MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Huế - Di sản văn hóa của nhân loại từ lâu đã trở thành một điểm đến
hấp dẫn của du khách trong nước và quốc tế. Huế đẹp không chỉ bởi những
cảnh sắc thiên nhiên, không chỉ vì những lăng tẩm, đền đài mà Huế còn
quyến rũ bởi những nét độc đáo khác. Đó chính là văn hóa của người Huế.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, sự ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo,
Phật giáo và những điều kiện tự nhiên về kinh tế xã hội đã làm cho vùng đất
cố đô có những nét đặc trưng rất khác biệt so với các vùng khác ở Việt Nam.
Nền văn hóa Huế là sự kết hợp chặt chẽ, gắn kết giữa những điều kiện tự
nhiên, điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội và con người. Bởi vậy nó tạo nên
cho vùng đất cố đô này sự đa dạng, phong phú và những nét đặc trưng khác
biệt với những nền văn hóa khác trên đất nước, trong khu vực và xa hơn nữa
là thế giới. Và cũng chính sự phong phú, đa dạng, những nét đặc trưng văn
hóa đã tạo cho con người ở vùng đất cố đô có những nét tính cách đặc biệt,
mới mẻ và đầy bí ẩn.
Tính cách dân tộc, cũng như tính cách của con người một khu vực,
một địa phương được xem như là những đặc điểm tâm lý bền vững được
hình thành qua hoạt động lao động, sản xuất, hoạt động sống hàng ngày và
nó gắn bó rất chặt chẽ với văn hóa của địa phương, của khu vực và của dân
tộc đó.
Nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của người Huế nói chung, và tính
cách người Huế nói riêng là vấn đề còn rất ít nhà nghiên cứu quan tâm và
tìm đến các đề tài này, nếu không nói là chúng ta vẫn còn chưa có những
nghiên cứu như vậy. Song, đây lại là vấn đề nghiên cứu rất cần thiết. Nó có
ý nghĩa thiết thực cho việc giáo dục, phát triển kinh tế - xã hội của thành
phố cố đô này. Chúng ta cần phải phát huy những nét tính cách tích cực và
khắc phục những nét tính cách còn hạn chế trong bối cảnh phát triển kinh tế
- xã hội của Huế hiện nay. Đặc biệt trong xu thế phát triển, hội nhập, việc
nghiên cứu tính cách của người Huế vừa có ý nghĩa lí luận, vừa có ý nghĩa
thực tiễn. Nó sẽ là cơ sở khoa học để chúng ta hiểu sâu hơn về cách ứng xử,
điểm của Đảng, Nhà nước ta và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài là: phương pháp điền dã,
phương pháp thống kê - so sánh, phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu,
phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia.
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
gồm có 2 chương:
Chương 1: Tính cách đặc trưng của người Huế
Chương 2: Những ảnh hưởng của tính cách người Huế tác động đến sự phát
triển kinh tế-xã hội của vùng đất cố đô
2
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: TÍNH CÁCH ĐẶC TRƯNG CỦA NGƯỜI HUÊ
1.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách người Huế
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam bao gồm
phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông. Phần đất liền
Thừa Thiên Huế có tọa độ địa lý như sau:
Điểm cực Bắc: 16044'30'' vĩ Bắc và 107023'48'' kinh Đông tại thôn
Giáp Tây, xã Điền Hương, huyện Phong Điền.
Điểm cực Nam: 15059'30'' vĩ Bắc và 107041'52'' kinh Đông ở đỉnh núi
cực nam, xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông.
Điểm cực Tây: 16022'45'' vĩ Bắc và 107000'56'' kinh Đông tại bản
Paré, xã Hồng Thủy, huyện A Lưới.
Điểm cực Đông: 16013'18'' vĩ Bắc và 108012'57'' kinh Đông tại bờ
phía Đông đảo Sơn Chà, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc.
giai đoạn tân kiến tạo cho đến hiện tại. Địa hình tại đây được chia làm 4
loại:
Địa hình khu vực núi trung bình: khu vực núi trung bình chủ yếu
phân bố ở phía Tây, Tây Nam và Nam lãnh thổ, chiếm khoảng trên 25%
lãnh thổ của tỉnh.
Địa hình khu vực núi thấp và gò đồi: núi thấp và đồi phân bố trên
diện tích rộng nhất của khu vực địa hình đồi núi (trên 65%) và chiếm
khoảng 50% lãnh thổ toàn tỉnh.
Địa hình khu vực đồng bằng duyên hải: chiếm khoảng 16% diện tích
tự nhiên của tỉnh. Đồng bằng duyên hải Thừa Thiên Huế trải dài theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam trên 100km.
Địa hình khu vực đầm phá và biển ven bờ: Đầm phá, cồn cát chắn bờ
và biển ven bờ tuy khác nhau về hình thái và vị trí phân bố, nhưng lại có
quan hệ tương hỗ, quyết định lẫn nhau trong suốt quá trình hình thành toàn
bộ hệ thống lãnh thổ này.
d. Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất
Thừa Thiên Huế có tổng diện tích tự nhiên là 505.399 ha, trong đó
diện tích đất là 468.275 ha; hồ, ao, đầm, sông suối, núi đá là 37.124 ha. Đất
đồi núi chiếm trên 3/4 tổng diện tích tự nhiên, còn đất đồng bằng duyên hải
chỉ dưới 1/5 tổng diện tích tự nhiên của tỉnh.
4
Đất đai tại đây khá đa dạng, được hình thành từ 10 nhóm đất khác
nhau. Nhóm đất đỏ vàng có diện tích lớn nhất với 347.431ha, chiếm 68,7%
tổng diện tích tự nhiên. Diện tích đất bằng bao gồm đất thung lũng chỉ có
98.882 ha, chiếm 19,5% diện tích tự nhiên của tỉnh. Trong đó diện tích đất
cần cải tạo bao gồm: đất cồn cát, bãi cát và đất cát biển; nhóm đất phèn ít và
Nhóm khoáng sản nhiên liệu chủ yếu là than bùn, phân bố từ Phong
Điền ở phía Bắc đến Phú Lộc ở phía Nam, với các mỏ có trữ lượng lớn
(khoảng 5 triệu m3), chất lượng tốt và điều kiện khai thác thuận lợi tập
trung ở khu vực xã Phong Chương, huyện Phong Điền.
Nhóm khoáng sản kim loại có sắt, titan, chì, kẽm, vàng, thiếc,...với
trữ lượng nói chung không lớn, trừ sa khoáng titan. Nhóm khoáng sản phi
kim loại và nhóm vật liệu xây dựng là các nhóm có triển vọng lớn nhất của
Thừa Thiên Huế, bao gồm pyrit, phosphorit, kaolin, sét, đá granit, đá gabro,
đá vôi, cuội sỏi và cát xây dựng.
Như vậy, có thể nói những điều kiện tự nhiên đã tạo cho vùng đất cố
đô những nét văn hóa rất khác biệt, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính cách,
lối sống của con người ở vùng đất này
1.1.2. Điều kiện kinh tế-xã hội
a. Tình hình dân số, dân tộc
Theo kết quả điều tra ngày 1/4/2009, tỉnh Thừa Thiên Huế có
1.044.875 người. Trong đó, số người trong độ tuổi lao động xã hội toàn tỉnh
là 559.130 người, chiếm 53,51% dân số.
Trên địa bàn tỉnh có 35 dân tộc thiểu số sinh sống, đông nhất là dân
tộc Kinh có 1.006.171 người, chiếm 96,29% dân số. Các dân tộc thiểu số
như dân tộc Tà Ôi có 24.465 người, chiếm 2,34%; Dân tộc Cơ Tu có 12.178
người, chiếm 1,17%; dân tộc Bru-Vân Kiều có 783 người, chiếm 0,075%;
dân tộc Hoa có 390 người, chiếm 0,037%; dân tộc Tày có 178 người, chiếm
0,017% ; dân tộc Ngái có 96 người, chiếm 0,009%; dân tộc Mường có 89
người, chiếm 0,008% dân số.
Trình độ dân trí: Tính đến hết năm 2009 đã phổ cập giáo dục tiểu học
cho 9/9 huyện, đạt 100%; tỷ lệ biết chữ hiện nay là 98,6%. Số học sinh phổ
thông niên học: 2008-2009: 132.120 em/256.813 em; số giáo viên là 4.550
người. Kỳ thi tốt nghiệp phổ thông năm học 2008 - 2009, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp
đạt 86,29%, tăng 15,37% so với năm học trước. Cán bộ ngành dược toàn
huyện và xã vùng dân tộc và miền núi đã có điện lưới quốc gia hòa mạng,
với 89% số hộ được sử dụng điện lưới.
Hệ thống nước sinh hoạt: Toàn tỉnh có hệ thống cấp nước có công
suất 70 nghìn m3/ngày đêm. Hầu hết các thị trấn, cụm du lịch, khu công
nghiệp đã được đầu tư các trạm cấp nước nhỏ công suất 1.000 - 6.000
m3/ngày đêm. Hiện có 43/45 xã vùng dân tộc và miền núi có nước sạch sinh
hoạt, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch sinh hoạt đạt 65%. Hạ tầng nông
nghiệp, nông thôn được quan tâm đầu tư; đã cơ bản hoàn thành Chương
trình kiên cố kênh mương trước 1 năm. Kết quả đầu tư xây dựng các công
7
trình thủy lợi, kiên cố hóa hệ thống kênh mương đã góp phần chủ động tưới
tiêu cho diện tích 2 vụ lúa và một số diện tích màu.
c. Kinh tế - xã hôi tính đến năm 2009
•
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm đạt 6.8%
•
Thu nhập bình quân đầu người đạt trên 1000USD/năm
•
Về cơ cấu ngành:
Lĩnh vực công nghiệp đã tập trung cơ cấu lại sản xuất để vượt qua
khó khăn, ổn định và phát triển. Giá trị sản xuất ước đạt 5604,7 tỷ đồng,
bệnh xảy ra.
Đời sống các gia đình có công, đối tượng chính sách xã hội, trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn đã được chú trọng chăm lo. Tổ chức tốt các hoạt
động cứu trợ các gia đình bị thiệt hại về người và tài sản trong bão số 9.
Chương trình an sinh xã hội đã thực hiện có kết quả các chính sách
kích thích kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội hướng vào người nghèo, vùng
miền núi, ven biển, đầm phá. Chương trình định cư dân thủy diện đã ưu tiên
nguồn lực đầu tư hạ tầng các khu định cư, cơ bản hoàn thành giao đất cho
356 hộ dân thủy diện. Chương trình định cư và cải thiện cuộc sống dân vạn
đò sông Hương đã cơ bản hoàn thành hạ tầng các khu tái định cư ở Phú
Mậu, Hương Sơ và 08 nhà chung cư tại Phú Hậu, tổ chức di dân, ổn định
cuộc sống cho 562 hộ. Nhờ nỗ lực thực hiện đồng bộ nhiều giải quyết, đã
giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 8%.
Công tác phòng chống tệ nạn xã hội đã được chú trọng, tiếp tục phát
động phong trào đăng ký xây dựng mới xã/phường lành mạnh không có tệ
nạn ma túy, mại dâm; tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền về công tác
phòng chống tệ nạn xã hội, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và triệt
phá ổ nhóm.., góp phần hạn chế tệ nạn xã hội trên địa bàn.
1.1.3. Điều kiện văn hóa, nền văn hóa cố đô
Khi nói về văn hóa, nhiều học giả cổ điển đã đưa ra nhiều khái niệm
văn hóa khác nhau: Văn hóa Tiền sử, văn hóa Trung cổ, văn hóa Ấn Hà,
văn hóa Đông Sơn… Nhưng càng về sau nầy, khi mức độ chuyên môn hóa
càng cao thì khái niệm văn hóa càng được giới hạn trong những phạm vi cụ
thể và rõ ràng hơn. Văn hóa được xem như là “Lối nghĩ, lối sống của một
nhóm người trong một khung cảnh xã hội nào đó.”
Nói đến văn hóa là nói đến một thực thể bao gồm ba mặt: Truyền
thống, con người và lối sống. Chính cái mới, cái lạ, cái khác, cái độc đáo
trội bật trong ba mặt này là chất liệu điển hình xây dựng bản sắc của văn
hóa. Martin Almond trong loạt bài nhan đề The Vanishing Arctic (Bắc Cực
Mù Khơi), nói về bản sắc văn hóa độc đáo của giống người Eskimo xứ tuyết
Đinh Gia Khánh viết “Chúng ta ngắm mâm cổ của một người nội trợ Huế
thì có cảm giác như đang chiêm ngưỡng một mâm hoa; ở đó đường nét các
loài hoa, màu sắc của chúng tạo nên sự hài hòa kỳ lạ” 2. Trang phục của
người phụ nữ Huế cũng điển hình cho sự tinh tế, dịu dàng. Chiếc nón xứ
Huế có dáng mỏng như tờ giấy, nhẹ nhàng như cánh nhạn, đẹp và bền được
1
2
Tiếng Huế- Con Người Huế và Văn Hóa Huế, Chuyên đề III. Số 5. Ngày 14-6-2004
Tạp chí Tâm lý học số 12- 2008
10
nhiều người ưa thích. Chiếc áo dài màu tím xứ Huế có vẻ đẹp khiêm
nhường, dịu dàng và rất tinh tế.
Trong đề tài cấp Bộ, mã số B2007-ĐHH 01-41, từ trang 66-82, tác
giả Hoàng Ngọc Vĩnh viết: “1. Thừa Thiên Huế là địa phương có nhiều tín
ngưỡng dân gian. Thực hành các tín ngưỡng dân gian là một biểu hiện
của văn hóa tinh thần của con người Huế xưa./ 2. Tôn trọng quỷ thần và
tuyệt đối hoá phạm trù Lễ của Nho giáo là một trong những nét riêng của
văn hóa tinh thần con người Huế trong lịch sử. Tuy nhiên có hạn chế,
nhưng Nho giáo cũng có những dấu ấn tích cực trong đời sống văn hóa
tinh thần con người Huế: Lối sống lễ phép, tôn tri trật tự, kính trên
nhường dưới, tôn sư trọng đạo, hiếu thuận với cha mẹ, giữ chữ tín với bạn
bè, hiếu học,... Đặc biệt, trong giao tiếp giải quyết công việc luôn đảm bảo
nguyên tắc./ 3. Lão giáo không với tư cách là thế giới quan, nhưng Lão
giáo phù thuỷ lại là nếp sinh hoạt đời sống tâm linh của bộ phận không
nhỏ trong cư dân Huế./ 4. Sống, sinh hoạt theo đạo đức Phật giáo là một
như giọt nước sông Hương vỡ trên mái chèo Thừa Phủ. Chất Huế không bao
giờ phôi pha vì nó không phải là một đáp số mà mãi mãi vẫn là một ẩn số
cao vời. Như vậy, Huế mang trong mình một dáng vẻ rất riêng với nhiều đặc
điểm tiêu biểu của văn hóa cố đô như sau:
Văn hóa Huế, một nền văn hóa của sự hài hòa và gắn bó giữa môi
trường sống và chủ nhân của nó
Người ta thường nói văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con
người trong cuộc sinh tồn của mình, thì con người Huế trong lịch sử vươn
lên phía trước đã ứng xử hợp với tự nhiên, để rồi tự nhiên hữu tình vì có con
người và cho con người.
Huế không chỉ là xứ sở của sông Hương - núi Ngự mà Huế có đủ núi
- đồi, sông - biển, đầm - phá, đất - cát, cồn - bàu. Huế có núi đồi nhấp nhô
với Kim Phụng, Ngự Bình, Vọng Cảnh; có dòng sông êm đềm với Hương
Giang, An Cựu, Như Ý, Lợi Nông; có đầm Chuồn, Cầu Hai; có phá Tam
Giang; lại có Cồn Hến, Giã Viên v.v... Huế có tất cả đất núi đồi, đất thịt và
cả đất cát ven phá, ven biển... Không những thế, thiên nhiên Huế lại quyện
vào nhau, sơn thủy hữu tình, phong cảnh kỳ thú. Sống trong khung cảnh
thiên nhiên hòa quyện như vậy, con người Huế đã sớm đùm bọc, gắn bó với
nhau, kể từ ngày vào mảnh đất làm “quà cưới” này lập làng, sinh sống.
Con người đã biết dựa vào và biến đổi cái tự nhiên của Huế để sáng
tạo nên lịch sử - văn hóa Huế. Cái hài hòa, êm đềm của phong cảnh Huế đã
ăn nhập vào con người Huế nhuần nhị và sâu lắng.
12
Văn hóa Huế, một nền văn hóa được làm giàu bởi các dòng văn
hóa đô thị - văn hóa làng (chùa) và văn hóa cung đình (bác học) - văn
hóa dân gian không có sự đối lập, loại trừ.
Năm 1802, vua Gia Long lập ra triều Nguyễn, định đô ở Phú Xuân,
khiến chân dung của kiến trúc đô thị Huế trên một góc độ nào đó phải được
nhìn nhận như một ngôi làng lớn có nét bình dị của chốn thôn dã, nhưng cũng
mang chất kiêu kỳ sang trọng, nếp quyền quý phong lưu của một thời vang
bóng.
Ở chốn thần kinh, tinh hoa văn hóa được dịp hội tụ và phát triển,
dòng văn hóa cung đình - bác học xuất hiện với những di sản tinh thần quý
giá về các lĩnh vực thơ ca, âm nhạc, kiến trúc, nghệ thuật múa, nghệ thuật
trang trí.
Trong khi đó, không xa kinh thành Huế, vẫn là các làng quê với lối
sống làng quê của mình. Các làng An Hòa, Vĩ Da... sát nách Kinh thành vẫn
là các làng chủ yếu sinh sống bằng kinh tế nông nghiệp. Ngoài nghề nông
làm ruộng, nhiều làng có thêm nghề làm vườn với những loại cây trái đặc
sản: quýt Hương Cần, nhãn lồng Kim Long, thanh trà Nguyệt Biều, chè
Tuần...
Văn hóa Làng của những làng quê Huế phản ánh quan phong tục, tập
quán của cư dân làm ruộng, làm vườn và nghề thủ công. Riêng trong lĩnh
vực tín ngưỡng dân gian, hằng năm đều đặn diễn ra những lễ hội, cúng tế ở
các làng. Ngoài ra còn có những lễ hội mang tính truyền của làng hoặc lễ
hội của những làng nghề: Làng Sình mở hội vật vào ngày 10 tháng Giêng
Âm lịch, làng Thai Dương có hội Cầu Ngư vào ngày 12 tháng Giêng Âm
lịch, làng Hiền Lương có lễ cúng tổ nghề rèn vào 18/12 v.v...
Trong làng có đình, nơi thờ cúng chư thần, cử hành tế lễ và hội họp
của làng. Trong làng lại có chùa. Hầu hết các làng ở Huế đều có chùa. Trong
chùa gian chính thờ các vị Phật, còn ở án hậu thờ ngài khai canh các họ của
làng. Với số lượng trên 150 ngôi chùa lớn, nhỏ, Phật giáo đã và đang có một
vai trò quan trọng trong văn hóa dân gian Huế. Có người cho rằng Huế còn
là kinh đô của Phật giáo, ở Huế đã hình thành dòng văn hóa chùa, tiêu biểu
cho bản sắc của văn hóa Huế...
Sự dung hợp giữa các dòng văn hóa trên đã làm giàu cho văn hóa
cái nhìn phong thuỷ, kinh đô Huế được xây dựng trên một địa thế núi sông,
âm dương hoà hợp, tạo nên một không gian kiến trúc “tạo cảnh” mang nhiều
triết lý sâu xa, huyền bí.
Kiến trúc ở Huế không nguy nga đồ sộ và xa hoa lộng lẫy, nhưng Huế
vẫn hấp dẫn con người bởi những công trình kiến trúc dung hợp với cảnh
quan tự nhiên đó. Nét đẹp của nghệ thuật kiến trúc ở Huế còn ở chiều cao
của công trình (ngôi tháp Phước Duyên cao 7 tầng cũng chỉ 21 m). Lâu đầu,
cung điện, lăng tẩm, đình chùa... không vượt quá cao so với hàng cây làm
đẹp cho không gian kiến trúc.
3
Kiến trúc Huế Xưa và Nay- Dư địa chí Thừa Thiên Huế
15
Nét riêng của văn hóa Huế còn được thể hiện qua ăn nói, ăn mặc, ăn
uống, ăn học và cả ăn chơi của người Huế. Trong ăn nói, người Huế luôn
tôn trọng thứ bậc thể hiện qua cách xưng hô ở làng, họ và gia đình, không
phân biệt tuổi tác, giàu sang, nghèo hèn (có cả một hệ thống xưng hô khác
với nhiều vùng). Đối với xóm giềng, lạ cũng như quen đều căn cứ vào tuổi
tác mà ăn nói. Trên địa bàn Thừa Thiên Huế hiện nay đều có chung một thứ
tiếng là tiếng Huế, chung là thứ giọng là giọng Huế, không phân biệt dân
làng hay thành phố. Người ta vẫn biết đến giọng Huế nhẹ nhàng, có phần e
ấp của những cô gái Huế./.
Trong đời sống tinh thần người Việt, Huế đã là trung tâm văn hóa.
Tuy cộng đồng người Huế không lớn lắm, nhưng đã tạo ra một truyền thống
văn hóa nghệ thuật riêng, hệ thống các quan niệm nhân văn biểu hiện qua
những phong tục tập quán ứng xử, thờ phụng, cách nấu ăn, may mặc, giải
trí, cách xây dựng nhà ở và đô thị... Người Huế có những khát vọng và
dung dị, tinh tế và trầm lắng. Đây là một nét tính cách rất đặc trưng của
người Huế. Nét tính cách này không chỉ thể hiện trong cách ứng xử hàng
ngày từ gia đình đến nơi công sở, nơi công cộng. Nhà nghiên cứu văn hóa
GS. Ngô Đức Thịnh cho rằng con người Huế không hướng đến sự sặc sỡ, ồn
ào (Ngô Đức Thịnh, 2006). Đến Huế, chúng ta không bắt gặp sự ồn ào, náo
nhiệt như ở thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, hay ở thành phố Biên Hòa.
Chúng ta bắt gặp những giọng nói nhỏ nhẹ, khiêm nhường và giàu tình cảm
của người Huế trong các cơ quan, trường học đến đường phố…du khách
đến Huế không thể không có ấn tượng và không thể không lắng đọng trong
tâm trí về cách xưng hô của các cô gái Huế với những câu “vâng”, “dạ” nhẹ
nhàng.
Một đặc điểm khác khá đặc trưng về nét tính cách của người Huế đó
là ngôn ngữ. Nó đã thể hiện được rõ nét thanh lịch, dịu dàng của con người
xứ Huế. Nó mộc mạc, giản dị trong cách xưng hô, trong lời ăn tiếng nói
hằng ngày. Các nhà ngôn ngữ học khi phân chia các phương ngữ của tiếng
việt, thậm chí đã coi “Tiếng Huế” là một phương ngữ riêng, không lẫn với
bất kỳ phương ngữ nào. Khi giao tiếp người Huế thường sử dụng các từ ngữ
địa phương như mô, tê, răng, rứa, mần, chi, hè, hí… cùng với sự chất phác,
thật thà tốt bụng của mình. Tất cả những yếu tố đó đã làm cho ngôn ngữ
người Huế trở nên ngọt ngào, đầm ấm, đầy sức quyến rũ lòng người.
Vùng đất kinh đô xưa đã tạo cho người dân nơi đây một phong thái
thanh tao, cao nhã nhưng rất đằm thắm nhẹ nhàng, điều này không chỉ có ở
những phi tần, mỹ nữ, những vương tôn quý tử trong Hoàng thành mà còn
lan tỏa trong tầng lớp nhân dân. Cái phong thái cao nhã ấy nó ẩn hiện ngay
từ tiếng “dạ, thưa” mềm mại từ cái dáng đi nhẹ nhàng uyển chuyến trong
chiếc áo dài tím thướt tha, để giờ đây Huế như một viên ngọc tím huyền ảo
mà ai cũng biết tới.
5
Triết lý nhân sinh Phật giáo ảnh hưởng đến tính cách, lối sống Huế- Lê Thị Toán, Th.s trung tâm bảo tồn
GS.Ngô Đúc Thịnh, tính cách Huế phải chăng là sự kết hợp giữa cái phô
thác, tĩnh lặng của vùng biên viễn với cái sôi động, nhuần nhụy của trung
tâm.
1.2.2. Sự chừng mực, khiêm tốn, kín đáo
Một nét tính cách tiêu biểu nữa của người Huế là sự chừng mực. Sự
chừng mực của người Huế thể hiện ở chỗ không thái quá, cũng không ít
quá. Điều này dường như được thể hiện ở trong nhiều khía cạnh của cuộc
sống.
18
Nếu như trong giao tiếp người Nam Bộ cởi mở không cần các nghi
thức cầu kì và thoải mái, người vùng đồng bằng Bắc Bộ nhiều khi quá chú ý
đến các nghi thức trong giao tiếp, ứng xử thì người Huế trong ứng xử lại
không quá ồn ào, vừa phải, không lạnh lùng, nhưng vẫn đằm thắm và sâu
lắng. Tiếp xúc với người Huế ta cảm nhận được những tình cảm chân thành,
sâu sắc và sự hiếu khách nhưng tất cả những sắc thái tình cảm đó được thể
hiện một cách chừng mực đến mức độ vừa đủ, không quá vồn vã nhưng
cũng không thờ ơ, lạnh nhạt. Thậm chí khi có mâu thuẫn họ cũng không to
tiếng la mắng, quát tháo, xung đột gay gắt như người miền Bắc hay người
miền Nam mà nhẹ nhàng hơn, hòa nghị hơn (nhưng cứng rắn), họ hay sợ
làm mếch lòng người khác. Chẳng hạn nếu đi trên đường nhỡ quẹt xe vào
nhau người miền khác có thể trợn mắt la lối, thậm chí đòi đánh nhau thì
người Huế chỉ hỏi thăm nhau, nhắc nhở nhau,…
Tất cả những sắc thái tình cảm đó được thể hiện một cách có chừng
mực đến mức độ vừa phải.
Trong kinh doanh buôn bán cũng vừa đủ, có chừng. Thường thì
những nhà hàng ở Huế quy mô không lớn, phục vụ khoảng 5 -7 người chủ
yếu, đôi khi nhu cầu người mua đông đúc họ cũng không nao lòng, họ
không có ý nghĩ s ẽ mở phạm vi hoạt động, kinh doanh rộng lớn hơn dù nhu
thị trường không ảnh hưởng nhiều đến nét tính cách này của người Huế và
có lẽ chính do nét tính cách như vậy mà người ta ít cảm nhận được sự sôi
động của cơ chế thị trường ở mảnh đất cố đô này.
Dường như vùng đất cố đô đã có sức ảnh hưởng mạnh tới nét tính
cách của người dân nơi đây. Ở Huế có nhiều gia đình sống theo kiểu “Tam
đại đồng đường”, “Tứ đại đồng đường”; nghĩa là ba, bốn thế hệ sống dưới
một mái nhà chung, rất đầm ấm, hòa thuận. Đó là biểu hiện tính mẫu mực
của gia đình truyền thống. Trong gia đình, người Huế sống có trên có dưới,
người nhỏ hơn phải nghe lời người lớn hơn. Biểu hiện rõ nhất là lễ nghi “đi
thưa, về trình”. Nó đã trở thành nếp sống, thành tiềm thức của người Huế.
Vì hạnh phúc gia đình mà người Huế luôn chọn cho mình một cách sống
riêng, người nhỏ hơn thì nhẫn nhịn, người lớn hơn thì mẫu mực, mọi người
luôn nhường nhịn nhau, cố hết sức để giữ cho gia đình hòa thuận, ấm êm.
Giáo dục gia đình rất được người Huế đề cao và thực tế đây là yếu tố quan
trọng nhất trong việc hình thành, phát triển nhân cách của con người nơi
đây. Gần như các lễ nghi, các cách thức sống, ứng xử…của người Huế đều
được giáo dục ngay trong gia đình. Nhờ vậy mà trong giao tiếp, ứng xử
người Huế thường có sự chừng mực, có ý thức về những việc nên làm và
không nên làm, những điều nên nói và không nên nói; cũng như cách ứng
20
xử với từng mối quan hệ cụ thể giữa anh với em, cha mẹ với con, chồng với
vợ…
Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng sự chừng mực trong tính cách của
người Huế còn thể hiện qua nhu cầu thẩm mỹ, đến các nhu cầu ẩm thực của
đời sống.
Trong ăn mặc: Theo GS. Phan Hữu Dật, khi chọn các hoa văn trên áo
dài, người phụ nữ Huế không thích loại hoa to, hoa tương phản, sặc sỡ, mà
khác biết, có khi là e ấp, cũng có khi là ỡm ờ. Trong hai câu thơ của Đông
Hồ nhắc đến cô gái Huế: “Gió chiều vương áo nàng Tôn Nữ, quai lọng
nghiêng vành chiếc nón thơ”, ta cảm thấy các món trang sức như tà áo,
chiếc nón, bài thơ trong nón đều góp phần tạo nên nét duyên e ấp của “nàng
Tôn Nữ” và nàng Tôn Nữ ở đây dùng để chỉ chung các thiếu nữ Huế. Một
tác giả Pháp chấm phá dung nhan này như sau: “... Các cô gái Huế kiêu sa
và dễ làm ra vẻ khinh khỉnh, họ là đám hậu sinh của các phi tần không bao
giờ quên rằng một giọt máu thiên tử đang chảy truyền trong huyết quản của
mình”(Jean Hougron, Soleil au ventre, trang 67).
1.2.3. Đức tính cần cù, sự chịu thương chịu khó
Đây là nét tính cách rất đặc trưng của con người Huế. Nét tính cách
này chịu sự chi phối rất mạnh mẽ của những điều kiện tự nhiên, điều kiện
kinh tế-xã hội và nền văn hóa của một vùng. Không như ở Nam Bộ, con
người ở đây sống rất thoải mái, ít lo đến miếng cơm, manh áo, ít suy nghĩ
đến đời sống của họ, cuộc sống của họ luôn bình thản, làm có bao nhiêu an
bấy nhiêu không lo đến ngày mai. Ở Bắc Bộ cũng vậy, những điều kiện tự
nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội thuận lợi, đặc biệt có thủ đô Hà Nội là trung
tâm kinh tế lớn nhất cả nước nên con người ở đây cũng rất có điều kiện để
phát triển kinh tế, chăm lo gia đình. Riêng ở Trung Bộ, trong đó có Huế, với
những điều kiện tự nhiên không thuận lợi, quanh năm hết nắng gắt, khô cằn
lại đến mưa giông, bão lụt thường xuyên (theo trung tâm dự báo khí tượng
thủy văn cung cấp thì ở Huế mỗi năm phải hứng chịu từ 9 đến 12 cơn bão
lớn nhỏ khác nhau) đã làm cho nền kinh tế vùng đất này phát triển rất hạn
chế, cuộc sống con người ở đây rất cực khổ, rất khó khăn, bởi không vì thế
mà mỗi con người khi nơi khác đến Huế đều gọi Huế là những nhà tư sản
nghèo… Những điều kiện đó thử hỏi con người ở đây không cần cù, chịu
thương chịu khó thì lấy đâu ra của cải, điều kiện vật chất để mưu sinh, chăm
lo cho con cái, gia đình. Thử hỏi họ không cần cù, chịu thương chịu khó
giành dụm, cứ sống thoải mái như những con người ở Miền Nam như vậy
thì những ngày mai, ngày tiếp theo của họ sẽ như thế nào nếu một cơn bão
phần đưa tỉnh nhà phát triển để sánh vai với các tỉnh bạn.
Một mặt nữa rất dễ nhìn thấy trong nét tính cách này của người Huế
đó là con người Huế rất nhẹ nhàng, tình cảm. Sở dĩ có điều này là vì nhiều
nhà tâm lí giải thích rằng ở những nơi có điều kiện kinh tế, xã hội phát triển
chậm thì con người ở đó rất cần cù, chịu thương chịu khó, họ không phô
trương, mạnh mẽ như nhiều người khác mà ngược lại rất nhẹ nhàng, tình
cảm trong cuộc sống, gia đình.
23
Người con của Huế cảm thấy khó lòng rời xa bàn thờ tổ tiên hoặc cõi
nhà vườn của mình. Tuy nhiên vẫn có cảm nghĩ chưa bỏ nhà ra đi vẫn chưa
viên thành vận số của mình. Và một khi xa xứ, bắt đầu nảy nở trong tâm
thức kẻ ly hương một loại tình cảm mới: tình cảm hoài hương. Loại tình
cảm này có tính cách siêu hình, thâm sâu như tình con với mẹ, nó âm ỉ như
mạch ngầm, như than hồng vùi dưới tàn tro. Xin đừng xem đó là một thứ
tình cảm nhi nữ thường tình, ủy mị. Nó vừa giúp con người không quên
nguyên quán của mình, vừa thôi thúc con người sống chẳng phải cho bản
thân, mà cho một vận hội chung, có tính vị tha, hướng thượng. Trong nhận
thức ấy, con người lưu vong gầy dựng hội đoàn, tập thể ái hữu hướng vọng
về quê hương, xem đó như những ốc đảo tình cảm giữa đời sống mênh
mông.
Nói tóm lại, sự cần cù, chịu thương chịu khó trong tính cách của con
người Huế được thể hiện rất rõ ràng, cụ thể qua nhiều khía cạnh của xã hội.
Chính vì nét tính cách này của người Huế đã làm cho nhiều người, nhiều
vùng miền khác trên đất nước Việt Nam luôn yêu thương, chia sẻ với Huế
như lời bài hát: “ Cả nước yêu thương/ Ôm Huế vào lòng/ Sẻ chia đắng cay/
Gian khổ mặn nồng…”
1.2.4. Sự hài hòa, hòa đồng với thiên nhiên
thắm của sản phẩm nơi đồng ruộng, đầm phá, núi sông đất cố đô song cũng
không kém phần sang trọng tinh tế với cách bài trí món ăn mang tính nghệ
thuật của các món ăn cung đình.
Những loại đặc sản bốn mùa của người Huế có thể nấu tới 300 món
ăn khó nơi nào có thể sánh kịp. Món ăn dân dã và khó quên nhất khi du
khách tới Huế đầu tiên có thể kế tới món cơm hến. Cơm hến ngon nhờ tài
pha chế nhiều thành phần các loại gia vị rất độc đáo và cầu kỳ. Địa điểm để
thưởng thức món cơm hến ngon đúng chất ngon đậm đà có thể kể đến Cồn
hến hay thuận tiện hơn bạn cũng có thể ghé lại những quán nhỏ ở đường
Trương Định hay những nhà hàng nổi tiếng như Nam Giao hoài cổ, Vĩ Dạ
xưa… Và nếu có dịp dừng chân dùng bữa cơm ở Huế bạn sẽ được thưởng
thức những món rất đồng quê và dân dã mà ngon đến lạ. Đơn giản như món
cá bống thệ kho rau răm với nước dừa, món canh rau tập tàng mà vườn nhà
ai cũng có sẵn, bát canh thịt heo nấu với lá bông ngọt, lá mồng tơi, ngọn
sần, búp hoa bí ngô xào kèm với tôm hay thịt bò và không thể thiếu đĩa rau
sống cùng một chén nước mắm ngon.
Đặc biệt, món ăn chay được người Huế chế biến rất cầu kỳ và ngon
không kém món ăn mặn (có khoảng 125 món). Ngoài ra, Huế còn có những
món ăn đặc sản như bún bò, giò heo, mà nổi tiếng nhất là bún Gia Hội, chợ
Tuần. Bên cạnh đó còn hàng chục loại bánh mặn, ngọt mà ai đã một lần nếm
25