Rèn luyện kỹ năng tự học môn ngữ văn cho học sinh THPT qua hoạt động học, làm bài tập ở nhà - Pdf 43

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC MÔN NGỮ VĂN CHO HỌC SINH
THPT QUA HOẠT ĐỘNG HỌC, LÀM BÀI TẬP Ở NHÀ

I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Năm 1998, các nhà Giáo dục hàng đầu của tổ chức UNESCO, họp bàn về
việc học của thế kỉ XXI phải dựa trên bốn mục đích: “Học để biết, học để làm,
học để chung sống và học để tự khẳng định mình”. Việc học của con người phải
thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi. Nghĩa là con người phải học suốt đời.
Muốn vậy phải biết cách học.
Tự học là một trong những phương pháp học tập của con người. Lịch sử
cho thấy nhiều nhà khoa học, nhà văn, nhà giáo... thành công chủ yếu trên con
đường tự học. Chưa bao giờ thực trạng học tập của học sinh được xã hội quan
tâm nhiều như hiện nay và cũng chưa bao giờ sức ép học tập đối với học sinh lại
nặng nề căng thẳng như bây giờ. Trước những vấn đề đó, Đảng và Nhà nước,
ngành Giáo dục đã ban hành nhiều điều luật nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
trong các nhà trường, các cấp học, đưa ra nhiều giải pháp nhằm cải thiện tích
cực cho vấn đề giáo dục. Những chiến lược ấy đã có những chuyển biến đáng
kể trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục nước nhà và đã mang lại
nhiều thành tựu to lớn.
Tuy nhiên chất lượng học tập của học sinh đại trà hiện nay vẫn còn nhiều
bất cập, là một bài toán mà các giáo viên cần đặc biệt quan tâm. Nhằm đáp ứng
được những đòi hỏi đó và góp phần vào việc nâng cao chất lượng học tập cho
học sinh hiện nay, tôi xin được viết đề tài: Rèn luyện kĩ năng tự học môn ngữ
văn cho học sinh trung học phổ thông qua hoạt động học, làm bài ở nhà. Đề tài
này tôi tự rút ra từ thực tiễn dạy học môn ngữ văn THPT trong nhiều năm qua.
Đề tài đã được áp dụng ở trường THPT Thiệu Hóa, mang lại hiệu quả đáng kể
cho học sinh trong việc nâng cao chất lượng học tập và đạt được kết quả cao

1


thức bộ môn, những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội và thế giới.

2


II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
Nghị quyết Trung ương V (T.Ư ), khóa VIII nêu rõ: “Tập trung nâng cao
chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh, đảm
bảo mọi điều kiện và thời gian tự học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ vai trò
tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”.
Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua năm 2005 quy định rõ: “Phương pháp giáo dục phát huy tính tích
cực, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng
lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.”
GS Trần Đình Sử trong bài viết Con đường đổi mới phương pháp dạy học
văn( Văn nghệ số 10, 7-3- 2009) cũng khẳng định: “Khởi điểm của môn ngữ
văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn... Nếu học
sinh không trực tiếp đọc các văn bản thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao đẹp
của môn văn đều chỉ là nói suông, khó đi tới, đừng nói gì tới tình yêu văn học”.
Trong mô hình dạy học, lấy học sinh làm trung tâm, GS Trần Đình Sử nhấn
mạnh: “Trong giờ học, học sinh phải tự mình đọc, tự mình phán đoán, tự mình
nêu câu hỏi”. Đây là quan điểm khoa học sư phạm đúng dắn đối với việc tiếp
cận môn ngữ văn trong nhà trường.
Chuyên đề: Dạy học tự học cho sinh viên trong các nhà trường Trung học
Chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học viết: “Tự học là hoạt động độc lập, chiếm
lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ sử dụng các năng
lực trí tuệ ( quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp...) cùng các phẩm chất động
cơ, tình cảm để chiếm lĩnh kiến thức, một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay kinh
nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại biến nó thành sở hữu của chính bản thân


0/44
( 0.0%)
10/38
(26.31%)
0/40
(0.0%)
2/41
(4.87%)
8/46
(17,4%)
21/39
(53,8%)

9/44
( 20.45%)
20/38
(52.63%)
15/40
(37.5%)
18/41
( 43.9%)
25/46
(54,3%)
14/39
(35,9%)

25/44
(56.8%)
8/38

Không soạn
bài

Soạn chiếu lệ

Soạn chu đáo

Soạn nâng cao

10C

2/44
(4.5%)
9/38
(23.68 %)
0/40
( 0.0%)
1/41
(2.43%)

10/44
(22.7%)
20/38
(52.63%)
15/40
(37.5%)
18/41
(43.9%)

25/44

12E
10/39
21/39
( 25,64%)
( 53.84%)
Bảng 3: Làm bài tập

20/46
(43,4%)
7/39
(17,94%)

8/46
(17,4%)
1/39
(2,56%)

Lớp

Làm hết

Làm hết và làm

Không làm bài

Làm chiếu lệ
(một số câu,

thêm ở sách
20/44

(51.3%)
11/40

(15.4%)
15/40

0

11D

( 10%)
6/41

(27.5%)
15/41

(37.5%)
20/41

0

12D

(14.6%)
5 /46

(36.5%)
10 /46

(48.7%)

thủ, thiếu tự giác, thiếu tích cực trong việc chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức, phương pháp để làm bài tập. Với yêu cầu giáo dục đổi
mới, thực trạng đó chưa đáp ứng được chất lượng học tập của học sinh, mục
đích giáo dục của ngành. Để khắc phục thực trạng trên, việc đặt vấn đề rèn
luyện kĩ năng tự học và làm bài tập ở nhà trước khi đến lớp và sau bài học, tiết
học là một vấn đề có tính cấp bách đối với học sinh THPT hiện nay.
2.3. Phương pháp rèn luyện kĩ năng tự học môn ngữ văn
2.3.1. Hình thành thái độ học tập

5


Để trả lời mục đích của việc học tập, qua khảo sát ban đầu khi học sinh
chưa được định hướng toàn diện, chúng tôi thu nhận được những thông tin như
như bảng sau:
Số học sinh được khảo sát: 82 em (lớp 10C, 10D năm học 2016- 2017)
Học để có bằng Học để tiếp tục
Học để hiểu
Học để có kiến
cấp dễ xin việc
học đại học, để
biết, để cống
thức vận dụng
làm
có cuộc sống tốt
hiến cho đất
vào cuộc sống
đẹp hơn
nước
50/82

đẹp hơn
nước
cuộc sống
20/82
25/82
5/82
32/82
24.39%
30.48%
6.1%
39.02%
Rõ ràng cuộc sống và việc làm tương lai của học sinh không nhất thiết
phải vào đại học mới có sự nghiệp. Thực tế cho thấy, nhiều thanh niên lập
nghiệp, làm giàu ngay trên quê hương mình. Đặc biệt, trong thời đại hội nhập,
quốc tế hóa, toàn cầu hóa để có công ăn việc làm con người nhất thiết phải có

6


kiến thức, phải chủ động tích cực tiếp nhận và xử lí kiến thức. Lối học thụ động
thực sự đã lỗi thời không còn phù hợp với thời đại mới nữa.
2.3.2 Lựa chọn thời gian học tập
Để có thời gian học tập ở nhà thích hợp và có hiệu quả, học sinh phải biết
lập thời gian biểu. Thời gian nào làm những công việc ngoài học tập, thời gian
giải trí, thời gian nào trong ngày dành cho ôn kiến thức cũ, làm bài tập, học bài
mới cho tất cả các môn học, trong đó có môn ngữ văn.
Theo kinh nghiệm cá nhân, các em cần thực hiện thời gian biểu như sau
(không tính những buổi chiều đến trường):
Thứ


- Ôn lại bài cũ
- Chuẩn bị bài mới

Ôn lại bài cũ lần cuối
trước khi đến lớp

Việc phân bố thời gian học ở nhà với việc ôn bài, học mới, làm bài luyện
tập các môn học là rất quan trọng. Khi đã có một thời gian biểu, học sinh sẽ chủ
động hơn trong việc tự học, tự luyện tập ở nhà và hiệu quả, chất lượng học tập
sẽ ngày càng được cải thiện, nâng cao. Muốn làm được điều này, như đã nói,
học sinh phải có mục đích và phương pháp học tập đúng đắn.
2.3.3. Phương pháp học bài và làm bài tập môn ngữ văn
2.3.3.1. Soạn bài mới trước khi đến lớp- soạn bài
Đọc toàn bộ bài mới: Hoạt động đọc diễn ra qua ba cấp độ cơ bản. Thứ
nhất, học sinh phải đọc khái quát, nghĩa là đọc lướt, đọc nhanh, đưa mắt bao
quát toàn bộ trang sách. Thứ hai, đọc chậm, biết dừng lại ở những đoạn, câu có

7


vấn đề (có thể dùng bút chì gạch chân). Thứ ba, đọc kĩ hơn, suy nghĩ những
câu, đoạn, ý đã gạch chân, cố gắng lí giải bằng việc tự đặt câu hỏi, bước đầu tìm
hiểu bài học mới.
Nắm nội dung của bài mới ở dạng tổng quát nhất: Mỗi một bài học, dù
phân môn nào, văn bản nào (nhật dụng hay văn bản văn học), học sinh cũng
phải bước đầu nắm nội dung tổng quát nhất. Chẳng hạn, đối với bài học đọc
hiểu văn bản An Dương Vương và Mỵ Châu- Trọng Thủy (Ngữ văn 10). Trước
hết học sinh phải xác định được đây là văn bản thuộc thể loại truyền thuyết dân
gian Việt Nam kể về sự tích Cổ loa (Đông Anh- Hà Nội ngày nay) trong mối
quan hệ cha con, vợ chồng với đất nước.

kỉ XII, giai đoạn từ XVIII đến nửa đầu XIX). Những đặc điểm lớn về nội dung
(yêu nước, nhân đạo, thế sự). Những đặc điểm lớn về nghệ thuật (tính quy phạm
và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị) Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài. Như vậy yêu cầu của nhớ
khác với thuộc.
Những kiến thức cần hiểu: Đối với việc học bài cũ không nhất thiết thuộc
lòng mà thông qua hoạt động nhớ một cách hệ thống chọn lọc những kiến thức
cần hiểu. Chẳng hạn các đoạn sử thi trích học trong Ngữ văn 10, học sinh chỉ
cần hiểu đâu là sử thi anh hùng chiến trận, sử thi anh hùng văn hóa đối với
Chiến thắng Mtao Mxây ( trích Đăm Săn- sử thi Tây Nguyên), Uy-li-xơ trở về
(trích Ô-đi-xê – sử thi Hi Lạp, Ra-ma buộc tội( trích Ra-ma-ya-na- sử thi Ấn
Độ)
Những kiến thức cần vận dụng: Những kiến thức thuộc, nhớ đến hiểu đều
là kiến thức được vận dụng trong việc thực hành, luyện tập hàng ngày. Có hai
kiến thức vận dụng cơ bản. Vận dụng thấp là khả năng từ kiến thức nhận biết,
thông hiểu, học sinh biết vận dụng trực tiếp vào việc giải bài tập. Chẳng hạn, từ
kiến thức đọc hiểu bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương, học sinh làm bài văn
tự luận cho đề bài sau: Phân tích bài thơ Mời trầu của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Với đề bài này, học sinh vận dụng kiến thức đã học để xem xét, đánh giá nội
dung tư tưởng và những đặc sắc nghệ thuật bài thơ. Còn vận dụng cao là khả
năng tích hợp kiến thức, kĩ năng đã học để làm một bài văn nghị luận về một
tác phẩm văn học, hoặc hai tác phẩm văn học, một ý kiến nào đó. Với loại bài
tập này, học sinh phải biết huy động những kiến thức liên quan, linh hoạt trong
việc sử dụng thao tác lập luận và phương thức biểu đạt để hoàn thành bài tập.

9


Chẳng hạn, cho đề bài: Số phận người phụ nữ tài sắc trong văn học trung đại
Việt Nam. Về kiến thức, học sinh huy động các sáng tác của Nguyễn Du, của
Hồ Xuân Hương, của Nguyễn Gia Thiều... Về kĩ năng, học sinh biết so sánh,

lớn đời Đường - Trung Quốc. Sự hiểu biết ấy là cơ sở giải quyết vấn đề theo yêu
cầu của bài tập.
Đối với loại bài tập vận dụng cao:
Học sinh có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản để giải quyết một
vấn đề mới hoặc không quen thuộc chưa từng được học hoặc trải nghiệm trước
đây, nhưng có thể giải quyết bằng các kỹ năng và kiến thức đã được dạy ở mức
độ tương đương. Các vấn đề này tương tự như các tình huống thực tế học sinh
sẽ gặp ngoài môi trường lớp học. Ví dụ: Vận dụng phương pháp đọc - hiểu một
tác phẩm thơ trữ tình hiện đại theo đặc trưng thể loại. Chẳng hạn, có đề bài sau:
Trình bày cảm nghĩ của anh/ chị về hào khí thời Trần được thể hiện trong bài
thơ Tỏ lòng (Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão). Trước hết học sinh phải có kiến thức
về hào khí chống giặc Nguyên - Mông thời nhà Trần (Hào khí Đông A). Soi
kiến thức đó vào bài thơ để thấy hào khí thời Trần.
Làm lại bài kiểm tra trên lớp:
Dựa vào yêu cầu của việc tự học, tự rèn luyện các kĩ năng, biết khắc phục
tồn tại của bài viết đã kiểm tra trên lớp, qua nhận xét đánh giá của giáo viên,
học sinh cần tiến hành làm lại bài tập đó ở nhà. Để thực hiện việc làm lại bài
viết ở lớp, có hai cách học sinh phải phải lưu ý:
Cách thứ nhất: Học sinh về nhà làm lại bài viết ngay sau khi thực hiện ở
lớp. Đầu tiên đọc kĩ đề ra để xác định lại những yêu cầu về nội dung nghị luận,
phạm vi tư liệu sử dụng, các thao tác lập luận cần dụng. Tiếp theo, xác định luận
điểm, luận cứ cho bài viết và tiến hành sắp xếp thành dàn ý sao cho mạch lạc, lô
gic, thống nhất. Cuối cùng đọc lại toàn bộ dàn bài đề điều chỉnh nếu cần và
thực hiện viết bài văn. Cách thức hai: Sau khi giáo viên trả bài, chữa bài trên lớp
học sinh về nhà viết lại bài làm văn trên lớp dựa trên định hướng chữa bài của
thầy cô giáo và bài viết được trả nhằm khắc phục kịp thời kiến thức và kĩ năng.
Bài tập mở rộng, nâng cao, giải đề học sinh giỏi, Đại học, Cao đẳng
Bên cạnh những bài tập có trong sách giáo khoa, kiến thức kiểm tra đánh

11

có khả năng làm sống dậy trong lòng người đọc những liên tưởng phong phú.
Cảm nhận của anh chị về một bài thơ như thế. Học sinh trước hết giải thích ý

12


kiến: Bài thơ hay là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo (mới mẻ về nội dung và
đặc sắc về nghệ thuật); có khả năng làm sống dậy trong lòng người đọc những
liên tưởng phong phú, tức là gợi nhắc đến những tác phẩm văn học nghệ thuật
khác, đánh thức những rung động trong lòng bạn đọc và sau đó là chọn tác
phẩm tiêu biểu để làn rõ ý kiến. Đó là những kiến thức lí luận, những quan
điểm, đánh giá và đặc biệt là phải thực sự am tường các tác phẩm văn học, kể cả
ngoài chương trình sách giáo khoa.
Đối với đề thi đại học, cao đẳng: Bài tập phục vụ cho thi tuyển ở cấp này,
kiến thức người học nhất thiết phải rộng nhưng độ sâu, sự sắc sảo không yêu
cầu cao như đề thi học sinh giỏi. Tuy vậy để làm một đề thi đạt điểm khá trở lên
đối với học sinh không hề đơn giản. PGS.TS. Lê Quang Hưng trong một bài
phỏng vấn về Một bài văn hay cần “hội đủ” nhiều yếu tố... (Văn học và Tuổi
trẻ, số tháng 2(157) /2008: “Điều quan trọng đầu tiên với các em là lòng yêu, sự
say mê với văn chương, với môn văn(...) phải đọc tác phẩm trước theo từng thể
loại. Chẳng hạn, khi đọc một tác phẩm văn xuôi tự sự cần phải nắm được tình
huống, các sự kiện nổi bật, các bước ngoặt trên dòng cốt truyện, cần phải hiểu
được quá trình phát triển mối quan hệ giữa các nhân vật, các chi tiết nghệ thuật
đặc sắc (...). Các em cần đọc kĩ các câu hỏi hướng dẫn đọc hiểu ở từng bài, hệ
thống câu hỏi ôn tập cuối kì, cuối năm... Tất nhiên từ kiến thức đến xử lí, vận
dụng để viết được một bài văn hay còn là một chặng đường. Các em luyện viết,
luyện làm bài cho quen nghĩ, “quen tay”. Thường ít viết thì viết chậm viết khó”.
Có thể nói, đó là cách học, cách rèn luyện kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng vận dụng,
kĩ năng xử lí kiến thức, kĩ năng hành văn hết sức cần thiết cho học sinh.
Giáo viên cần nhắc nhở học sinh ôn tập theo hình thức “cuốn chiếu” các

trữ tình, kịch, chính luận...). Đó là phương pháp tích lũy kiến thức tốt nhất.
Ngoài ra học sinh cần phải ghi chép những ý kiến, quan điểm, nhận định của
các nhà nghiên cứu, đội ngũ sáng tác và cố gắng ghi nhớ để sử dụng cho việc
ôn tập phục vụ cho kiểm tra, thi cử.
2.3.4. Một số kĩ năng cần rèn luyện
Kĩ năng tự đọc hiểu văn bản
Với tự sự, học sinh cần tìm hiểu tới đề tài, chủ đề, cốt truyện, tình huống
truyện, nhân vật truyện như nhân vật chính- phụ, chính diện - phản diện, nhân
vật tính cách, nhân vật chức năng( truyện dân gian), nhân vật số phận, nhân vật
tư tưởng,...; sự việc, chi tiết truyện, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ kể chuyện.
Qua những phương tiện trên, học sinh từng bước hiểu ý nghĩa văn bản bằng hệ
thống câu hỏi thích hợp. Chẳng hạn, khi đọc hiểu Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
học sinh có thể tự hỏi để tự trả lời: Người đàn bà rách rưới, gầy sọp, điêu toa,
thô tục... được nhà văn xây dựng chứa đựng ẩn ý gì ? Việc nhà văn để cho Tràng
lấy vợ trong nạn đói lịch sử như thế là muốn nói điều gì?... Những câu hỏi như
thế, giúp học sinh nắm được ý nghĩa văn bản, hiểu được tư tưởng, tình cảm thái
độ nhà văn đối với xã hội và con người ngày ấy và ý nghĩa của nó đối với xã hội
hôm nay.
Với trữ tình, học sinh phải có kiến thức về các thể thơ như làm theo luật
Đường thi, thể thơ dân tộc, thơ hiện đại. Đối thơ, học sinh cần tìm hiểu về kết
cấu, niêm, đối, khám phá hình ảnh, nhịp điệu, hiệp vần thơ ngôn ngữ ước lệ, cô
đọng hàm xúc để tìm ra hàm ý sâu xa của văn bản.
Kĩ năng phân tích một vấn đề, một tình huống
Phân tích là thao tác xem xét đối tượng bằng việc chia tách chúng thành
những bộ phận, khía cạnh để xem xét, từ đó thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa
chúng. Chẳng hạn khi phân tích vẻ đẹp nhân vật trữ tình trong bài thơ Chiều tối
(Nhật kí trong tù) của Hồ Chí Minh, học sinh đọc kĩ bài thơ (so sánh đối chiếu

14


đủ luận cứ. Do vậy dẫn chứng đưa ra cần phải bao quát hết các khía cạnh của ý

15


kiến. Khi chọn dẫn chứng, học sinh luôn phải biết kết hợp giữa chọn đủ dẫn
chứng nhưng cũng phải tập trung vào một số dẫn chứng quan trọng trên cơ sở
vấn đề nghị luận hay luận điểm cần chứng minh.
Trình bày dẫn chứng: Tùy theo vấn đề nghị luận học sinh có thể sắp xếp
theo trình thự thời gian, trình tự không gian hay khía cạnh vấn đề. Đối với học
sinh khá giỏi, luyện kĩ năng sắp xếp dẫn chứng từ dễ đến khó và tăng dần sức
khái quát, sức thuyết phục là một yêu cầu đặt thường xuyên liên tục. Để có kĩ
năng này, ngoài “đặt bút” viết văn, học sinh cần đọc nhiều tài liệu tham khảo,
nhất là những bài nghiên cứu của những học giả có uy tín, những đoạn trích
học trong sách giáo khoa. Khi nêu dẫn chứng cần để dẫn chứng trong dấu ngoặc
kép.
Dẫn chứng nêu ra phải được phân tích, bình phẩm mới làm toát lên vấn
đề cần nói. Còn chỉ nêu mà không phân tích, bình phẩm thì bài văn chỉ là bảng
liệt kê đơn thuần không có tác dụng minh họa cho các luận điểm trong bài văn
nghị luận. Phân tích dẫn chứng là công việc đòi hỏi vận dụng các phương pháp
như: diễn dịch, quy nạp, tổng- phân- hợp, nêu phản đề, so sánh, phân tích nhân
quả,...
Kĩ năng hành văn
Bài viết phong phú, chính xác, đầy đủ về kiến thức là yêu cầu cần thiết
đối với văn nghị luận nhưng sẽ không thuyết phục nếu thiếu kĩ năng hành văn.
Vậy hành văn là gì? Hành văn là diễn đạt các ý lớn nhỏ trong dàn bài thành lời
văn. Lời văn chuẩn xác, truyền cảm.
Chuẩn xác được thể hiện ở dùng từ, đặt câu đúng trong sáng. Muốn vậy,
học sinh cần có thói quen đọc sách báo, tra từ điển để hiểu đúng nghĩa của từ
muốn dùng, nhất là các khái niệm trừu tượng, các thuật ngữ chuyên môn. Về

mới như mới về ý tưởng, mới về biểu đạt. Tuy nhiên để có sáng tạo là khó, cần
tập dần từ thấp đến cao. Muốn học sinh viết sáng tạo cần chú ý cách ra đề văn,
cần có những định hướng về cánh viết nhưng không làm mất đi yêu cầu sáng
tạo. GS Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Kinh nghiệm hành văn quan niệm: Văn
phải có giọng riêng và phải có hồn thể hiện tư tưởng riêng, thể hiện thái độ
khinh trọng yêu ghét riêng.
2.3.5. Rút kinh nghiệm
Những ưu điểm cần phát huy

17


Để thay đổi cách học cũ đã trở thành “sâu rễ bền gốc” trong học sinh và
lối dạy học một chiều thầy nói, thầy làm, trò nghe, trò chép không còn cách nào
khác là phải thay đổi cách dạy, cách học. Qua thể nghiệm, tôi thấy cần phát huy
những ưu điểm sau:
Học sinh đã có chiều hướng chuyển mình trong việc tự học. Cụ thể qua
kiểm tra bài cũ đa số học sinh đã trả lời được những ý khó khi giáo viên hỏi bổ
sung. Việc chuẩn bị bài theo câu hỏi hướng dẫn học bài, những yêu cầu của đọc
hiểu văn bản có nhiều khởi sắc giúp cho hoạt động học tập ở lớp sôi nổi hơn.
Các bài tập giáo viên ra về nhà hầu hết được các em làm theo hướng dẫn:
lập dàn ý chi tiết, viết thành lời văn một số đoạn, trong đó có viết phần mở bài,
kết bà i(thông qua việc kiểm tra vở bài tập).
Ngoài ra có nhiều học sinh đã tích cực tự làm bài tập khác như giải các đề
thi tốt nghiệp, cao đẳng đại học, học sinh giỏi các năm trước nhờ giáo viên đánh
giá để rút kinh nghiệm.
Khả năng hành văn trong các bài làm có nhiều tiến bộ, nhất là các bài
kiểm tra định kì, thi chọn học sinh giỏi cấp trường, thi chọn học sinh dự thi giỏi
cấp tỉnh, thi thử đại học. Nhiều bài đã phát huy kĩ năng viết sáng tạo.
Những vướng mắc cần khắc phục

Lớp thường
Lớp
Kết quả
Lớp
Kết quả
Không
học
bài
10C 0/44
0.0%
11C 0/40
0.0%
12D 0/46
0.0%

Học
chiếu
lệ
5/44
11.4%
8/40
20.0%
6/46
13.0%

Thuộc
bài
20/44
45.4%
22/40

14/39
35.9%

Thuộc
bài

Hiểu
bài

8/38
21.1%
20/41
48.7%
4/39
10.2%

0.0/38
0.0%
1/41
2.4%
0.0
0.0%

Bảng 2: Soạn bài
Rèn luyện theo phương pháp này
Lớp
Kết quả
Không
soạn
bài

Lớp
Kết quả

Soạn
chu
đáo

Không
soạn
bài
10D
11D
12E

19

Soạn
chiếu
lệ

9/38
20/38
23.68% 52.6 %
1/41
18/41
2.43% 43.9%
10/39 21/39
25,64% 53.84%

Soạn

Lớp
Không Làm
Làm
Làm
Không
Làm
Làm Làm hết
làm
chiếu
hết
hết và
làm bài chiếu
hết
và làm
bài
lệ, qua
làm
lệ, qua
thêm ở
loa
thêm ở
loa
sách
sách
khác
khác
10C 0/44
10/44
22/44 12/44 10D
12/38 20/39 6/39


III. KẾT LUẬN
3.1. Kết luận
Đề tài được trình bày đảm bảo tính khoa học của một sáng kiến kinh
nghiệm. Bố cục rõ ràng, hệ thống các luận điểm, luận cứ mạch lạc, lô gic. Đề tài
dựa trên tính lí thuyết và được vận dụng vào thực tiễn một cách đúng đắn, có
sức thuyết phục. Các số liệu lấy từ thực tế trước và sau khi sử dụng các phương
pháp rèn luyện kĩ năng tự học bộ môn Ngữ văn cho học sinh qua hoạt động học
và làm bài tập ở nhà.
Với kết quả thu được từ thể nghiệm, tôi thấy khả năng ứng dụng của đề
tài là khả quan. Các phương pháp rèn luyện kĩ năng cho học sinh về việc tự học
ở nhà phù hợp với các đối tượng học sinh từ yếu đến giỏi trên cơ sở hướng dẫn
của giáo viên ngữ văn.
3.2. Kiến nghị
Với các cấp quản lí, sở giáo dục cần tăng cường tổ chức các chuyên đề
bồi dưỡng giáo viên trên cơ sở nắm được thực tế học tập của học sinh ở bộ môn.

20


Quản lí cấp trường cần khích lệ động viên thầy cô giáo, mở các đợt trao đổi
phương pháp dạy học trong giáo viên.
Với giáo viên, đây là một công việc không đơn giản. Do vậy để có kết
quả, mỗi giáo viên phải thực sự chuyên tâm, vượt lên những khó khăn của đời
sống để góp phần đào tạo những công dân tích cực, chủ động, sáng tạo cho
tương lai đất nước.
Với học sinh, mỗi học sinh phải xác định được mục đích của việc học tập,
nhất là ý thức tự rèn luyện kĩ năng tự học ở nhà trên tinh thần hướng dẫn của
thầy cô giáo. Học sinh cần tăng cường học hỏi, trao đổi, kể cả với bạn bè. Cần
chủ động, tích cực trong việc tự học, tự rèn luyện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status