MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài........................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu.................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN...............................................................................3
2.1. Cơ sở lý luận..............................................................................................3
2.1.1. Phương pháp dạy học.........................................................................3
2.3.1. Định hướng tìm hiểu một số tác phẩm văn học Việt Nam trong
chương trình Ngữ văn 12...............................................................................7
a. Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng...................................................7
b. Đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm.................................8
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC SỞ GD&ĐT
ĐÁNH GIÁ ĐẠT LOẠI C TRỞ LÊN
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
M. Gorki từng nói “văn học là nhân học”. Giá trị giáo dục con người từ
môn Văn là rất lớn. Mỗi tác phẩm văn học đều có ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Giá
trị giáo dục của văn học trước hết biểu hiện ở khả năng đem đến cho con người
những bài học quý giá về lẽ sống để họ tự rèn luyện bản thân mình ngày một tốt
đẹp hơn. Văn học hình thành trong người đọc một lí tưởng tiến bộ, giúp cho họ
nhận thức đúng đắn về cuộc sống.
Tác phẩm văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực đời sống thông qua
các hình tượng nghệ thuật. Vì thế, nó sinh động và hấp dẫn hơn so với các môn
học khác. Nó giúp người đọc nhận thức, lý giải hiện thực cuộc sống quanh mình,
hiểu những vấn đề muôn thuở của con người, hiểu chính mình và cả những vấn
Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm, Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Chiếc thuyền ngoài
xa - Nguyễn Minh Châu, trích đoạn Hồn Trương Ba da hàng thịt - Lưu Quang
Vũ.
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Với đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp những phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp lí luận chung, phương pháp phân
tích tổng hợp, phương pháp thống kê và xử lí số liệu (thông qua bài kiểm tra).
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1. Cơ sở lý luận.
2.1.1. Phương pháp dạy học.
Phương pháp dạy học là những cách thức làm việc giữa thầy giáo và học
sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành
được thế giới quan và năng lực [Nguồn http://text.123doc.org].
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục - đào tạo ở bậc THPT; đặc biệt theo tinh
thần Nghị quyết TW 4 khóa 12 đào tạo những học sinh trở thành con người có
năng lực, năng động, sáng tạo, tiếp thu được những tri thức, công nghệ hiện đại
vận dụng vào thực tiễn, vào cuộc sống phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Vì vậy, các bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng cần phải
thực hiện đổi mới chương trình nội dung, phương tiện và phương pháp dạy học
nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Qua thực tiễn dạy học Văn, tôi nhận thấy phương pháp dạy học theo kiểu
đọc - chép đã không còn tạo hứng thú cho học sinh bởi người học rơi vào lối học
thụ động - 1 chiều vì thế cần đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động cho các em. Dạy học văn gắn với cuộc sống qua đó giáo dục
học sinh nhận thức về đời sống thực tiễn. Đây có thể xem là phương pháp dạy
học trực quan sinh động, lồng ghép, gắn lí luận với thực tiễn giúp các em nhận
thức sâu sắc hơn giá trị của tác phẩm văn học. Thực chất mục đích của phương
học sinh dễ dàng tiếp nhận nội dung tư tưởng của tác phẩm [Nguồn
http://text.123doc.org].
2.1.3. Tầm quan trọng của môn Ngữ văn trong việc giáo dục học sinh nhận
thức hiện thực đời sống.
Giáo dục học sinh nhận thức hiện thực đời sống thông qua tác phẩm văn
học không phải là một phương pháp mới mẻ. Ngay từ đợt cải cách chương trình
sách giáo khoa lần thứ hai của Bộ giáo dục và Đào tạo Việt Nam vào năm 1956
thì quan niệm “Dạy học văn gắn với đời sống” là quan niệm cơ bản chi phối
hoạt động dạy học tác phẩm văn chương trong trường phổ thông. Đây là một
phương pháp dạy học tích cực nhằm mục đích vừa phát huy năng lực cảm thụ
văn chương vừa giúp học sinh hình thành những kĩ năng sống phù hợp với mục
tiêu giáo dục của nước ta hiện nay.
Văn học có thể mang tới cho người đọc nhận thức mới mẻ và sâu rộng về
nhiều mặt của cuộc sống trong những khoảng thời gian và không gian khác
nhau. Những tác phẩm như Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Những đứa con trong gia
đình, Chiếc thuyền ngoài xa, … mở ra trước mắt người đọc bao hiểu biết phong
phú về cuộc sống trên đất nước mình với nhiều lĩnh vực khác nhau, từ chiến đấu,
sản xuất đến phong tục, tập quán, hoàn cảnh xã hội… ; lại có tác phẩm đẫn
4
người đọc tới những miền đất xa lạ nào đó trên thế giới (Ông già và biển cả, Số
phận con người, Thuốc, …). Đó chính là quá trình nhận thức cuộc sống của văn
học. Thông qua cuộc sống và hình ảnh của nhiều nhân vật khác nhau được thể
hiện trong các tác phẩm, văn học giúp cho mỗi người đọc hiểu được bản chất
của con người nói chung (Đâu là mục đích, đâu là tư tưởng, tình cảm, khát vọng
và sức mạnh…). Đồng thời chính từ cuộc đời của nhân vật, mỗi người đọc có
thể “soi” mình vào trong đó để hiểu chính bản thân mình hơn với. Đó chính là
quá trình tự nhận thức mà văn học mang lại cho mỗi người. Như vậy, văn học
vừa có vai trò giáo dục nhận thức vừa giúp con người tự nhận thức [2; Tr185].
cập của chương trình và sách giáo khoa, sự nặng nề và cứng nhắc trong thi cử…
Trong đó còn có một nguyên nhân khác là phần lớn giờ dạy Văn trong nhà
trường chưa thực sự tạo được sức cuốn hút, nếu không muốn nói đa phần là
nhàm chán, đơn điệu và cứng nhắc đối với học sinh. Từ thực tế giảng dạy của
bản thân và một số tiết dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy các giờ dạy văn dường
như đã được rập khuôn, giáo viên lên lớp là phải thực hiện đầy đủ các bước: Từ
việc kiểm tra sĩ số, kiểm tra bài cũ, lời dẫn vào bài, giảng bài cho đến củng cố
bài và hướng dẫn bài mới, thiếu một bước xem như tiết học không thành công.
Quy trình dạy học này đảm bảo sự kĩ lưỡng, chỉn chu cho tiết dạy. Nhưng nó lại
làm giảm khả năng sáng tạo, hạn chế sự thăng hoa của người học. Nếu cứ dạy
tác phẩm văn học bình thường như lâu nay chúng ta vẫn làm thì học sinh sẽ thấy
nhàm chán vì tiết dạy còn “nặng” về lí thuyết.
Trường THPT Mường Lát đóng trên địa bàn huyện Mường Lát - một
huyện vùng cao xa xôi thuộc phía Tây tỉnh Thanh Hóa. Chất lượng đầu vào thấp.
Học sinh đa số là con em đồng bào dân tộc thiểu số, khả năng nói và viết tiếng
Việt còn chưa sỏi, các em ít có điều kiện tiếp xúc với sách báo và thông tin xã
hội. Mặt khác, một số hộ gia đình bỏ mặc con em ở nhà để đi làm ăn xa khiến
chúng thiếu đi sự chăm sóc và giáo dục từ gia đình. Chính những điều này đã
ảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo dục nhận thức đời sống cho con em họ. Vì
những lẽ trên, bắt buộc người giáo viên khi đứng trên bục giảng phải lựa chọn
cho mình phương pháp dạy học tối ưu nhất. Trong một tiết dạy chúng tôi vừa
dạy kiến thức trong sách vở vừa lồng ghép bài học vào thực tiễn đời sống để
giáo dục các em.
Năm học 2016-2017, tôi được Ban Giám hiệu nhà trường phân công trực
tiếp giảng dạy Ngữ văn 3 trong tổng số 6 lớp 12 cụ thể: 12B, 12E và 12G. Qua
các buổi thảo luận chuyên đề ở tiết Tự chọn, tôi thấy hầu hết học sinh đều không
nắm được kĩ năng sống dù là cơ bản nhất. Cũng trong thời gian vừa qua, Đoàn
trường THPT Mường Lát tổ chức Hội thi “Rung chuông vàng” chào mừng 86
năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/03/1931 - 26/03/2017), khi
tới phần câu hỏi hiểu biết kiến thức xã hội, mặc dù là những câu rất dễ như:
tranh và những gian khổ ấy nhưng chính sự tái hiện chân thực cuộc sống đã làm
cho các em xúc động thấm thía. Mỗi hình ảnh thơ: “rừng núi”, “sương lấp”,
“đoàn quân mỏi”, “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”, “heo hút cồn mây”,
… trở nên sống động, chân thực hơn. Học sinh không chỉ hình dung cuộc sống
của những người lính buổi đầu kháng chiến chống Pháp như thế nào mà còn có
thể cảm thông với bao gian khổ thiếu thốn các anh phải chịu đựng trong những
tháng năm ở miền biên cương Tây Bắc - mảnh đất ngày nay các em đang sống.
* Trọng tâm kiến thức
Cả bài thơ là nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với đơn vị Tây Tiến: Nhớ
những chặng đường hành quân với bao gian khổ, thiếu thốn, hi sinh mất mát mà
7
vẫn có nhiều kỉ niệm đẹp, thú vị, ấm áp; nhớ những đồng đội anh hùng… Qua
đó, tác giả khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến hào hùng, hào
hoa và vẻ đẹp hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên miền Tây Tổ quốc.
Chất lãng mạn bi tráng chính là vẻ đẹp độc đáo của hình tượng người lính cách
mạng trong thơ Quang Dũng.
b. Đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm.
* Hoàn cảnh sáng tác
Khi dạy đoạn trích Đất nước, tôi cung cấp cho học sinh tư liệu từ đời sống
thực và cảm xúc thật của tác giả khi cầm bút trong hoàn cảnh đặc biệt - chiến
tranh ác liệt. Trường ca mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa Điềm hoàn
thành ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974. Đầu năm 1971,
phong trào học sinh, sinh viên trong các đô thị miền nam đang rất sôi nổi. Tinh
thần yêu nước bùng cháy khắp nơi. Tác giả viết chương Đất nước trong những
ngày mưa triền miên sau Tết. Đó là thời kì máy bay Mỹ đánh phá dữ dội. B52
dội bom liên tục, làm cho mọi thứ tối tăm mù mịt, cảm xúc của tác giả được
cộng hưởng bởi tiếng bom nổ, bởi khói bom và mưa rừng. Ông nói: “Tôi viết về
những điều giản dị của chính tôi, về tuổi trẻ và các bạn bè đang tranh đấu ở
nơi đây, được tìm hiểu về văn hóa, phong tục, tập quán của họ. Câu chuyện Vợ
chồng A Phủ là hoàn toàn có thực ở ngoài đời sống. Khi tác giả trên đường đi
công tác đến Sơn La đã gặp một cặp vợ chồng người dân tộc Mông. Anh chồng
kể cho ông nghe về số phận của mình, của chị vợ và cuộc đời của hai vợ chồng
sau khi lấy nhau. Câu chuyện của đôi vợ chồng ấy cộng với vốn hiểu biết về đời
sống người Mông từ tác giả khiến cho cốt truyện cứ sáng tỏ dần.
Vợ chồng A Phủ kể về cuộc đời của hai thanh niên người dân tộc H’Mông
(Mèo): Mị và A Phủ. Mị là một cô gái đẹp, hiếu thảo, đảm đang, giàu sức sống,
yêu đời và rất mực tài hoa. Chỉ vì một món nợ từ hồi cha mẹ mới cưới nhau mà
Mị bị thống lí Pá Tra bắt về làm dâu trừ nợ, thực chất là làm nô lệ không công cho
nhà thống lí. Kể từ khi bước chân vào nhà thống lí, Mị phải sống những tháng
ngày tăm tối, bị đày đọa về thể xác, bị giày đạp về tinh thần. Mị phải lao động
quần quật như con trâu, con ngựa. Đã có lần Mị muốn chết nhưng sợ liên luỵ đến
bố mẹ đành thôi, tiếp tục trở về cuộc đời nô lệ. Cuộc sống đau khổ đã cướp đi mất
tuổi thanh xuân của Mị, làm cho cô gần như tê liệt sức sống, cứ vật vờ như chiếc
bóng, “lùi lũi như con rùa trong xó cửa”. Cho đến một đêm mùa xuân náo nức,
tiếng sáo gọi bạn tình bồi hồi tha thiết vọng đến tai Mị đã đánh thức trong tâm
hồn cô niềm khao khát hạnh phúc và tình yêu mãnh liệt. Mị chuẩn bị áo váy đi
chơi xuân. Nhưng rồi chồng Mị đã vùi dập phũ phàng ngọn lửa ham sống vừa
bùng lên đó. A Sử bước vào buồng, thản nhiên trói Mị vào cột nhà. Cũng trong
đêm ấy, hắn phá đám cuộc chơi của trai làng nên bị A Phủ đánh trọng thương. Ỷ
vào thế quan, thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải làm đứa ở, lao động khổ sai để trả
nợ. Một lần, vì để hổ vồ mất con bò của nhà thống lí, A Phủ bị đánh đập tàn nhẫn
và bị trói đứng vào trong góc nhà suốt mấy ngày. Cảm thông cho người cùng cảnh
ngộ, Mị đã cởi trói cho A Phủ và cùng nhau chạy trốn khỏi Hồng Ngài, tìm đến
Phiềng Sa. Họ nhận nhau là vợ chồng. Họ được cán bộ là A Châu giác ngộ, dìu
9
dắt, cả hai lần lượt trở thành du kích, tham gia sự nghiệp đấu tranh chống thực
Ba, khiến ông phải chết oan. Vợ Trương Ba lên Thiên đình kiện. Theo gợi ý của
Đế Thích, để sửa sai, Nam Tào cho hồn Trương Ba nhập vào thể xác hàng thịt ở
làng bên vừa mới chết, mới ngoài 30 tuổi, để được sống lại.
10
Kể từ khi sống nhờ thể xác hàng thịt, hồn Trương Ba gặp rất nhiều phiền
toái: lí trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng; gia đình Trương Ba ngày
càng khốn đốn. Đặc biệt, sống bằng thân xác hàng thịt, Trương Ba dần dà tiêm
nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn xa lạ với ông. Khó khăn nhất là lúc
chị hàng thịt đòi hỏi Trương Ba phải là người đàn ông thực sự của chị. Tên Lí
trưởng nhân đấy sách nhiễu vòi tiền; con trai Trương Ba ngày càng đắc ý, lấn
lướt, coi thường bố. Ngược lại, vợ, con dâu, cháu nội Trương Ba không thể chịu
nổi và dần dần xa lánh. Trương Ba vô cùng đau khổ. Trước nghịch cảnh ấy, cuối
cùng Trương Ba quyết định trả lại thân xác cho hàng thịt, cũng không chấp nhận
nhập vào xác cu Tị, kiên quyết chấp nhận cái chết.
2.3.2. Giáo dục học sinh nhận thức thực tiễn đời sống thông qua một số tác
phẩm văn học.
Tác phẩm văn học là hiện thực cuộc sống. Vì vậy, đòi hỏi giáo viên bộ
môn Ngữ văn phải là người hướng dẫn các em tìm và khám phá những cái hay,
cái đẹp của cuộc sống, cái xấu xa của xã hội. Qua tác phẩm, giúp các em nhận
thức được hiện thực cuộc sống thông qua tính cách và số phận nhân vật. Bản
thân các em tự nhận thấy và bồi dưỡng kiến thức xã hội cho chính bản thân qua
từng tác phẩm. Học sinh tự khẳng định phẩm chất tốt, xấu và những điều nên
làm hay những điều cần xa lánh.
Trong dạy học theo định hướng năng lực, đánh giá kết quả học tập của
học sinh không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện thông tin đã biết làm trọng
tâm mà chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống
cụ thể. Vì thế, trong quá trình dạy học, giáo viên chọn lọc nội dung và đưa ra
những câu hỏi gợi dẫn giúp học sinh liên hệ tới những vấn đề tác giả đề cập
người lính. Niềm hoài niệm như ống kính quay phim làm hiện lên những chặng
đường đã qua của đoàn binh Tây Tiến với những địa danh, không phải không có
sự lựa chọn một cách kỳ công, gợi biết bao cảm giác về sự xa xôi hiểm trở.
(?) Bài thơ nhắc đến nhiều địa danh nổi tiếng. Những địa danh với người đọc
thuở ấy còn đầy bí hiểm, hoang sơ, thậm chí nó từng khiến nhiều nhà nghiên
cứu phê bình văn học tốn nhiều bút mực khi viết về chúng. Vậy ra, sức gợi tả
của các địa danh cũng đủ để có thể làm lay động trí tưởng tượng của người đọc.
Đó là những địa danh nào? Em đã từng đến nơi đó chưa?
12
- HS 1: Sài Khao, Mường Lí, Tây Tiến.
- HS 2: Pha Luông ở Sơn La - nơi có nhiều thung lũng đẹp chúng em thường lên
đó đi chơi Tết.
- HS 3: Mường Hịch giờ được gọi là Mai Hịch là địa danh du lịch mới mẻ cùng
với Mai Châu ở phía Tây Hòa Bình giáp với huyện Quan Hóa có bản Lác rất đẹp
nên chúng em thường sang chơi.
Bức tranh thiên nhiên trong Tây Tiến của Quang Dũng vô cùng đặc sắc
bởi nó được tạo nên từ những yếu tố ngôn ngữ giàu tính tạo hình. Mô tả thiên
nhiên mà ta như thấy những bước chân quả cảm của đoàn binh Tây Tiến đang
đạp bằng mọi gian khổ mà thiên nhiên thử thách, mọi hiểm trở mà thiên nhiên
đe doạ. Ta không chỉ thấy một “Sài Khao sương lấp”, một “Mường Lát hoa về
trong đêm hơi” mà còn thấy cả những chặng đường khúc khuỷu, cheo leo.
(?) Từ bài thơ, em thấy thiên nhiên Mường Lát như thế nào?
- HS: Thiên nhiên tuy hiểm trở, khắc nghiệt (đầu tháng tư đã xuất hiện gió Lào
nóng rát) nhưng cũng rất hùng vĩ, nên thơ bởi có núi non trùng điệp.
b. Dạy đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm
Đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở, muôn nơi và của bao
triệu trái tim con người. Đất nước đi vào đời chúng ta qua những lời ru ngọt
ngào êm dịu, qua những làn điệu dân ca mượt mà, những vần thơ sâu lắng, thiết
những sự việc diễn ra trong tác phẩm rất gần gũi với cuộc sống ở địa phương
mình. Đặc biệt, một số em có thể thấy thấp thoáng bóng dáng của chính mình
trong đó. Từ đó, tôi hướng học sinh trả lời những câu hỏi gợi dẫn:
(?) Từ nội dung cốt truyện, tác phẩm đề cập đến những phong tục nào mà ngày
nay vẫn còn tồn tại ở bản làng chúng ta vào mỗi dịp tết đến xuân về?
- HS 1: Tục đi chơi, uống rượu ngày Tết
- HS 2: Tục bắt vợ, kéo vợ
- HS 3: Tục cúng ma, trình ma
- HS 4: Tục phạt vạ
=> GV: Đây là những phong tục tập quán mang nét đặc trưng của người miền
núi mà nếu xóa bỏ chúng đi, tác phẩm không còn sức hấp dẫn. Tuy nhiên, trong
thời đại ngày nay, những tập tục này lại trở nên lạc hậu, trái pháp luật và thậm
chí thiếu đi phần nào tính nhân văn đối với xã hội.
Khi đọc văn bản, một số học sinh người Dao, Thái, Kinh, Khơ mú trong lớp thắc
mắc: “Ngày trước Mị từng có người yêu và người ấy thường đeo nhẫn ở một
ngón tay nhưng sau này trong suốt quãng đời còn lại, cô không bao giờ gặp lại
người yêu nữa? Vậy anh ta đã đi đâu?”. Để giải đáp thắc mắc này, tôi đã hỏi trực
tiếp em học sinh người Mông:
(?) Em có biết người Mông quan niệm về tình yêu và hôn nhân như thế
nào không?
- Hs: Dù sống ở trên cao và còn nhiều hủ tục nhưng trai gái người Mông lại
được tự do tìm hiểu, yêu đương nhau. Vào mỗi dịp xuân về, chúng em rủ nhau
đi chơi ném còn, đánh pao, thổi sáo và múa khèn để tìm người yêu. Sau mỗi
14
cuộc chơi, ai ưng cái bụng của nhau thì hẹn hò rủ nhau đi chơi riêng, tìm hiểu
nhau và yêu nhau từ đó.
- GV: Như vậy, khi đi chơi Tết, Mị có tình cảm với một người nào đó trong
lượng cuộc sống xã hội.
15
Ở Mường Lát, vào mỗi dịp Tết đến xuân về, học sinh nam người dân tộc
Mông thường đi đến các bản làng hẻo lánh tìm người con gái mình thích “bắt”
về làm vợ. Sau Tết, nhiều em vắng nghỉ học lên tận Sơn La, Lai Châu để tìm bắt
vợ. Có nhiều em học sinh nữ trường THPT Mường Lát bị bắt về làm vợ phải bỏ
học giữa chừng như em Sùng Thị Sâu lớp 10D, em Vàng Thị Lan lớp 12D, em
Thao Thị Ly lớp 12C,... Tôi giảng giải cho các em hiểu: “Bắt vợ” là một nét đẹp
văn hóa của người dân tộc Mông. Phong tục ấy cần được phát huy và giữ gìn.
Tuy nhiên, các em đừng vì “quá yêu” mà vi phạm pháp luật (luật hôn nhân gia
đình) lấy vợ lấy chồng khi chưa đủ 18 tuổi và cũng đừng làm biến tướng phong
tục ấy, bởi giờ đây, có nhiều kẻ xấu lợi dụng tập tục này để bắt giữ người trái
pháp luật, ép hôn, cưỡng hôn…
Cảnh bắt vợ của người H’Mông ở Mường Lát
d. Dạy bài “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
Đi qua chiến tranh, Nguyễn Minh Châu trở về cuộc sống đời thường với
bao suy tư trăn trở. Sau 1975, cảm hứng sáng tác của ông dần dần chuyển sang
tính chất triết luận về những giá trị nhân bản đời thường, khám phá ý nghĩa bản
chất con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh
phúc và hoàn thiện nhân cách. Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn rất tiêu biểu
cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác
này. Cái nhìn hiện thực đa chiều đã giúp cho nhà văn nhận ra đời sống con người
cả ở những sự kiện bề nổi nhưng khuất lấp trong bề sâu của nó, nhận ra những
16
17
Ảnh minh họa nạn bạo lực gia đình
Khi cho học sinh tìm hiểu về nhân vật người đàn bà tôi đưa ra một đoạn
văn: “… Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người
ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói
với nhau họ đã nói hết, chẳng noi chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy
bằng cách dùng chiếc thắt lưng, quất tới tấp vào lưng người đàn bà. Lão vừa
đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, rên rỉ đau đớn: “Mày chết
đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Người đàn bà với vẻ cam
chịu đầy nhẫn nhục, không hề chống trả cũng không tìm cách chạy trốn…”. Đó
là những nghịch cảnh éo le của cuộc sống. Khi đọc đoạn văn trên, tôi nhận thấy
sự bất bình, giận dữ hiện lên trong đôi mắt các em học sinh. Tôi giúp các em giải
quyết căng thẳng và bức xúc bằng một câu hỏi gợi mở:
(?) Nguyên nhân vì sao mà người phụ nữ ấy lại không kêu la, không chống trả,
không tìm cách chạy trốn?
- HS: Vì đức hy sinh của người mẹ, vì tình thương con, vì cuộc sống khó khăn
bế tắc mà người phụ nữ phải cam chịu.
Không khí lớp dường như đã dịu trở lại trong đôi mắt các em không còn
nỗi bức xúc nữa. Tôi nhận ra trong các đôi mắt ấy có sự cảm thông xen lẫn niềm
xót xa thương cảm cho người phụ nữ nghèo. Từ đó, tôi liên tưởng lồng ghép kĩ
năng sống: Trong cuộc sống các em sẽ gặp không ít những khó khăn bế tắc và sự
căng thẳng. Lúc đó đòi hỏi các em cần sự tỉnh táo để xác định nguyên nhân, ứng
phó với sự việc sao cho ít gây tổn thương nhất cho người khác.
e. Dạy trích đoạn kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ
18
Khi dạy vở kịch“Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, qua hệ thống câu hỏi gợi
phim trong khi còn nhiều bài tập chưa làm mà ngày mai có tiết cô sẽ kiểm tra.
Nhiều khi trong cuộc đấu tranh đó, thể xác đã thắng thế. Sau khi ngủ dậy, em lại
dằn vặt, trách bản thân mình sao ngủ nhiều thế?
19
- HS2: Vào buổi sáng mùa đông, trời mưa lạnh đường đến trường lại xa và trơn
phải đi qua nhiều đồi dốc, em đành gọi điện nói dối cô bị ốm xin nghỉ học.
2.4. Kết quả thu được.
2.4.1. Qua quan sát trực tiếp
Không khí lớp học rất sôi nổi. Đặc biệt, khi các em kể về mẫu chuyện
“người thật việc thật” ở địa phương mình.
Học sinh hứng thú với tiết học, tham gia thảo luận tích cực và hiệu quả.
Sau khi học xong, những hình tượng, sự việc trong tác phẩm văn học đi
vào cả trong đời sống của các em.
Học sinh quan tâm và có ý thức tìm hiểu những vấn đề xã hội quanh mình
để suy ngẫm, liên hệ với vấn đề nhà văn đặt ra trong tác phẩm.
Bài học được ghi nhớ nhanh hơn.
2.4.2. Qua bài kiểm tra tự luận
Đề bài: Màu sắc Tây Bắc trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài.
Thời gian kiểm tra: 90 phút
Kết quả bài kiểm tra ở 3 lớp sau khi làm bài kiểm tra
Lớp/ sĩ số
Điểm 8 - 9
Điểm 6 – 7
Điểm 5
Điểm dưới 5
12 B / 32
3 (9,4%)
Ban Giám hiệu và Tổ chuyên môn cần sát sao và khuyến khích các tổ viên
của mình đi đầu trong phương pháp đổi mới giờ dạy văn trong nhà trường.
Trên đây là một số kinh nghiệm có thể áp dụng để nhằm nâng cao chất
lượng dạy học một số tác phẩm văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ văn
12. Tuy nhiên đây chỉ là những ý kiến cá nhân được rút ra từ quá trình giảng dạy
ở trường THPT Mường Lát. Trong thực tế còn có rất nhiều các kinh nghiệm từ
các đồng nghiệp. Rất mong sự đóng góp của quý thầy cô!
HIỆU TRƯỞNG
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là skkn của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Nguyễn Thị Linh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Hà Minh Đức (1988), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
[2]. Phan Trọng Luận (2008), Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 1-2 (cơ bản), Nxb
Giáo dục.
[3]. Phan Trọng Luận (2008), Sách giáo viên ngữ văn 12, Nxb Giáo dục.
[4]. Phan Trọng Luận (2008), Thiết kế bài học Ngữ văn 12, Nxb Giáo dục.
[5]. Nguyễn Kim Phong (2008), Kĩ năng đọc - hiểu văn bản 12, Nxb Giáo dục.
[6]. Sử dụng nhiều nguồn tư liệu trên mạng Internet.
- Nguồn https://www.youtube.com/watch
- Nguồn http://text.123doc.org
- Nguồn https://giasunhanvan.com
21
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Năm học
đánh giá xếp
loại
Sở
C
2012-2013
Sở
C
2015-2016
* Liệt kê tên đề tài theo thứ tự năm học, kể từ khi tác giả được tuyển dụng vào
Ngành cho đến thời điểm hiện tại.
----------------------------------------------------
22