Một số cách thức kiểm tra miệng kích thích hứng thú học tập của học sinh ở môn ngữ văn lớp 10 - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT SẦM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ CÁCH THỨC KIỂM TRA MIỆNG KÍCH
THÍCH HỨNG THÚ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở
MÔN NGỮ VĂN LỚP 10

Người thực hiện: Phan Châu Phong
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn

THANH HÓA 2017
1


MỤC LỤC
NỘI DUNG
Bìa chính
Lục mục
I. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.Thực sáng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm
3.Các giải pháp sủ dụng để giải quyết vấn đề



tra bài cũ đầu tiết học là một hình thức kiểm tra quan trọng trong quá trình dạy
học ngữ văn, nó có tác dụng kích thích hứng thú học tập của học sinh, tạo cho
học sinh niềm say mê, học bài cũ và chuẩn bị bài mới, chủ động, tích cực trong
quá trình học bài trên lớp. Nhưng thực tế thì ngược lại, nhiều học sinh không
hứng thú, ngại, chán, thậm chí sợ việc bị kiểm tra miệng. Không ít học sinh có
điểm miệng rồi tự cho rằng thế là xong, không phải học bài cũ, chuẩn bị bài mới,
chủ động, tích cực xây dựng bài nữa. Bởi hình thức kiểm tra miệng trong môn
ngữ văn từ trước đến giờ ít có sự đổi mới, chỉ là giáo viên hỏi lại những đơn vị
kiến thức cũ còn học sinh học thuộc trả lời, đúng, đủ, rõ ràng là điểm cao. Đây là
hình thức trả bài máy móc, hạn chế sáng tạo, kìm hãm sự thể hiện năng lực cá
nhân, gây nhàm chán cho học sinh. Vì vậy việc đổi mới hình thức kiểm tra
miệng trong môn ngữ văn là một yêu cầu thiết thực, cấp thiết trong quá trình dạy
học văn ở bậc trung học phổ thông, đặc biệt là đối với học sinh lớp 10, lớp bản
lề trong việc nuôi dưỡng niềm hứng thú học môn ngữ văn. Ở cấp trung học cơ
sở, học sinh rất coi trọng môn ngữ văn nhưng lên cấp trung học phổ thông thì có
sự thay đổi mạnh mẽ vì học sinh bắt đầu phân hóa theo môn học, đa số các em
chọn học các môn khoa học tự nhiên, một số không học được tự nhiên nên phải
chọn xã hội. Chỉ có số ít học sinh là thực sự hứng thú với các môn khoa học xã
hội. Nếu không tạo được niềm hứng thú cho học sinh từ lớp 10 với môn ngữ văn
thì lên các lớp trên học sinh càng thờ ơ, vô cảm với môn học hơn.
Trước thực tế đó, tôi đã cố gắng tìm và sử dụng một số cách thức kiểm tra miệng
kích thích sự hứng thú của học sinh ở môn Ngữ Văn lớp 10 để giúp các em chủ
động hơn trong học tập, tích luỹ kiến thức, kỹ năng đồng thời tạo không khí sinh
động, cuốn hút, hấp dẫn trong các giờ học.
2. Mục đích nghiên cứu.
Việc đổi mới kiểm ta miệng là để tìm ra những hình thức kiểm tra miệng đa
dạng, phong phú, linh hoặt tạo sự hứng thú cho học sinh; kích thích sự chủ
động, tích cực, sáng tạo của người học ngữ văn trong quá trình chiếm lĩnh

1. Cơ sở lí luận của sang kiến kinh nghiệm
Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp
thời, nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất (Nguyễn Thị Phương Hoa – Lý luận
dạy học hiện đại), thể hiện ở chất lượng học tập của học sinh. Do đó hoặt đông
dạy học phải luôn đi liền với hoặt động kiểm tra đánh giá. Kiểm tra đánh giá
được hiểu là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học để thu
thập những thông tin cần thiết để đánh giá, đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ
phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp các tiêu chí
thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết đinh theo một mục đích
nào đó (J.M.De Ketele)
Mục tiêu của kiểm tra đánh giá nói chung rất quan trọng không chỉ với giáo
viên giảng dạy, với cán bộ quản lí giao dục, mà đặc biệt là với học sinh. Mục
tiêu quan trong nhất của kiểm tra đánh giá là vì sự tiến bộ của học sinh : cung
cấp những thông tin phản hồi giúp học sinh biết mình tiến bộ đến đâu, những
mảng kiến thức, kĩ năng nào có sự tiến bộ, những mảng kiến thức kĩ năng nào
còn yếu để điều chỉnh quá trình dạy và học. phài làm cho học sinh không sợ hãi,
không bị tổn thương để thúc đẩy học sinh nỗ lực. giúp học sinh so sánh phát
hiện mình thay đổi thế nào trên con đường đạt mục tiêu học tập của cá nhân
mình đã đặt ra. Và cần nhận thức rằng đánh giá là một quá trình học tập, diễn
ra trong suốt quá trình dạy hoc. Không chỉ giáo viên biết các cách thức và kĩ
thuật đánh giá mà quan trọng không kém là học sinh phải học được cách đánh
giá của giáo viên, phải biết đánh giá lẫn nhau và tự biết đánh giá kết quả học
tập rèn luyện của mình. (Đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh phổ thông theo
hướng tiếp cận năng lực, PGS, TS Nguyễn Công Khanh)
Kiểm tra thường xuyên, trong đó có kiểm tra miệng, cũng không ngoài mục tiêu
đó, giúp cho giáo viên điều chỉnh, bổ sung những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà
4


môn học đề ra đồng thời sẽ giúp cho học sinh hình thành được động cơ, thái độ

- Xây dựng được hệ thống các biện pháp và hình thức kiểm tra miệng đa dạng,
phong phú, linh hoặt tạo điều kiện cho sự chủ động, tích cực, sáng tạo và hứng
thú của học sinh.
- Câu hỏi đặt ra và các yêu cầu hoặt động cho học sinh phải chính xác, rõ ràng
để học sinh không hiểu thành hai nghĩa khác nhau dẫn đến việc trả lời lạc đề.
- Chuẩn bị đầy đủ các thiết bị, phương tiện dạy học phục vụ cho việc kiểm tra.
- Tạo tâm thế thoải mái, hứng khởi cho học sinh.
3.2. Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra miệng:
5


- Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh có thể bộc lộ một cách tự nhiên đầy đủ
nhất những hiểu biết của các em
- Dựa vào những câu trả lời miệng và hoạt động thực hành của học sinh mà phát
hiện được tình trạng thật của kiến thức và kỹ năng, phẩm chất , năng lực, thái độ
của các em
- Thái độ và cách đối xử của giáo viên với học sinh có ý nghĩa to lớn trong khi
kiểm tra miệng. Giáo viên cần biết lắng nghe câu trả lời, biết theo dõi hoạt động
của học sinh và trên cơ sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của học sinh.
Sự hiểu biết của giáo viên về cá tính học sinh, sự tế nhị và nhạy cảm sư phạm
trong nhiều trường hợp là những yếu tố cơ bản giúp học sinh bộc lộ rõ thực chất
trình độ kiến thức, kỹ năng được kiểm tra.( Thái Duy Tuyên – Phương pháp dạy
học truyền thống và đổi mới. NXB Giáo dục 2008)
- Trong quá trình học sinh đang trả lời câu hỏi có thiếu sót hoặc sai, nếu không
có lí do gì cần thiết giáo viên cũng không nên ngắt lời của học sinh. Cùng là một
sai sót nhưng giáo viên phải biết sai sót nào nên sửa ngay và sai sót nào thì nên
đợi học sinh trả lời xong.
- Nên phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được nhiều
học sinh.
- Khi tổ chức kiểm tra thì giáo viên phải giải quyết các khó khăn lớn sau đây:

3.3.2 Nhập thân vào nhân vật trữ tình để bộc lộ tâm trạng
- Mô tả : yêu cầu học sinh hóa thân vào nhân vật chính của tác phẩm trữ tình để
giãi bầy tâm trạng, nỗi niềm, tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ, ước mơ, khát
vọng...trong một bài thơ, đoạn thơ đã học.
- Mục đích : cách thức này giúp hoc sinh thực sự đồng cảm với nhân vật trữ tình,
bộc lộ được những cảm nhận cá nhân về nhân vật, có điều kiên thuận lợi thể
hiện những cảm nhận sâu sắc mang tính chất khám phá mới mẻ về nhân vật.
- Phạm vi áp dụng : Các bài đọc – hiểu văn bản trữ tình
- VD:
- Hãy hóa thân thành người con gái trong bài ca dao “Khăn thương nhớ” ai
để giãi bầy nỗi nhớ người yêu?
- Biến mình thành Phạm Ngũ Lão để nói lên quan niệm về món nợ công
danh của thân nam nhi trong câu thơ sau : “Công danh nam tử còn vương
nợ”?
- Hãy biến mình thành người chinh phụ trong đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi
của người chinh phụ” để giãi bầy tâm trạng cô đơn khi người chồng đi
chiến trận biền biệt không tin tức?
3.3.3 Đóng vai nhân vật để trả lời phỏng vấn
- Mô tả : yêu cầu một học sinh đóng vai một nhân vật văn học để trả lời phỏng
vấn, một số học sinh khác đóng vai người phỏng vấn.
- Yêu cầu : học sinh đóng vai nhân vật văn học để trả lời phỏng vấn nên là học
sinh khá giỏi, các học sinh khác đóng vai người phỏng vấn phải chuẩn bị hệ
thống câu hỏi chính xác, rõ ràng, trọng tâm, ngắn gọn.
- Mục đích : cách thức này giúp hoc sinh khám phá nhân vật với cách thức mới
mẻ, sinh động, hiện đại; tạo sự hứng thú, hấp dẫn cho học sinh; rèn luyện kĩ
năng làm việc nhóm cho học sinh và cùng lúc kiểm tra được nhiều học sinh.
- Phạm vi áp dụng : Các bài đọc – hiểu văn bản tự sự và trữ tình
- VD:
Phỏng vấn nhân vật Ngô Tử Văn
Hệ thống câu hỏi:

vât văn học hoặc một tác giả vừa học để trao đổi, đối thoại những vấn đề có liên
quan đến bài học mà học sinh quan tâm, hứng thú. Sau đó sẽ trình bầy trước tập
thể lớp.
- Mục đích : cách thức này giúp hoc sinh cảm nhận, khám phá các hiện tượng
văn học một cách chủ động, tự chủ, tích cực, sáng tạo ; rèn luyện kĩ năng chia sẻ
cảm xúc và suy nghĩ với người khác.
- Phạm vi áp dụng : Các bài đọc – hiểu văn bản văn học.
- VD:
Viết thư trao đổi về quan niệm sống với tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Viết một bức thư gửi Thúy Kiều khi cô đang sống cuộc đời kĩ nữ ở lầu xanh
của Tú Bà.
3.3.6 Tập diễn ngâm thơ
- Mô tả : cho học sinh xem clip ngâm thơ mẫu của nghệ sĩ ngâm thơ chuyên
nghiệp về đoan thơ, bài thơ vừa học; gọi học sinh xung phong trình bầy lại; bầu
ban giám khảo đại diện học sinh chấm điểm.

8


- Yêu cầu: chuẩn bị đầy đủ thiết bị dạy học như máy chiếu, loa đài…; giáo viên
phải khéo léo kích thích được sự hứng thú, mạnh dạn của học sinh tránh tâm lí e
thẹn, ngại ngùng của học sinh.
- Mục đích : cách thức này giúp hoc sinh cảm nhận, khám phá sức hấp dẫn của
giọng điệu trong thơ, từ đó khiến các em thích thú hơn khi tìm hiểu các tác phẩm
thơ; rèn luyện kĩ năng đứng trước tập thể.
- Phạm vi áp dụng : Các bài đọc – hiểu văn bản thơ, văn biền ngẫu.
- VD:
+ Diễn ngâm phần một của tác phẩm “Đại Cáo Bình Ngô” (Nguyễn Trãi)?
+ Diễn ngâm đoạn trích “Trao duyên”(Truyện Kiều- Nguyễn Du )?
3.3.7 Đóng hoặt cảnh cho một tình tiết trong tác phẩm

9


+ Phải chăng thái độ dứt khoắt của Từ Hải khi lên đường là biểu hiện của
sự vô tình với người ở lại?
3.3.9 Vẽ bản đồ tư duy cho một vấn đề trong bài học
- Mô tả : giáo viên chia nhóm, yêu cầu học sinh về nhà vẽ bản đồ tư duy cho một
nội dung kiến thức trọng tâm của bài vừa học; hoc sinh thuyết trình trên bảng
vào đầu tiết học kế tiếp; giáo viên kết hợp cùng học sinh đánh giá cho điểm.
- Yêu cầu: bản đồ tư duy vẽ trên giấy A1 bằng nhiều màu sắc khắc nhau, trình
bày hấp, dẫn lôi cuốn. Tiêu chuẩn đánh giá cho điểm hài hòa cả nội dung lẫn
hình thức thể hiện.
- Mục đích : cách thức này giúp hoc sinh củng cố kiến thức vừa học; đa dạng
hóa cách thức ôn bài; rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng thuyết trình, thái
độ tự tin .
- Phạm vi áp dụng :có thể áp dụng cho tất cả các bài học.
- VD:
+ Vẽ bản đồ tư duy: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
+ Vẽ bản đồ tư duy: Đặc trưng của văn học dân gian

3.3.10 Làm việc với phiếu học tập dưới lớp
- Mô tả : giáo viên phát phiếu học tập cho học sinh, yêu cầu học sinh làm việc cá
nhân hoăc theo nhóm; hết thời gian quy định giáo viên gọi một số học sinh đánh
giá, chấm điểm.
- Yêu cầu: yêu cầu của phiếu học tập không quá khó để học sinh không nản chí
buông xuôi; giáo viên cần quan tâm nhiều hơn đến những học sinh thiếu tích
cực.
- Mục đích : cách thức này giúp học sinh làm việc tích cực, hứng thú; giáo viên
có nhiều lựa chọn đối tượng kiểm tra.
- Phạm vi áp dụng : có thể áp dụng cho tất cả các bài học.

giá cho điểm cả hai học sinh.
- Yêu cầu: các câu hỏi trắc nghiêm phải bao quát được những kiến thức trọng
tâm của bài học; các học sinh còn lại trật tự, nghiêm túc theo dõi, không nhắc
nhở; học sinh nhận xét bổ sung phải chờ bạn trả lời hết các câu hỏi mới được
nêu ý kiến.
- Mục đích : cách thức này giúp giáo viên đánh giá khách quan, chính xác khả
năng nắm bắt kiến thức của học sinh ở bài vừa học; tạo điều kiện học sinh tự
đánh giá lẫn nhau dựa trên cơ sở khoa học khách quan.
- Phạm vi áp dụng : có thể áp dụng cho tất cả các bài học.
- VD:
BÀI 2: VĂN BẢN
Câu 1: Điền khuyết: “ ……….vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của họat
động giao tiếp bằng ngôn ngữ.”
a. Văn bản
b. Lời nói
c. Chữ viết
d. Bài viết
Câu 2: Chọn câu trả lời sai.
Muốn tạo ra văn bản người nói, người viết phải xác định rõ:
a. Nội dung thông tin.
b. Mục đích văn bản.
c. Thời gian thông tin.
d. Đối tượng tiếp nhận văn bản.
Câu 3: Đặc điểm nào không phải của văn bản?
a. Văn bản mang tính tập thể cao.
b. Văn bản có tính thống nhất về đề tài, tư tưởng, tình cảm và mục đích.
c. Văn bản có tính hoàn chỉnh về hình thức.
d. Văn bản có tác giả.
Câu 4: Văn bản có tính hoàn chỉnh về hình thức là văn bản thường có bố cục
gồm:

Câu 9: Văn bản văn chương thì có:
a. Tên người với chức danh hoặc tên cơ quan ban hành.
b. Dấu ấn riêng của người viết.
a. Tên tác giả.
b. Chữ kí cuả người viết
Câu 10: Điền khuyết: “ Đề tài, tư tưởng, tình cảm và mục đích là những yếu
tố quy định cách chọn lựa……………………………………………….làm
cho văn bản thống nhất.”
a. Từ ngữ, biện pháp tu từ, ý chính trong câu
b. Từ ngữ, đặt câu và liên kết các câu văn.
c. Từ ngữ, đặt câu và liên kết các đoạn văn
d. Từ ngữ, biện pháp tu từ, đặt câu trong các đoạn văn
Câu 11: Chọn câu trả lời sai trong những câu sau:
a. Văn bản hoàn chỉnh về hình thức là văn bản thường có bố cục gồm ba
phần: mở bài, thân bài, kết bài.
b. Văn bản hoàn chỉnh về hình thức là văn bản có các câu trong từng đoạn
được sắp xếp theo một trình tự hợp lí.
c. Văn bản hoàn chỉnh về hình thức khi các đoạn văn được nối tiếp nhau và
hô ứng nhau, có phương tiện liên kết thích hợp.
d. Văn bản hoàn chỉnh về hình thức là văn bản phải có sự thống nhất về đề
tài, tư tưởng, tình cảm và mục đích.
Câu 12: Nội dung chính của văn bản sau là gì?
“Mừng xuân 1969”
Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to,
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mĩ cút, đánh cho Ngụy nhào,
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc- Nam sum họp xuân nào vui hơn!
Hồ Chí Minh

d. Đồng bào dân tộc thiểu số.
Câu 15: Nội dung của văn bản thường liên quan mật thiết đến:
a. Bố cục của văn bản.
b. Kết cấu của văn bản.
c. Tên văn bản.
d. Hình thức trình bày của văn bản.
ĐÁP ÁN: 1a, 2c, 3a, 4d, 5b, 6d, 7a, 8a, 9b, 10c, 11d, 12a, 13d, 14a, 15c.
3.3.12 Sử dụng câu hỏi liên hệ với thực tế
- Mô tả : giáo viên căn cứ vào đặc điểm của bài học biên soạn những câu hỏi
liên hệ kiến thức của bài học với thực tế đời sống gần gũi với học sinh; học sinh
vận dụng kiến thức của bài học, kiến thức và kinh nghiêm, quan điểm, cách nhìn
của bản thân giải quyết yêu cầu của câu hỏi.
- Yêu cầu: câu hỏi phải có tính chất mở để học sinh có thể tư do bầy tỏ quan
điểm, suy nghĩ, cách nhìn của bản thân.
- Mục đích : cách thức này giúp tránh sự nhàm chán, đơn điệu; giúp học sinh
vận dụng kiến thức vào thực tế đời sống làm cho các em thấy được ý nghĩa thiết
thực của văn học với đời sống .
- Phạm vi áp dụng : có thể áp dụng cho tất cả các bài học.
13


- VD:
+ Từ nỗi đau thân phận của người phụ nữ trong những bài ca dao vừa học,
anh (chi) thấy mình cần làm gì để đảm bảo quyền được bình đẳng của nữ
giới?
+ Từ hiểu biết về tư cách độc lập, tự chủ của Đại Việt được Nguyễn Trãi
khẳng định hùng hồn trong tác phẩm “Đại Cáo Bình Ngô” anh (chị) suy
nghĩ gì về trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ vững chắc nền độc
lập, tự chủ của nước nhà hiện nay?
+ Hành động bán mình chuộc cha của Thúy Kiều khơi gợi cho anh (chị) suy

+ Trò chơi ô chữ về chủ đề tác giả Nguyễn Trãi

14


1
2
3
4
5
6
7
8
9

C
L
Q
C
T
L
B
D


Ô

U
A
R

A
N
A
A

N
V
M
G
G
N
G
C
I

C
I
T
A
U
H
Ô
H

A
Ê
H
Y
Y
T

O

Từ bí mật : NHÂN NGHĨA
3.3.15 Vận dung kiến thức liên môn để giải thích một vấn đề văn học.
- Mô tả: giáo viên suy nghĩ tìm những vấn đề trong bài học có liên quan đến
kiến thức của các môn học khác, sau đó yêu cầu học sinh huy động kiến thức
các môn học liên quan để giải thích cho vấn đề văn học đó một cách khoa học.
- Yêu cầu: các vấn đề cần giải thích phải có giá trị quan trọng, cần tránh đặt câu
hỏi một cách gượng ép, tôn trọng quan điểm và nhận thức của học sinh
- Mục đích: rèn luyện tư duy tổng hợp, đa diện nhiều chiều cho học sinh; giúp
học sinh hiểu đúng, sâu vấn đề; cảm nhận văn học một cách khoa học; phát huy
sự sáng tạo của học sinh
- Phạm vi áp dụng: các bài học đọc hiểu văn bản văn học
VD:
- Vận dụng kiến thức địa lí, lịch sử để giải thích vì sao bài ca dao sau lại sử
dụng hình ảnh tấm lụa đào để so sánh với người phụ nữ:
”Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai ”?
- Vận dụng kiến thức địa lí để giải thích vì sao bức tranh thiên nhiên hè trong
bài thơ “ Cảnh ngày hè”- ( Bảo kính cảnh giới số 43 của Nguyễn Trãi ) lại rực
rỡ sắc màu và tràn trề sức sống?
- Bằng hiểu biết lich sử giải thích vì sao Nguyễn Bỉnh Khiêm lại chọn lối sống
“nhàn”?
3.3.16 Bốc thăm trả lời câu hỏi do học sinh tự xây dựng.
- Mô tả: Sau khi hoc xong một chủ đề, giáo viên yêu cầu học sinh về nhà chuẩn
bị
câu hỏi theo mẫu chung và nộp lại. Giáo viên bỏ tất cả các câu hỏi của học sinh
vào một thùng giấy đặt ở bục giảng, sau đó gọi một số học sinh lên bốc thăm và
trả lời. Rồi gọi học sinh có câu hỏi lên nhận xét. Chấm điểm cả người hỏi lẫn
người trả lời.

1. Các lớp không áp dụng đề tài năm học 2015 - 2016:
- Điểm kiểm tra miệng của các em không cao, có nhiều em bị điểm không (vì
các em lười học bài cũ).
- Điểm trung bình môn của các em thấp hơn.
Số liệu thống kê điểm kiểm tra miệng năm học 2015-2016
Lớp
10A2
10A3

Tổng số
học sinh
52
46

8-10
điểm
7
8

6-7
điểm
8
9

4-5
điểm
18
15

1-3

17

8
13

1
2
16


2. Các lớp có áp dụng đề tài năm học 2016 - 2017:
- Sau một năm áp dụng phương pháp mới này, học sinh lớp 10 năm học 20162017của tôi có điểm kiểm tra miệng cao hơn năm trước, số em bị điểm kém rất
thấp, không có em bị điểm 0
- Điểm trung bình môn cũng được tăng lên rõ rệt.
Số liệu thống kê điểm kiểm tra miệng năm học 2016-2017
Lớp
10A2
10A3

Tổng số
học sinh
49
47

8-10
điểm
18
17

6-7

lên
6
5

6.5 -7.9
22
18

5.0-6.4 3.5-4.9 0-3.4
18
23

3
2

0
6

- Đặc biệt môi trường học tập được cải thiện một cách rõ rệt, học sinh thực sự
tích cực, chủ động trong việc kiểm tra miệng, có tới 90% học sinh hứng thú với
các hình thức kiểm tra miệng mới, không khí học tập môn ngữ văn trở nên sôi
nổi hơn. Từ đó tâm thế của học sinh đối với môn ngữ văn có sự thay đổi rõ rệt,
từ chỗ miễn cưỡng chấp nhận đến chỗ hóa hức mong đợi tiết học.

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết Luận
Vấn đề đổi mới phương pháp giáo dục phải gắn liền với đổi mới kiểm tra đánh
giá trong đó đổi mới kiểm tra miệng là một khâu vô cùng quan trọng và mang
tính cấp bách mà giáo viên phải thực hiện thường xuyên để nâng cao chất lượng
giáo dục và phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh

nhác, học tủ, học vẹt của học sinh, kích thích niềm say mê, hứng thú của học
sinh với bộ môn Ngữ Văn.
- Thư viện nhà trường nên bổ sung thêm nhiều sách tham khảo cho học sinh và
giáo viên.
- Thiết bị dạy học cần được bổ sung thêm cho phong phú, đặc biệt là việc trang
bị máy chiếu cho các phòng học.
- Cán bộ quản lí giáo dục cần thay đổi quan niệm từ tiết học trật tự, nghiêm túc
sang tiết học sôi nổi, có tổ chức.
Trên đây là kinh nghiệm nhỏ bé của tôi trong việc đổi mới kiểm tra miệng đối
với học sinh lớp 10 nhằm góp phần tạo thêm niềm yêu thích của các em với bộ
môn Ngữ Văn, góp phần đổi mới kiểm tra, đánh giá. Rất mong nhận được nhiều
ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tài liệu Tham Khảo
1. Nguyễn Thị Phương Hoa – Lý luận dạy học hiện đại.
2. Thái Duy Tuyên – Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới. NXB Giáo
dục 2008.
3. PGS, TS Nguyễn Công Khanh - Đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh phổ
thông theo hướng tiếp cận năng lực .

18


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa ngày 15/5/2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác
Người viết SKKN:
Phan Châu Phong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status