: phải có ý chí, nghị lực để
vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trong học tập.
Kết bài: Khẳng định tính đúng đắn và ý nghĩa triết lý sâu xa của câu nói.
Đề 2: Viết một bài văn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh (chị)
về ý kiến sau của La Roche Fou: “Một quyển sách tốt là một người bạn hiền”
Yêu cầu dàn ý:
Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
Thân bài:
-
Luận điểm: Giải thích:
+ Luận cứ: Thế nào là sách tốt? (là loại sách mở ra cho ta chân trời mới, giúp
ta mở mang kiến thức về nhiều mặt).
+ Luận cứ: Thế nào là bạn hiền? (đó là người bạn có thể giúp ta chia sẻ
những nỗi niềm trong cuộc sống, giúp ta vươn lên trong học tập, cuộc sống).
+ Luận cứ: Tại sao lại ví sách tốt là người bạn hiền (do tác dụng tốt đẹp như
nhau).
-
sống con người – Nêu dẫn chứng cụ thể.
2
+ Luận cứ: Phê phán những
+ Luận cứ: Phân tích nguyên
hiện tượng trái ngược.
nhân của hiện tượng.
+ Luận cứ: Đề xuất phương
+ Luận cứ: Đề xuất phương
hướng phát huy.
hướng khắc phục
3
- Rút ra bài học nhận thức cho bản thân
Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa, mở rộng vấn đề.
Ví dụ:
Đề 1: Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về lòng yêu thương con người của
tuổi trẻ trong xã hội hiện nay?
Yêu cầu cần đạt:
Mở bài: giới thiệu ngắn gọn, khái quát về hiện tượng.
Thân bài
-
Luận điểm: Giải thích: Lòng yêu thương con người là gì?
Luận điểm: Bàn luận:
+ Luận cứ: Biểu hiện lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội?
+ Luận cứ: Ý nghĩa của lòng yêu thương con người?
Kết bài: khái quát, đánh giá lại vấn đề.
Trong quá trình rèn luyện kĩ năng, giáo viên cần nhấn mạnh cho học sinh
nhớ rằng: mỗi luận điểm nên viết thành một đoạn văn riêng biệt, để người đọc
nhận thấy bài làm có luận điểm rõ ràng, mạch lạc và học sinh cũng khắc phục
được hiện trạng viết lan man, không rõ ý hoặc lạc đề.
Việc hướng dẫn học sinh nhận diện đề và phân tích đề, lập dàn ý cho bài
văn nghị luận xã hội trong quá trình ôn tập, kiểm tra có thể giúp các em nhận
diện được yêu cầu của đề bài nhanh hơn, làm bài đạt kết quả cao hơn. Sau khi
hướng dẫn học sinh các thao tác trên, người viết đã khảo sát kết quả về khả năng
nhận diện đề của học sinh như sau:
Mức độ nhận diện
%
Nhận diện và làm bài nhanh, đúng trọng tâm
68.9
Nhận diện và làm bài chậm
24.3
Không nhận diện được đề và cách làm bài
6.8
Tổng số
100.0
CLĐN
Bài
số 1
viết
Bài viết
Bài viết
Thi học kì
số 2
số 3
I
12A1
38.5
56.4
76.9
82.1
92.3
12A2
60.0
89.7
C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận
Đối với môn Ngữ văn, quá trình đổi mới phương pháp dạy học, ngoài việc
tiến hành các hoạt động sư phạm tác động làm cho học sinh cảm nhận, nắm hiểu
những kiến thức về văn học, vấn đề kĩ năng “viết” để trình bày, diễn đạt cảm
xúc, suy nghĩ của bản thân là hết sức quan trọng. Kiến thức và kĩ năng mà môn
Ngữ văn trong nhà trường phổ thông truyền tải là hết sức “tạp mờ”, cần phải có
sự lột tả và dẫn dắt kĩ thuật cụ thể, học sinh mới có thể bắt nhịp làm quen và
sáng tạo được.
Với phương pháp Rèn luyện kĩ năng nhận diện đề, phân tích đề và lập dàn ý
trong bài văn nghị luận xã hội vừa trình bày, tôi xác định đây chỉ là định hướng
để học sinh có kĩ năng viết đúng, đầy đủ yêu cầu trong bài văn nghị luận xã hội.
Bên cạnh đó, tôi khuyến khích tư duy sáng tạo của các em trong quá trình luyện
tập, rèn luyện kĩ năng viết bài cao hơn, hay hơn.
Để học sinh viết tốt bài văn nghị luận xã hội, không chỉ đòi hỏi phương pháp
giảng dạy của người giáo viên mà còn có cả năng khiếu, kĩ năng viết văn vốn có
của học sinh. Tuy nhiên, phương pháp khoa học, phù hợp của giáo viên sẽ góp
phần không nhỏ trong việc nâng cao kết quả học tập của học sinh, nhất là môn
Ngữ văn, một môn vừa đòi hỏi tư duy nhiều, vừa đòi hỏi năng khiếu thiên bẩm
của người học. Vì vậy, theo tôi, đây là một phương pháp bổ ích giúp học sinh
đối tượng trung bình – yếu rèn luyện được cách viết văn, viết tốt được bài văn
nghị luận xã hội.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã áp dụng thành công trong quá
trình giảng dạy. Tôi hy vọng, phương pháp này sẽ được phổ biến và áp dụng
thành công trong tương lai ở nhiều giáo viên khác. Tuy nhiên, đó chỉ là mong
muốn chủ quan của người viết. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
1.
2.
3.
Bảo Quyến, Rèn kĩ năng làm văn nghị luận, NXB Giáo dục, 2007.
Dương Thị Mai Hương - Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh qua các giờ
Làm văn ở nhà trường THPT, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSPHN, 2002.
Đỗ Ngọc Thống, Đổi mới phương pháp dạy học làm văn cấp THPT (tập 1),
NXB Hà Nội, 2001
Hoàng Dục – Trần Văn Vụ, Ôn tập Ngữ văn 12, kiến thức và kĩ năng, NXB Giáo
dục Việt Nam, Hà Nội, 2009.
5. Hoàng Đức Huy, Phương pháp làm văn thuyết minh, nghị luận, NXB ĐHQG.
TPHCM, 2004.
6. Lê Anh Xuân (chủ biên), Rèn kĩ năng làm bài thi tốt nghiệp và bài thi đại học
môn Ngữ văn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009.
7. Lê Anh Xuân (chủ biên), 199 bài văn nghị luận xã hội ngắn, NXB Đại học Quốc
gia Hà Hội, 2009.
8. Lê Đình Mai, Để làm tốt các kiểu bài văn nghị luận, NXBGD, 1996.
9. Nguyễn Đăng Mạnh, Muốn viết được bài văn hay, NXBGD, 2008.
10. Nguyễn Quốc Siêu – Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông, NXBGD, 2005.
11. Phan Trọng Luận, Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 12,
NXB Sư phạm, 2010.
12. Phan Trọng Luận, Thiết kế bài học Ngữ văn 12, NXBGD, 2008.
13. Phan Trọng Luận (chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn 12, NXBGD, 2008.
14. Phan Trọng Luận, Sách giáo viên Ngữ văn 12, NXBGD, 2008.
15. Phan Trọng Luận – Trần Đình Sử, Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo
khoa lớp 12 môn Ngữ văn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008.
16. Phan Quốc Trung, Những bài làm văn nghị luận xã hội chọn lọc, NXB Đại học