SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LÊ VĂN HƯU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH
KHỐI 12 CÁCH LÀM PHẦN ĐỌC- HIỂU TRONG BÀI THI
MÔN NGỮ VĂN, KỲ THI THPT QUỐC GIA
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương
Chức vụ: Tổ phó CM
SKKN thuộc lĩnh vực (Môn): Ngữ văn
Thiệu Hoá, tháng 5 năm 2017
1
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1. Li do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.5. Điểm mới của đề tài
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
dục và Đào tạo”, trong những năm gần đây ngành Giáo dục và Đào tạo đã và
đang thực hiện đổi mới một cách đồng bộ ở tất cả các khâu. Trong đó chú trọng
đến việc đổi mới kiểm tra đánh giá, từ khâu then chốt này sẽ dẫn đến việc đổi
mới nội dung và phương pháp dạy học. Nếu như trước đây việc kiểm tra đánh
2
giá học sinh còn nặng về kiểm tra kiến thức, kĩ năng thì bây giờ việc kiểm tra,
đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực. Để thực hiện được điều này,
Bộ đã thực hiện nhiều phương án trong đó đổi mới thi cử và cách ra đề thi là
phương án hữu hiệu nhất. Cũng từ năm đó dạng câu hỏi Đọc- hiểu bắt đầu được
đưa vào đề thi để thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức. Có thể nói, đây
là sự đổi mới tích cực trong cách ra đề Ngữ văn theo định hướng mới. Nếu dạng
câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thông
hiểu, có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong
chương trình hay không thì dạng câu hỏi Đọc-hiểu đã nâng cao hơn một
mức vận dung thấp, vận dụng sáng tạo, kiểm tra, phát triển được năng lực tự
cảm nhận một văn bản bất kì (có thể văn bản đó hoàn toàn xa lạ đối với các em)
Như vậy, có thể thấy, bên cạnh việc ôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thì việc
ôn tập và rèn kỹ năng làm dạng câu hỏi đọc- hiểu là điều cần thiết phải trang bị
cho học sinh. Để làm được phần này phải đòi hỏi người học có một năng lực
đọc-hiểu văn bản nhất định trên một nền tảng kiến thức cơ bản.
- Năm 2015, Bộ đã sát nhập hai kì thi tốt nghiệp THPT và Đại học- Cao
đẳng thành kì thi THPT Quốc gia. Những thay đổi nói trên tiếp tục được thực
hiện. Bố cục của đề thi những năm gần đây bao gồm hai phần: Đọc- hiểu và
Làm văn. Đối với phần đọc- hiểu, thí sinh cần phải nắm vững kiến thức phần
tiếng Việt, lý thuyết làm văn của chương trình THCS và THPT.
- Ngữ văn là môn học “khó nhằn” đối với nhiều học sinh vì thông thường
môn văn khá dài, khó nhớ ý và có cách diễn đạt rất phong phú. Thực trạng học
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra
1.5. Điểm mới của đề tài
Kỳ thi THPT quốc gia 2017, có sự thay đổi về thời lượng và yêu cầu của
đề thi. Cụ thể, năm nay, thời gian làm bài thi giảm từ 180 phút còn 120 phút.
Cấu trúc đề thi vẫn gồm 2 phần nhưng phần Đọc-hiểu (3.0 điểm), trước đây
gồm 2 đoạn trích - 2 văn bản , thí sinh phải trả lời 8 câu hỏi thì nay chỉ còn một
văn bản với việc trả lời 4 câu hỏi. Đặc biệt phần văn bản đọc- hiểu sẽ là cơ sở
để học sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội trong phần Làm văn của bài thi.
Những thay đổi về hình thức thi của kỳ thi THPT quốc gia từ 2015 đã
mang tới cho các học sinh lớp 12 không ít bối rối. Theo sự thay đổi này, năm
nay, các học sinh sẽ phải thi 4 môn trong đó có 3 môn bắt buộc là: Toán, Văn,
Anh và tổ hợp (hoặc tự nhiên hoặc xã hội).
Việc phải làm một bài thi được sử dụng với hai mục đích là vừa xét tốt
nghiệp vừa tuyển sinh Đại học- Cao đẳng đã mang tới cho học sinh nhiều băn
khoăn, nhất là đối với môn Ngữ văn. Bởi lẽ, lâu nay nhiều học sinh theo khối tự
nhiên dường như bỏ ngỏ môn học này. Chính vì thế, thời điểm này, các em đang
rơi vào tình trạng chạy cấp tốc với mong muốn đủ điểm tốt nghiệp.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1. Khái niệm đọc- hiểu
Lâu nay trong dạy học văn, người ta thường dùng thuật ngữ là giảng
văn, phân tích văn…song từ khi thay sách đã thay bằng thuật ngữ Đọc- hiểu văn
bản. Đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà thực chất là sự thay đổi thay đổi
quan niệm về bản chất của môn Ngữ văn, cả về phương pháp dạy học văn và các
hoạt động khi tiếp nhận tác phẩm văn học cũng có những thay đổi. Theo Giáo
4
nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của mình; Vận dụng văn bản để trình
bày phương hướng, biện pháp giải quyết một vấn đề cụ thể của cuộc sống, của
xã hội.
2.1.2. Phạm vi đọc - hiểu
- Văn bản đưa ra làm ngữ liệu có thể là văn bản văn học (thơ/ văn xuôi).
Văn bản đó có thể nằm trong chương trình chính khóa/ đọc thêm thậm chí là
những văn bản rất mới, hoàn toàn xa lạ với học sinh- văn bản ngoài nhà trường.
Loại văn bản này đang được sử dụng nhiều hơn vì nó liên quan đến viết đoạn
văn nghị luận xã hội ở phần Làm văn.
- Văn bản đưa ra làm ngữ liệu có thể là những văn bản nhật dụng trong đời
sống hàng ngày.
2.2. Thực trạng vấn đề
5
- Câu hỏi Đọc hiểu là một kiểu dạng khá mới mẻ được đưa vào đề thi
THPT Quốc gia nên chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chương
trình Ngữ văn bậc THPT. Dạng này cũng không có nhiều tài liệu, bài viết
chuyên sâu để tham khảo. Nó chưa “lộ diện” thành một bài cụ thể trong sách
giáo khoa, hơn nữa kiến thức đọc hiểu nằm rải rác trong chương trình học môn
Ngữ văn từ cấpTHCS đến cấp THPT. Chính vì thế, mà không ít giáo viên ôn thi
THPT Quốc gia tỏ ra lúng túng khi hướng dẫn học sinh làm bài. Điều đó cũng
ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng, kết quả bài thi của học sinh.
- Đọc -hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi THPT
Quốc gia. Phần này tuy không chiếm phần lớn số điểm(3/10) nhưng lại có vị trí
rất quan trong bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi. Nếu học
sinh làm sai hết phần này thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũng
chỉ đạt khoảng 6,0 điểm. Ngược lại, nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em
sẽ có nhiều cơ hội đạt điểm văn 7,0 hoặc 8,0. Như vậy, phần Đọc- hiểu góp phần
6
hiểu trong bài thi môn Ngữ văn, kỳ thi THPT Quốc gia” vẫn là một đề tài mới,
có tính ứng dụng, cần thiết rất cao.
- Thực tế mấy năm gần đây đề thi môn Ngữ văn có phần Đọc- hiểu. Năm
2015, Bộ GD & ĐT hợp nhất hai kì thi Tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vào Đại
học, Cao đẳng thành một kì thi chung. Từ chỗ có nhiều đề thi Ngữ văn (đề thi
tốt nghiệp THPT; đề thi tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng khối C, D), năm nay
chỉ có một đề thi duy nhất vừa lấy điểm để xét tốt nghiệp, vừa lấy điểm để xét
vào Đại học, Cao đẳng. Phần Đọc -hiểu trong đề thi từ chỗ chiếm 2/10 điểm nay
được nâng lên 3/10 điểm. Nhưng thay vì 1 văn bản với 3 câu hỏi nhỏ như năm
2014, đề thi năm 2015 ra 2 văn bản khá dài với 8 câu hỏi nhỏ. Đến năm 2016
cấu trúc đề thi môn văn cũng không có gì thay đổi so với năm học trước. Năm
nay, chỉ một văn bản với 4 câu hỏi nhỏ.(GV cung cấp các đề thi của từng năm để
học sinh tham khảo).
- Kiến thức đọc-hiểu cả trong chương trình THCS và THPT tương đối nhiều,
học sinh đã học từ lâu nên thường bị mai một, thậm chí không còn để ý. Vì vậy,
giáo viên cần cung cấp một cách hệ thống lượng kiến thức liên quan đến đọchiểu.
2.3. Các giải pháp thực hiện (Hướng dẫn học sinh ôn luyện)
Với phần đọc- hiểu trong bài thi nhiều em học sinh tỏ ra rất lúng túng, băn
khoăn làm thế nào để làm tốt được phần này trong bài thi. Đứng trước thực trạng
đó, bằng kinh nghiệm của bản thân đang trực tiếp ôn thi THPT Quốc gia, qua
những năm dạy đội tuyển học sinh giỏi, dạy chuyên đề ôn thi đại học cũng như
trao đổi với đồng nghiệp, tôi đề xuất một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh
khối 12 làm phần Đọc- hiểu trong bài thi môn Ngữ văn, kỳ thi THPT Quốc gia
như sau:
Một là, cung cấp kiến thức lý thuyết Đọc- hiểu (Hệ thống kiến thức)
Hai là, đưa ra một số lưu ý về phương pháp làm phần Đọc- hiểu
Ba là, cung cấp hệ thống bài tập thực hành rèn kĩ năng Đọc- hiểu
1
- Là phong cách được + Tính cụ
- Sử dụng ngôn
Sinh hoạt
dùng trong giao tiếp thể
ngữ mang tính tự
sinh hoạt hàng ngày, + Tính cảm nhiên, thoải mái
thuộc hoàn cảnh giao xúc.
và sinh động, ít
tiếp không mang tính +Tính
cá trau chuốt…giao
nghi thức. Giao tiếp ở thể
tiếp tư cách cá
đây thường với tư cách
nhân.
cá nhân nhằm để trao
- Gồm Thư từ,
đổi tư tưởng, tình cảm
nhật kí, cuộc nói
của mình với người
chuyện
thân, bạn bè, hàng xóm,
đồng nghiệp, đồng hành,
…
2
Khoa học
- Là phong cách được +Tính trừu - Phong cách này
dùng trong lĩnh vực tượng- khái bao gồm các văn
nghiên cứu, học tập và quát.
bản: khoa học
mình đối với những vấn diễn đạt và vấn đề chính trị,
đề thời sự nóng hổi của suy luận.
xã hội.
8
xã hội.
5
Báo chí
(thông tấn)
6
- Là phong cách được
dùng trong lĩnh vực
thông tin của xã hội về
tất cả những vấn đề thời
sự trong nước và quốc
tế.
Hành
chínhCông vụ
+
Tính
truyền cảm
và
thuyết
phục:
và nước khác.
- Sau khi cung cấp lý thuyết, giáo viên cung cấp một số văn bản, yêu cầu
học sinh nhận diện xem văn bản ấy thuộc phong cách ngôn ngữ nào, vì sao?
2.3.1.2. Các phương thức biểu đạt (6 phương thức).
Một văn bản bất kỳ nào đó đều phải sử dụng phương thức biểu đạt. Có
thể xuất hiện nhiều phương thức biểu đạt như tự sự và miêu tả, thuyết minh và
biểu cảm… song sẽ có một phương phương thức nổi bật nhất.
- Để học sinh dễ nhận diện các phương thức biểu đạt trong các văn bản,
giáo viên cung cấp một cách hệ thống đặc điểm các phương thức biểu đạt. Giáo
viên cho học sinh nắm kiến thức bằng cách lập bảng như sau:
TT Phương
thức
biểu Đặc điểm nhận diện
Thể loại
đạt
1
Tự sự
Trình bày các sự việc (sự - Bản tin báo chí
kiện) có quan hệ nhân quả - Bản tường thuật, tường
dẫn đến kết quả. (diễn biến sự trình
việc)
-Tác phẩm văn học
nghệ thuật .
2
Miêu tả
Tái hiện các tính chất, thuộc - Văn tả cảnh, tả người,
tính sự vật, hiện tượng, giúp vật…
con người cảm nhận và hiểu - Đoạn văn miêu tả trong
được chúng.
tác phẩm tự sự.
Hành chính - Trình bày theo mẫu chung - Đơn từ
- công vụ
và chịu trách nhiệm về pháp - Báo cáo
lí các ý kiến, nguyện vọng - Đề nghị
của cá nhân, tập thể đối với
cơ quan quản lí.
- Giáo viên cung cấp các ngữ liệu( văn bản) cụ thể yêu cầu học sinh chỉ ra
các phương thức biểu đạt của văn bản.
2.3.1.3. Các thao tác lập luận (6 thao tác)
Trong một văn bản thường kết hợp nhiều thao tác lập luận, song thường
có một thao tác chính.
- Để học sinh dễ nắm bắt kiến thức giáo viên cung cấp hệ thống lý thuyết
về các thao tác lập luận theo bảng sau:
TT Thao tác lập Khái niệm- Đặc điểm để nhận diện
luận
1
Giải thích
- Giải thích là vận dụng lí lẽ để cắt nghĩa vấn đề nghị
luận một cách rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý
nghĩa.
2
Phân tích
- Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng
thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ
lưỡng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng.
3
Chứng minh - Chứng minh là đưa ra những cứ liệu- dẫn chứng xác
đáng để làm sáng tỏ một một vấn đề để thuyết phục
người đọc người nghe tin tưởng vào vấn đề.
4
TT
Các phương thức Đặc điểm nhận diện
trần thuật
1
Trần thuật từ ngôi - Người kể chuyện xuất niện trực tiếp xưng tôi
thứ 1
(Nhân vật tự kể chuyện)- như “Chiếc thuyền
ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu.
2
Trần thuật từ ngôi - Người kể chuyện tự giấu mình (không xuất
thứ 3
hiện trực tiếp nhưng biết hết mọi chuyện)- gọi
nhân vật là “hắn”, “thị”, “y”.
3
Trần thuật từ ngôi - Người kể chuyện tự giấu mình nhưng diểm
thứ 3
nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật
trong tác phẩm. (Lời nửa trực tiếp).
- Giáo viên cung cấp một số văn bản minh hoạ trích trong các tác phẩm
“Chí Phèo” - Nam Cao, “Những đứa con trong gia đình”- Nguyễn Thi, “Vợ
nhặt” - Kim Lân, “ Chiếc thuyền ngoài xa”-Nguyễn Minh Châu.
2.3.1.5.Các phương thức miêu tả tâm lí (2 phương thức)
Đây chính là phương thức khắc hoạ nội tâm nhân vật xuất hiện trong tác
phẩm văn xuôi. Cụ thể:
TT
Các phương thức Đặc điểm nhận diện
miêu tả tâm lí
1
Miêu tả tâm lí trực - Tái hiện tâm lí nhân vật qua dòng độc thoại
tiếp
vật, hiện tượng này bằng tên mang tính hàm súc, biểu cảm,
sự vật hiện khác có nét tương lôi cuốn người đọc người nghe
đồng quen thuộc. (kiểu so
sánh ngầm) (VD)
3
Nhân
-Là cách gọi hoặc tả con vật, - Làm cho câu văn, bài văn
hoá
cây cối, đồ vật, hiện tượng thêm cụ thể, sinh động, gợi
thiên nhiên bằng những từ cảm ; làm cho thế giới đồ vật,
ngữ vốn được dùng để gọi cây cối, con vật hiện lên gần
hoặc tả con người.(VD)
gũi với con người, có hồn, có
tâm trạng.
4
Hoán
- Là tên gọi sự vật, hiện - Nhằm tăng sức gợi hình, gợi
dụ
tượng, khái niệm bằng tên cảm cho sự diễn đạt, gợi
của sự vật hiện tượng, khái những liên tưởng ý vị, sâu sắc.
niệm khác có quan hệ gần gũi
với nó.(VD)
5
Vật hoá -Dùng từ ngữ chỉ thuộc tính, - Tăng sức biểu cảm về nỗi
đặc điểm của vật để chỉ con khổ, sự rẻ rúng số phận con
người.(VD)
người.
6
Điệp từ/ - Điệptừ/ ngữ/ điệp cấu trúc là -Nhấn mạnh, tô đậm ấn tượngngữ/
nhắc đi nhắc lại một từ, một tăng giá trị biểu cảm, tạo âm
thành phần câu trước đó.(VD)
11 Tương - Là cách dùng từ ngữ, hình - Nhấn mạnh làm nổi bật một
phản,
ảnh có tính chất tương phản ý nghĩa nào đó.
đối lập đối lập để nhấn mạnh làm nổi -Tạo sự cân đối, đăng đối hài
bật một ý nghĩa nào đó.(VD) hòa.
12 Câu hỏi - Là những câu hỏi không - Bộc lộ, xoáy sâu cảm xúc (có
tu từ
nhằm mục đích hỏi mà là để thể là những băn khoăn,ý
khẳng định, hỏi không cần trả khẳng định…)
lời.(VD)
13 Im lặng - Là cách biểu thị bằng dấu ba -Tạo điểm nhấn, gợi sự lắng
chấm (...)(ví dụ)
đọng cảm xúc
15 Chơi
- Chơi chữ là cách vận dụng - Tạo ra những cách hiểu bất
chữ
ngữ âm, ngữ nghĩa của từ để ngờ, thú vị.
tạo ra những cách hiểu bất
ngờ, thú vị.(VD)
- Sau khi hệ thống xong phần lý thuyết giáo viên cung cấp một số văn bản
để học sinh chỉ ra các biện pháp tu từ và nêu tác dụng của chúng.
2.3.1.7. Các phép liên kết.
Văn bản bao giờ cũng là một thể thống nhất có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau. Đó là vì nhờ những phép liên kết. Gồm các phép liên kết sau:
TT Phép liên Đặc điểm nhận diện
Tác dụng
kết
1
Phép lặp
Nghịch
- Là cách dùng những từ trái nghĩa/ - Liên kết câu.
đối- tương phủ định trong câu
- Tạo tính cân
phản
đối.
6
Tỉnh lược - Là cách rút bỏ những từ ngữ có ý - Liên kết câu.
nghĩa xác định ở những chỗ có thể rút - Tránh lặp từ.
bỏ.
- Giáo viên cung cấp các bài tập minh hoạ, yêu cầu học sinh tìm ra các
phép liên kết.
2.3.1.8. Các hình thức lập luận của đoạn văn
Học sinh xác định cách lập luận của đoạn văn chính xác giúp các em
có định hướng tốt để tìm câu chủ đề của đoạn văn, nêu nội dung của nó.
Các đoạn văn được trình bày theo các hình thức lập luận như sau:
TT Các hình
Đặc điểm nhận diện
thức lập
luận
1
Diễn dịch
- Là cách trình bày ý đi từ cái chung, khái quát đến cụ
thể, chi tiết. Câu chủ đề đứng đầu đoạn
2
Quy nạp
- Là cách trình bày ý đi từ cụ thể , chi tiết đến khái quát.
Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn.
3
Song hành
Về nhận diện câu hỏi:Đọc kĩ yêu cầu đề để xác định nội dung câu hỏi có
mấy ý, từ đó trả lời cho đúng, trúng vấn đề. Ví dụ nếu đề hỏi chỉ ra các phương
thức/ các thao tác lập luận trong văn bản trên thì câu trả lời sẽ từ hai phương
thức/ hai thao tác trở lên. Nhưng nếu câu hỏi chỉ ra thao tác nào/ phương thức
nào là chính hoặc chủ yếu thì câu trả lời chỉ là một phương thức/ một thao tác.
Về trình bày: Học sinh cần phải trình bày khoa học, không nên tẩy xóa, viết
chèn dòng trong bài. Nếu có sai thì gạch chéo và làm lại. Cần dùng các kí hiệu
thống nhất với đề bài.
Về cách trả lời: Văn bản đọc hiểu thường không dài nên yêu cầu học sinh
đọc văn bản để chọn câu trả lời cho phù hợp. Câu trả lời cần trực tiếp, ngắn gọn,
chính xác, đầy đủ. Hỏi gì trả lời đó, không trả lời thừa. Trả lời đủ 4 câu hỏi,
không bỏ trống.
Thời gian làm phần Đọc - hiểu khoảng từ 20 đến 25 phút.
2.3.3. Hướng dẫn học sinh thực hành
Sau khi ôn tập, hướng dẫn học sinh nắm chắc lý thuyết, tôi cung cấp cho
các em học sinh các đề Đọc- hiểu thuộc văn bản nhật dụng và văn bản văn học.
Do dung lượng của sáng kiến không cho phép, phần này người viết đưa một số
đề với các loại câu hỏi thường gặp trong đề thi để học sinh luyện tập, rèn kĩ năng
làm bài. Các câu hỏi thể hiện ở các mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận
dụng. Sau mỗi đề có đáp án để các em đối chiếu, giáo viên sửa bài cho học sinh.
Các văn bản đọc- hiểu có thể trong chương trình sách giáo khoa nhưng xu
hướng chủ yếu là ngoài chương trình vì nó liên quan đến phần viết đoạn văn
nghị luận (2,0 điểm).
a.Văn bản trong chương trình sách giáo khoa.
Đề 1:( 3,0 điểm). Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi ở dưới:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
vừa phải”.
(Trích Nhìn về vốn văn hóa dân tộc - Trần Đình Hượu)
Câu 1. Đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?(0,5 điểm)
Câu 2. Thao tác chính được sử dụng trong đoạn văn trên là gì? (0,5 điểm)
Câu 3. Nội dung của đoạn văn.(1,0 điểm)
Câu 4. Suy nghĩ của anh chị về nhận định: “Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình,
hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều
hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”.
(1,0 điểm)
Đáp án:
Câu 1. Đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học.
Câu 2. Thao tác chính được sử dụng trong đoạn văn là thao tác giải thích.
Câu 3. Nội dung của đoạn văn: Nêuu lên đặc điểm của văn hoá Việt Nam, đó là
quan niệm về cái đẹp vừa xinh, vừa khéo thanh lịch, duyên dáng.
Câu 4. Nhận định nói về đặc điểm văn hoá Việt Nam: đề cao kinh nghiệm ứng
xử hợp tình, hợp lý (lời nói chẳng mất tiền mua...); trang phục áo dài dịu dàng,
nền nã, ăn uống không cầu kì (khéo ăn thì no, khéo co thì ấm), công trình kiến
trúc không có quy mô lớn, không đồ sộ.
b.Văn bản ngoài chương trình sách giáo khoa
(phần này chiếm chủ yếu trong phần luyện tập)
Đề 1: ( 3,0 điểm). Đọc khổ thơ sau trả lời câu hỏi nêu ở dưới:
Ôi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông
(Chế Lan Viên)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên? (0,5điểm)
Câu 2. Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong hai câu thơ đầu của
đoạn thơ trên? Phân tích hiệu quả của biện pháp đó? (0,75 điểm)
Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn thơ? (0,75 điểm)
Câu 1. Văn bản trên thuộc phong cách nhôn ngữ nào? (0,5 điểm)
Câu 2. Chỉ ra các phép liên kết được sử dụng trong đoạn văn trên.(1,0 điểm)
Câu 3. Văn bản đề cập về vấn đề gì? (0,5 điểm)
Câu 4. Viết đoạn văn 5-7 dòng trình bày nhận thức của anh/chị về vai trò của
trường học đối với con người.(1,0 điểm).
Đáp án:
Câu1 . Phong cách ngôn ngữ báo chí hoặc chính luận.
Câu 2. Các phép liên kết được sử dụng là:
+ Phép lặp: “Trường học của chúng ta”
+ Phép thế: “Muốn được như thế” (thay thế cho toàn bộ nội dung của đoạn trước
đó).
Câu 3. Văn bản đề cập về vấn đề giáo dục.
Câu 4. Cần đảm bảo vai trò của nhà trường trong giáo dục tri thức, nhân cách
cho con người.
Đề 3: ( 3,0 điểm). Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi ở dưới:
“Khi mạng xã hội ra đời, những người cổ xúy thường cho rằng chức
năng quan trọng nhất của nó là kết nối. Nhưng trên thực tế phải chăng mạng xã
hội đang làm chúng ta xa cách nhau hơn?
17
Tôi đi dự đám cưới, bữa tiệc được chuẩn bị chu đáo, sang trọng từ khâu
tiếp khách, lễ nghi cho đến cách chọn thực đơn, loại nhạc biểu diễn trong suốt
bữa tiệc, chứng tỏ bạn rất trân trọng khách mời.
Vậy mà suốt buổi tiệc, nhìn quanh mình đâu đâu tôi cũng thấy có người
chăm chú dán mắt vào màn hình điện thoại, mà khỏi nói tôi cũng biết họ đang
xem gì qua cách họ túm tụm thành từng nhóm vừa chỉ trỏ vào chiếc điện thoại
vừa bình luận, nói cười rôm rả.
(…)Trẻ trung có (số này chiếm đông hơn cả), tầm tầm cũng có. Nói đâu
dụng tôi làm phiếu thăm dò học sinh hai lớp, kết quả như sau:
- Khi chưa ôn tập và rèn luyện kĩ năng Đọc- hiểu
Năm
Lớp
Tổng
Nắm chắc lý Năm được
Không nắm rõ
học
số HS thuyết, tự tin một phần lý lý thuyết, lúng
18
điều
tra
làn bài
thuyết, biết
túng khi làm bài
làm bài
SL
%
SL %
SL
%
2014-2015 12C3
42
4
9,5
15 35,7
SL
%
SL
%
2014-2015 12C3 42
27
64,3 10
23,8
5
11,9
2015-2016 12C5 44
37
84,1 7
15,9
0
0
2016-2017 12 C4 47
30
63,83 13
27,66 4
8,51
Kết quả phiếu thăm dò cho thấy, sau khi được ôn uyện phần Đọc- hiểu,
khoảng 70-85% học sinh nắm chắc lý thuyết, tự tin làm bài thi THPT Quốc gia.
Điều đó dự báo các em sẽ làm tốt phần Đọc- hiểu.
* Kết quả điểm thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn
Kết quả thi tôi đã thống kê trong 2 năm khi tôi ôn thi THPT Quốc gia môn
Ngữ văn. Điểm thi môn Ngữ văn lớp tôi giảng dạy đều vượt chỉ tiêu nhà trường
đề ra. Có thể nói, kết quả môn Ngữ văn những năm qua đã góp phần không nhỏ
để trường THPT Lê Văn Hưu giữ vững được vị trí tốp đầu trong khối THPT của
tỉnh nhà.
một hệ thống kiến thức lý thuyết, bài tập minh họa chi tiết, thiết thực sẽ giúp các
em học sinh, nhất là các em học sinh lớp 12 tự tin khi làm bài thi. Mở ra nhiều
cơ hội cho học sinh xét tuyển vào các trường Đại học hơn.
3.2 Kiến nghị
Đọc- hiểu văn bản một phần thi bắt buộc trong đề thi THPT Quốc gia
nhưng thực tế trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT chưa xuất
hiện một bài học riêng để giáo viên và học sinh được trang bị phương pháp, kĩ
năng dạy học kiểu bài này.Vậy cá nhân tôi xin kiến nghị như sau:
- Các trường cần bổ sung vào phân phối chương trình một số tiết đọchiểu.
- Sở Giáo dục nên tiếp tục tổ chức lớp tập huấn về phương pháp ôn luyện
phần Đọc- hiểu để thầy cô ôn luyện cho học sinh dự thi THPT Quốc gia một
cách bài bản, giúp học sinh tự tin trong kì thi, đem lại kết quả học tập cao hơn.
- Bộ Giáo dục nhân kì thay sách lần tới nên bổ sung tiết dạy về kiểu bài
Đọc-hiểu có tính đặc thù vào chương trình sách giáo khoa bậc THPT.
Do hạn chế về nhiều mặt, đặc biệt là dung lượng có hạn của đề tài nên đề
tài này vẫn chưa thể chuyển tải hết được vấn đề người viết muốn bộc lộ như
chưa trích dẫn được các ví dụ cụ thể, bài tập thực hành cho từng loại kiến thức,
các đề minh hoạ, ôn luyện chưa nhiều … Người viết rất mong nhận được sự
đóng góp chân thành của quý đồng nghiệp và bạn đọc để đề tài ngày càng hoàn
20
thiện hơn và thực sự giúp ích nâng cao chất lượng môn Ngữ văn trong kì thi
THPT quốc gia. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hoá, ngày 25 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị