Một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động cho học sinh qua giờ đọc hiểu văn bản chuyện chức phán sự đền tản viên của nguyễn dữ - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH
CỰC, CHỦ ĐỘNG CHO HỌC SINH QUA GIỜ ĐỌC
HIỂU VĂN BẢN “CHUYỆN CHỨC PHÁN SỰ ĐỀN TẢN
VIÊN” CỦA NGUYỄN DỮ

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn : Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC
TT
I
1.1
1.2
1.3
1.4
II
2.1
2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3

Kết luận
Kiến nghị

Trang
1
1
1
1
1
2
2
3
4
4
5
9
9
10
12
19
20
20
20



I. MỞ ĐẦU
1.1.

Lí do chọn đề tài

1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Việc dạy và học “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” của Nguyễn Dữ
trong Chương trình Ngữ văn 10.
- Học sinh lớp 10 trường THPT Nguyễn Trãi (10A3, 10A4, 10A5) năm học
2016 -2017.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1


Để thực hiện đề tài này, tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê.
II. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Việc đổi mới giáo dục Trung học dựa trên những đường lối, quan điểm chỉ
đạo giáo dục của nhà nước, đó là những định hướng quan trọng trong việc phát
triển và đổi mới giáo dục Trung học. Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của
nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục trung học nói riêng được thể
hiện trong nhiều văn bản:
- Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả
năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [2].
- Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện
giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt, một chiều, ghi nhớ máy
móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người
học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực…”[4].
- Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo

người lao động sáng tạo như tính chủ động, tự giác, tích cực, tính kiên trì vượt khó,
thói quen tự kiểm tra...
Tính tích cực, chủ động học tập thể hiện ở cả hai mặt: tính chuyên cần trong
hành động và tính sâu sắc trong hoạt động các hoạt động trí tuệ. Cách học tích cực
thể hiện trong việc tìm kiếm, xử lý thông tin và vận dụng chúng vào giải quyết các
nhiệm vụ học tập và thực tiễn cuộc sống, thể hiện sự tìm tòi, khám phá vấn đế mới
bằng phương pháp mới, không phải là sao chép, mà là sự sáng tạo của mỗi cá nhân.
Dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh, có tác dụng mạnh mẽ và
to lớn trong quá trình dạy học. Trong dạy học, tạo điều kiện để học sinh chủ động
tiếp thu các kiến thức, kĩ năng, biến những cái đó thành kiên thức, kỹ năng của
mình. Học như vậy, khiến sự hiểu biết của các em vững chắc hơn, hứng thú của các
em sẽ được tăng cường hơn. Dạy học phát huy tính tích cực giúp hoạt động tư duy
của học sinh được khơi dậy và phát triển, giúp hình thành và phát triển các năng lực
hoạt động trí tuệ.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Đổi mới dạy học trong nhà trường phổ thông nói chung và giảng dạy bộ môn
Ngữ Văn nói riêng đang là vấn đề rất quan trọng hiện nay. Nhằm đáp ứng yêu cầu:
“Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động cho học sinh” và hình thành
những kĩ năng sống cần thiết qua từng bài học cụ thể, người thầy luôn trăn trở tìm
tòi đổi mới phương pháp giúp học sinh đạt hiệu quả cao nhất trong tiếp nhận và
cảm thụ tác phẩm văn học. Nhưng làm thế nào để một giờ dạy văn - học văn thực
sự hiệu quả, để cả thầy và trò có một tâm thế thoải mái, hứng khởi và hăng say là
một vấn đề không hề giản đơn.
Khi dạy văn bản “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” (Trích Truyền kì mạn
lục) của Nguyễn Dữ, tôi đã áp dụng một số cách thức nhằm tăng hiệu quả của giờ
học. Trong quá trình thực hiện, tôi nhận thấy các ưu điểm, nhược điểm như sau:
2.2.1.Tiếp cận bài học dựa trên đặc trưng thể loại.
Có thể nói, một giờ đọc hiểu văn bản văn học sẽ chỉ thành công khi người
thầy khai thác và triển khai vấn đề theo đặc trưng thể loại. Giáo viên vừa phải trang
3

giờ học không còn khô cứng, áp đặt, giáo điều mà ngược lại rất mới mẻ và hứng
thú.
b. Hạn chế:
Nhiều tiết học tôi đã được trải nghiệm cho thấy việc ứng dụng công nghệ
thông tin còn nặng về hình thức, mang tính chất trình diễn với nhiều hình ảnh, hiệu
ứng, làm mất thời gian nhưng hiệu quả giờ dạy không cao. Thêm nữa, trong tiến
trình lên lớp với bài giảng điện tử, giáo viên thao tác quá nhanh, học sinh không kịp
ghi bài cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và mức độ hiểu
bài của các em.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

4


2.3.1.Giải pháp 1: Định hướng cho học sinh tìm hiểu kiến thức khái quát về văn
xuôi tự sự trung đại giai đoạn từ thế kỉ XV đến XVII
Văn xuôi tự sự thế kỉ XV đến XVII là một phần quan trọng trong tổng thể
văn học trung đại, một mặt chịu sự chi phối bởi quy luật chung của thời đại và loại
hình, mặt khác có những biểu hiện riêng làm nên sắc điệu độc đáo đáng quan tâm.
Trong quá trình dạy học, bản thân tôi nhận thấy cần trang bị thêm cho học sinh
mảng kiến thức này để học sinh có cái nhìn đầy đủ hơn về phạm vi kiến thức đang
tìm hiểu.
Văn xuôi giai đoạn này thể hiện rõ sức ảnh hưởng của tam giáo: Nho, Phật,
Đạo, tiếp thu văn học dân gian và sử truyện trong bối cảnh thời đại có nhiều biến
động đã góp phần tiếp nối và tạo đà cho sự phát triển của văn xuôi tự sự nói chung.
Ở góc độ xây dựng hình tượng nhân vật, thế giới nhân vật gắn với chủ đề
ngợi ca đạo lý tốt đẹp, phê phán những con người phi nghĩa, tham tàn bạo ngược và
luôn chịu tác động của cảm hứng về con người thế sự.
Ở góc độ phương thức thể hiện, hiện tượng văn vần xen lẫn văn xuôi trở
thành “thương hiệu độc quyền” giai đoạn này, giọng điệu như một sự biểu lộ tình

Trong quá trình dạy học văn bản Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của
Nguyễn Dữ, tôi áp dụng kết hợp đặt cây hỏi và các kĩ thuật khác cụ thể như sau:
a. Hoạt động khởi động: Giáo viên áp dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề, kĩ
thuật động não.
- Giáo viên đưa học sinh nhập cuộc bằng việc giao nhiệm vụ trước để học
sinh tìm hiểu về bối cảnh thời đại dựa trên hiểu biết đã học ở bài Khái quát văn học
trung đại, kiến thức của bộ môn lịch sử bằng các nguồn tư liệu và kiến thức đã có ở
bài học ở chương trình THCS.
- Tích hợp kiến thức cũ: Chương trình Ngữ Văn lớp 9 THCS, học sinh đã
được làm quen với một thiên truyện đặc sắc của Nguyễn Dữ là Chuyện người con
gái Nam Xương trích từ “Truyền kì mạn lục”.
- Trên cơ sở những hiểu biết cơ bản mà học sinh đã, giáo viên dẫn vào bài.
b. Hoạt động hình thành kiến thức
Trong hoạt động tìm hiểu bài mới, tôi đã thiết kế tiến trình bài học như sau:
* Giáo viên tổ chức cho học sinh tìm hiểu chung về bài học.
- Giáo viên tổ chức dạy học theo dự án. Giáo viên giao việc cho học sinh
chuẩn bị bài học ở nhà:
+ Nhóm 1: Tìm hiểu những nét cơ bản về bối cảnh thời đại có ảnh hưởng trực tiếp
tới nội dung tư tưởng của văn bản?
+ Nhóm 2: Tìm hiểu những nét cơ bản về tác giả Nguyễn Dữ ?
+ Nhóm 3: Tìm hiểu những nét cơ bản về tập “Truyền kì mạn lục” ?
Học sinh làm bài thuyết trình trên powerpoint hoặc video clip.
- Giáo viên tổ chức cho học sinh trình sản phẩm theo dự án, cho học sinh tự
đánh giá, giáo viên chốt kiến thức theo chuẩn kiến thức, kĩ năng.
Để hoàn thành bài tập, học sinh phải chủ động họp nhóm, lập kế hoạch, phân
công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên, kiểm soát thời điểm hoàn thành và chất
lượng sản phẩm. Như thế, ở đơn vị kiến thức này, học sinh được định hướng phát
triển nhiều năng lực như năng lực hợp tác, năng lực tự quản, tự học, năng lực công
nghệ thông tin và năng lực thu thập, xử lí thông tin.... Trong đó, chúng tôi đặc biệt
chú trọng năng lực tự học, năng lực sử dụng công nghệ thông tin.

phải có tính chất gợi mở, có sức thu hút lôi cuốn đi từ dễ đến khó, từ tái hiện đến
suy luận và có khả năng bao quát, mở rộng sang những câu hỏi khác hoặc vấn đề
khác và liên kết chúng lại với nhau.
- Đồng thời, giáo viên linh hoạt kết hợp những câu hỏi chủ đạo với những
câu hỏi đời thường giúp học sinh dễ liên hệ, liên tưởng đến cuộc sống xã hội, đưa
văn chương gần với cuộc đời, phục vụ cải tạo cuộc sống, làm cho cuộc sống đẹp
hơn, phong phú hơn.
Hệ thống câu hỏi chủ đạo tôi đã thiết kế để sử dụng trong giờ học là:
Câu 1: Nhân vật chính của tác phẩm là ai? Được tác giả giới thiệu ra sao?
Câu 2: Để xây dựng nhân vật ấy, tác giả đã sử dụng những chi tiết nào? Các chi tiết
đó làm nổi bật tính cách gì của nhân vật?
Câu 3: Anh chị hãy khái quát quá trình đấu tranh của Ngô Tử Văn?
Câu 4: Suy nghĩ và cảm xúc của em về nhân vật Ngô Tử Văn?
Câu 5: Chiến thắng của Ngô Tử Văn có ý nghĩa gì?
Câu 6: Thế lực thần linh, ma quỷ trong tác phẩm đại diện cho ai? Qua đó, tác giả đã
ngụ ý, phê phán điều gì?

7


Câu 7: Quan điểm của em về thông điệp mà tác giả gửi gắn qua lời bình cuối
truyện?
Tôi thiết kế hoạt động dạy học theo phương pháp thảo luận nhóm với câu hỏi:
- Câu hỏi thảo luận: Nếu viên Bách hộ họ Thôi tiếp tục dùng lời xảo trá đề
đánh lừa Diêm Vương thì theo em Ngô Tử Văn có thể chiến thắng trong hành trình
đi tìm công lý hay không? (Giáo viên dùng nội dung này làm phần tiểu kết cho mục
(II.1): Ngô Tử Văn đại diện cho chính nghĩa, cho cái thiện và là biểu tượng của
công lý nhất định sẽ chiến thắng cái ác, gian tà).
* Đối với đơn vị kiến thức: Nghệ thuật:
Giáo viên có thể định hướng gợi dẫn bằng đặc điểm nghệ thuật của thể



Câu 3: Truyện truyền kì Việt Nam mang đậm yếu tố hiện thực và chất nhân văn”
(SGK Ngữ Văn 10, tập 1, Tr.80). Qua Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, em hãy
làm sáng tỏ ý kiến trên?
Cách làm này nhằm phát triển năng lực tư duy của người học, giúp người học
có cái nhìn có hệ thống, sâu sắc hơn về văn bản.
2.3.3. Giải pháp 3: Tăng cường đổi mới kiểm tra, đánh giá
Trong quá trình tiến hành giải pháp, tôi thực hiện quá trình dạy học, kiểm tra,
đánh giá như sau:
- Khi học sinh thảo luận tìm hiểu ý nghĩa chiến thắng của nhân vật Ngô Tử
Văn, hoàn thành sơ đồ tư duy tổng kết và hoạt động làm việc theo dự án khi tìm
hiểu chung về văn bản, giáo viên tổ chức cho học sinh các nhóm tự đánh giá sản
phẩm của mình và đánh giá lẫn nhau; kết hợp với đánh giá của giáo viên.
- Qua các bài kiểm tra thường xuyên và định kì phải căn cứ vào chuẩn kiến
thức, kĩ năng; giáo viên cần coi trọng việc quan sát và hướng dẫn học sinh tự quan
sát các hoạt động và kết quả học tập, rèn luyện của mình; cần tăng cường các câu
hỏi mở, gắn với nhận thức của học sinh về kĩ năng sống được rút ra; khi chấm bài
kiểm tra cần chú trọng nhận xét, động viên sự cố gắng, tiến bộ của học sinh, kết
hợp đánh giá kết quả bài làm với theo dõi sự cố gắng, tiến bộ của học sinh; nhất là
chú trọng đánh giá phẩm chất và năng lực của học sinh trong cả quá trình học tập.
- Giáo viên cung cấp biểu mẫu chấm cho từng học sinh để tự nhận xét về
mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mình.
2.3.4. Giải pháp 4: Kết hợp giáo dục kĩ năng sống qua bài học
Nhằm trang bị cho các em những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù
hợp, hình thành cho các em những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ
những hành vi thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, trong các tình huống và
hoạt động hàng ngày, đồng thời tạo cơ hội thuận lợi để các em thực hiện tốt quyền
và bổn phận của mình, năm học 2010 – 2011, Bộ GD&ĐT đưa giáo dục kĩ năng
sống vào giảng dạy trong trường học. Giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường được

bởi chàng nhận thức lẽ đúng đắn, chính nghĩa trong việc làm của mình...
- Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ: “Là ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ, xác định
chỗ dựa đáng tin cậy và bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp” [5]. Nhờ sự
giúp đỡ của Thổ Công mà Ngô Tử Văn chiến thắng trong hành trình chiến đấu với
cái ác.
- Kĩ năng thể hiện sự tự tin: “Là niềm tin vào bản thân, có nghị lực đạt được
mục đích”[5]. Kĩ năng này giúp cá nhân mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quyết
đoán trong thực hiện nhiệm vụ và giải quyết vấn đề. Sự tự tin ấy đã giúp Ngô Tử
Văn hành động quyết đoán và lời lẽ khẳng khái đặc biệt trong đoạn đối chất với
Diêm Vương “không chịu nhún nhường chút nào”.
- Kĩ năng tư duy phê phán: “Là khả năng phân tích một cách khách quan và
toàn diện vấn đề, sự vật, hiện tượng...xảy ra”[5]. Gợi dẫn để học sinh thấy được
tinh thần dân tộc qua ngụ ý phê phán hồn ma tên tướng giặc xâm lược.
- Kĩ năng kiên định: “Là khả năng con người nhận thức được những gì mình
muốn và lý do dẫn đến sự mong muốn đó”[5]. Khác với hiếu thắng là để thỏa mãn
nhu cầu của bản thân, sự kiên định của Ngô Tử Văn là hành động vì cuộc sống bình
yên của dân làng, vì lẽ công bằng cho Thổ Công...
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Tính mới, tính sáng tạo.
* Tính mới
Ở giải pháp thứ nhất, tính mới của giải pháp định hướng học sinh tìm hiểu
kiến thức văn xuôi tự sự trung đại bằng phiếu học tập ở nhà giúp các em chủ động
10


khám phá kiến thức khái quát. Từ đó, giáo viên có thể phân hóa đối tượng học sinh
ngay từ ban đầu để có phương pháp, định hướng phát triển năng lực cho học sinh
phù hợp. Rõ ràng, so với phương pháp dạy học truyền thống, thiên về truyền thụ
một chiều, tính tích cực chủ động của học sinh ít nhiều bị hạn chế thì giải pháp đưa

kiến thức cơ bản mà học sinh cần tiếp nhận để đặt ra câu hỏi buộc học sinh phải
chủ động giải quyết. Những câu hỏi chủ đạo có tính chất gợi mở, có sức thu hút lôi
cuốn đi từ dễ đến khó, từ tái hiện đến suy luận và có khả năng bao quát, mở rộng
sang những câu hỏi khác hoặc vấn đề khác và liên kết chúng lại với nhau. Đặc biệt,
xây dựng lại phần thắt nút đầy kịch tính của truyện và đặt ra câu hỏi tình huống để
11


học sinh thảo luận về ý nghĩa của việc xây dựng hình tượng nhân vật sẽ tạo được
điểm nhấn của bài học. Giáo viên tổ chức cho học sinh diễn lại đoạn đối chất giữa
Diêm Vương - Ngô Tử Văn trên lớp và kết hợp với thảo luận giải quyết câu hỏi tình
huống. Qua hoạt động trải nghiệm này, không khí lớp học sẽ sôi nổi hơn, học sinh
được thể hiện mình và nội dung kiến thức được chốt nhuần nhuyễn, dễ dàng.
Đối với đơn vị kiến thức tìm hiểu nghệ thuật của tác phẩm, giáo viên thiết kế
hoạt động dạy học theo phương pháp thảo luận nhóm, kĩ thuật tia chớp (trò chơi Ai
nhanh hơn). Hiển nhiên, trò chơi nhỏ không làm mất nhiều thời gian nhưng đạt
hiệu quả cao trong việc hoàn thành mảng kiến thức này.
Tính sáng tạo ở giải pháp hình thành kĩ năng sống cho học sinh thông qua
cuộc thi hùng biện. Học sinh được biết các kĩ năng sống cần có trong nhà trường
phổ thông và một lần nữa củng cố lại kiến thức đọc hiểu văn bản. Thay vì lấy người
thầy là trung tâm, tôi đã tạo lập được vai trò trung tâm của người học. Học sinh thể
hiện ý kiến cá nhân, trao đổi liên hệ thực tế cuộc sống hiện tại. Với giải pháp này,
giáo viên có thể tạo ra một giờ học sôi nổi, tích cực, hiệu quả và có dấu ấn.
2.4.2. Khả năng áp dụng của đề tài:
Thứ nhất: Những giải pháp đề xuất đã khắc phục được những hạn chế trong
các giờ học thầy cô có trang bị kiến thức lí luận về đặc trưng thể loại, khiến giờ học
nặng nề, khô khan, học sinh khó tiếp cận văn bản hoặc tiếp cận không hiệu quả,
làm mất đi bầu không khí văn chương vốn rất cần thiết với một giờ học Văn. Giải
pháp đề xuất cũng tránh được tình trạng lạm dụng công nghệ thông tin khiến giờ
học suy giảm cảm xúc tự nhiên, làm hạn chế chất văn của bài.

- Niềm tin chính nghĩa luôn thắng gian tà và lời nhắn nhủ : Phải đấu tranh đến cùng
để tiêu diệt cái ác, cái xấu.
- Cốt truyện giàu kịch tính; kết cấu truyện chặt chẽ, lô gích; cách dẫn chuyện khéo
léo, kể chuyện linh hoạt; miêu tả sinh động, hấp dẫn.
1.2. Kĩ năng:
- Đọc hiểu tác phẩm theo đặc trưng thể loại
- Tóm tắt tác phẩm
- Phân tích nhân vật trong truyện truyền kì.
1.3.Thái độ:
- Yêu thích văn học đặc biệt là thể loại truyền kì.
- Tự nhận thức, xác định giá trị chân chính của con người trong cuộc sống: Có bản
lĩnh, cứng cỏi, dám đương đầu trước thử thách.
- Niềm tin chính nghĩa luôn thắng gian tà
2. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
2.1.Giáo viên :
- Đọc SGK, STK, SGV, STK và soạn GA.
- Phương pháp nêu vấn đề, vấn đáp, đàm thoại, thảo luận.
2.2. Học sinh :
- Đọc SGK, tài liệu (nếu có), vở ghi, vở soạn…
3. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
3.1. Ổn định tổ chức: (1 phút)
3.2. Kiểm tra bài cũ : (3 phút)
3.3. Tiến trình bài học :
TIẾT 1
KHỞI ĐỘNG (Giới thiệu bài mới)
- Thời gian: 2 phút
Chương trình Ngữ Văn lớp 9 THCS, học sinh đã được làm quen với một thiên
truyện đặc sắc của Nguyễn Dữ là Chuyện người con gái Nam Xương trích từ
“Truyền kì mạn lục”. Là một trong những truyện thuộc thể truyền kì mà ở đó các
13

kì và tập “Truyền kì mạn
lục”.
Giáo viên tổ chức cho học
sinh trình sản phẩm theo dự
án, cho học sinh tự đánh giá,
giáo viên chốt kiến thức theo
chuẩn kiến thức, kĩ năng.

14

Nội dung cần đạt
I. TÌM HIỂU CHUNG:
1. Tác giả : ( ? - ?)
- Sống vào khoảng thế kỉ XVI.
- Xuất thân trong gia đình khoa bảng.
- Quê Thanh Miện - Hải Dương.
- Là học trò giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm, từng đi
thi và ra làm quan nhưng chưa đầy một năm đã lui
về ở ẩn.
2. Thể loại truyền kì:
- Truyền kì là thể văn xuôi tự sự trung đại, có thể
xen thơ ca, lời bình luận của tác giả hoặc người
khác ở cuối truyện.
- Phản ánh hiện thực qua những yếu tố hoang
đường, kì ảo (cõi âm, thánh thần, ma quỷ…)
- Viết bằng chữ Hán
3. Tác phẩm “Truyền kì mạn lục”:
- Nhan đề:
+ Truyền kì: Những truyện kì lạ được lưu truyền
trong dân gian.

Nội dung cần đạt
GV yêu cầu HS tóm tắt văn II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
bản.
GV: - Ngay từ đầu truyện, 1. Hình tượng nhân vật Ngô Tử Văn
tác giả đã giới thiệu Ngô Tử a. Cách giới thiệu nhân vật
Văn - nhân vật chính như - Tên chữ: Ngô Tử Văn, tên tục: Soạn
thế nào?
- Quê quán: Huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang.
- Em có nhận xét gì về cách - Tính tình: Khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà
giới thiệu nhân vật của tác không chịu được.
giả? (GV: Chú ý cách giới => Cách mở đầu trực tiếp, ngắn gọn theo phương
thiệu kiểu công thức của pháp truyền thống của văn học trung đại, chưa thoát
văn cổ)
khỏi lối kể dân gian.
=> Gây sự chú ý, định hướng rõ cho sự tiếp nhận
GV cho HS thảo luận :
câu chuyện của người đọc .
N1: Nguyên nhân Ngô Tử b. Ngô Tử Văn - người đốt đền tà.
Văn đốt đền là gì?
- Nguyên nhân: Đền thờ là nơi thờ cúng những
15


N2: Hành động đốt đền của
Ngô Tử Văn diễn ra như thế
nào? Hành động có ý thức
hay vô thức, đáng trách hay
không đáng trách?

N3: Ý nghĩa của việc đốt

tên hung thần Bách bộ họ Thôi nên Tử Văn đã dốt
đền.
- Hành động:
+ Chuẩn bị: Tắm gội, khấn trời -> Thái độ cẩn
trọng, tôn kính, nghiêm túc.
+ Châm lửa đốt đền: Mọi người lắc đầu lè lưỡi, Tử
Văn vung tay không cần gì… một thái độ dứt
khoát, bất chấp hậu quả xấu cho bản thân.
=>Hành động có ý thức, không đáng trách và rất
hợp lòng dân.
- Ý nghĩa: Ngô Tử Văn là một kẻ sĩ tính tình khảng
khái, cương trực, dung cảm. Vì dân trừ hại, có tinh
thần dân tộc mạnh mẽ.
- Hậu quả: Khó lòng tránh khỏi tai vạ, bị chết,
xuống âm ti gặp Diêm Vương.
- Sự kiện xảy ra sau khi đốt đền:
+ Tử Văn thấy khó chịu, đầu lảo đảo và bụng run
run, rồi nổi lên cơn sốt nóng, sốt rét.
+ Cuộc gặp gỡ giữ Tử Văn và hồn ma tên tướng
giặc
... Tướng giặc: Trách mắng, đòi trả lại đền, đe dọa.
... Ngô Tử Văn: Mặc kệ, ngồi ngất ngưởng, tự
nhiên.
Thái độ điềm nhiên không lo sợ trước những lời
đe doạ của hung thần.
+ Cuộc gặp gỡ với Thổ công bị hại
... Thổ công: ông già áo vải, mũ đen phong độ nhàn
nhã đến, tỏ lời mừng, kể lại sự việc bị hại của mình
và còn căn dặn Ngô Tử Văn những điều cần làm khi
đối phó với tên hung thần và trong cuộc đối chất với


...Tử Văn: Kinh ngạc, căn vặn Thổ công xem hắn
có thực là tên hung thần, có thể gieo vạ cho tôi
không?
Thổ công là nạn nhân đang khiếp sợ, đã tô đậm
thêm sự tàn bạo, xảo trá của tên tướng giặc. Thổ
công là đồng minh sẽ giúp cho Tử Văn trên con
đường đi vạch trần cái ác.
 - Cuộc gặp gỡ giữa con người và hồn ma, con
người và thần thánh , thế giới thực - ảo.
- Sử dụng nhiều yếu tố kì ảo, làm cho câu
truyện truyền kì thêm hấp dẫn.
Tiểu kết: Bằng nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, bất
ngờ, kết hợp với yếu tố kì ảo… đã khắc họa rõ nét
hình tượng nhân vật Ngô Tử Văn là người cương
trực, yêu chính nghĩa, bản lĩnh, kiên cường và giàu
tinh thần dân tộc.
c. Ngô Tử Văn bị bắt và dẫn xuống Minh ti
*Quang cảnh dưới âm phủ: Ghê rợn, gió tanh,
song xám, hơi lạnh thấu xương, hai bên cầu có đến
mấy vạn quỷ dạ xoa,…
 Tác giả đã sử dụng nhiều hình ảnh mang tính
chất kì ảo hoang đường nhằm nhấn mạnh quang
cảnh đáng sợ nơi cõi âm.
Ngô Tử Văn: gan dạ, khảng khái, quyết liệt kêu
oan.
* Cuộc xét xử Ngô Tử Văn dưới âm phủ
- Nguyên nhân: Do hồn ma viên Bách bộ họ Thôi
kiện Ngô Tử Văn về tội đốt đền.
- Diễn biến:

giả ntn về kẻ sĩ? Quan điểm
này có phải chỉ bộc lộ ở lời
bình?

Em hãy rút ra bài học cho
bản thân sau khi học tác
phẩm này?
18

lại lo sợ, đạo đức giả, xin giảm án cho Tử Văn
Ngô Tử Văn: Xin đem tư giấy đến đền Tản Viên
chứng thực
Diêm Vương: Nghi ngờ, cho người đến đền Tản
Viên chứng thực  xử cho Tử Văn thắng kiện
- Kết quả: Ngô Tử Văn thắng kiện được sống lại.
Nhận xét:
- Thái độ một mực kêu oan của Ngô Tử Văn chứng
tỏ chàng không nhụt chí, run rẩy hay khiếp sợ trước
cảnh địa ngục, ma quỷ xung quanh. Chàng quyết
đấu cho lẽ phải, cho công lý. Điều đó rất đáng trân
trọng.
- Tử Văn thắng kiện chứng tỏ cái thiện, cái chính
nghĩa đã thắng cái gian tà, cái ác. Tên tướng giặc bị
trừng trị đích đáng, dân gian được bình an, Thổ
công được trả lại đền.
- Tử Văn trở thành người đảm nhiệm chức phán sự
đền Tản Viên - sự thưởng công xứng đáng, khích lệ
mọi người dũng cảm chống lại cái xấu -> bất tử hoá
khát vọng chính nghĩa của con người.
=>Sự chiến thắng của Ngô Tử Văn sau nhiều gian

hỏi gợi mở như: bút pháp, chuyện thời trung đại.
kết cấu truyện, nghệ thuật - Xây dựng tính cách nhân vật: Nhân vật có tính
xây dựng nhân vật, ngôn cách sinh động. Tử Văn có những phẩm chất của
ngữ nhân vật
nhân vật chính diện: cương trực, ngay thẳng, dám
chịu trách nhiệm trước hành động của mình. Tác giả
chọn chi tiết có sự khắc họa, có bản chất tạo hình rõ
nét, các chi tiết xoay quanh việc xây dựng hình
tượng nhân vật lo gic.
- Ngôn ngữ nhân vật cũng được chú ý ở mức độ
nhất định để khắc họa tính cách và bộc lộ ý nghĩa
tác phẩm.
4: TỔNG KẾT VÀ HƯỚNG DẪN HỌC TẬP (8 phút)
4.1. Tổng kết
a) Nội dung : Chuyện chức phán sự đền Tản Viên đề cao những người trung thực,
ngay thẳng, giàu tinh thần dân tộc đồng thời khẳng định niềm tin vào công lí, chính
nghĩa của nhân dân ta.
b) Nghệ thuật
- Xây dựng cốt truyện giàu kịch tính, kết cấu chặt chẽ.
- Dẫn dắt truyện khéo léo, nhiều chi tiết gây sự chú ý, hấp dẫn.
- Cách kể chuyện và miêu tả sinh động, hấp dẫn.
- Sử dụng nhiều yếu tố kì ảo, nhưng vẫn mang những nét hiện thực.
* Luyện tập
GV : Hướng dẫn HS làm bài tập vận dụng.
Câu 1: “Nếu được yêu cầu viết đoạn kết của truyện, anh (chị) sẽ đồng tình với cách
kết thúc như đã có hay sẽ chọn một cách kết thúc khác? Trình bày và giải thích ý
kiến của mình.
Câu 2: Thử tưởng tượng: Ngô Tử Văn có chuyến công du về trần gian. Theo anh
(chị), Quan phán sự đền Tản Viên sẽ nói gì với chúng ta ngày nay?
4.2. Hướng dẫn học tập


Người thực hiện

Nguyễn Thị Thúy

21


1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.

22

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Từ điển tiếng Việt (2003), NXB Đà Nẵng.
Luật giáo dục (1998), NXB Chính trị quốc gia.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo quyết
định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của thủ tướng chính phủ.
Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản
toàn diện giáo dục và đào tạo.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông – NXB Giáo dục, năm 2015
Nhiều tác giả (2014), Lí luận dạy học hiên đại, NXB ĐHSP Hà Nội.
Phan Trọng Luận (chủ biên) (2010), Dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng môn
ngữ lớp 10, NXB ĐHSPHN.
Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status