pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ, bình luận bản án - Pdf 43


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

MỤC LỤC
--o0o--

Bản án số: ***/2014/KDTM-ST
Ngày xét xử: 27/5/2014
Lớp 7BVB2CQ- Nhóm 1
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa

BÀI TẬP GIỮA KÌ

Ngân hàng X và Công ty Y

MÔN HỌC: PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI
HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ

Đề tài: Bình luận bản án

Bản án số: ***/2014/KDTM-ST

Sinh viên:

Tranh chấp hợp đồng tín dụng
giữa Ngân hàng X và Công ty Y

1.
2.
3.

Tạ Nguyễn Ngọc Huyên
Nguyễn Thị Huyền Trâm

TP.HCM, năm 2016
__________________________________________________________________________________
Trang 2/24


Bản án số: ***/2014/KDTM-ST
Ngày xét xử: 27/5/2014
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa
Ngân hàng X và Công ty Y
A) TÓM TẮT BẢN ÁN
1) Đương sự
*) Nguyên đơn: Ngân hàng X
Địa chỉ: ***, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn T
*) Bị đơn: Công ty Y
Địa chỉ: ***, Quận 1, TPHCM.
Đại diện theo pháp luật: Bà Phạm H
*) Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: gồm 7 người(gọi tắt là
A,B,C,D,E,F,K)
D, E là người đại diện theo pháp luật của F,K
Trong phiên tòa sơ thẩm: đại diện nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan A có mặt tại phiên tòa. Bị đơn và C,B,E vắng mặt tại phiên tòa có đề nghị
xét xử vắng mặt. D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
2) Nội dung tình huống
Ngày 16/9/2010 Ngân hàng X có cho Công ty Y vay theo hợp đồng tín dụng
trung hạn số ***/2010/HĐ vay theo Hợp đồng tín dụng trung hạn số với số tiền vay 5
tỷ đồng, mục đích vay để công ty thanh toán chi phí đầu tư các hạng mục công trình

quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất tại địa chỉ ***, Quận 3, Tp. Hồ Chí
Minh.
Yêu cầu của các đương sự như sau:
+) Nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc Bị đơn phải trả các khoản nợ
tạm tính đến hết ngày 20/5/2014 như sau: Nợ gốc còn lại: 4.211.000.000 đồng; Lãi
trong hạn: 2.953.367.750 đồng; Lãi quá hạn: 712.000.000 đồng; Tổng cộng:
7.147.172.833 đồng. Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải trả các khoản nợ trên một lần
ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật và tiền lãi phát sinh từ ngày 21/5/2014 theo mức
lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng tín dụng trung hạn số ***/2010/HĐ ngày
16/9/2010 cho đến khi Bị đơn thực trả hết nợ. Trường hợp Bị đơn không trả được các
khoản nợ trên đề nghị phát mãi các tài sản thế chấp đã trình bày kể trên để Nguyên
đơn thu hồi nợ.
Tại phiên tòa, Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc Bị đơn phải trả tiền thuê dịch
vụ bảo vệ tài sản thế chấp tính từ ngày 08/5/2013 tạm tính đến 19/5/2014 là
246.000.000 đồng và chi phí thuê dịch vụ bảo vệ tiếp theo tính từ ngày 20/5/2014 theo
các Hợp đồng dịch vụ bảo vệ Nguyên đơn ký với Công ty bảo vệ.
+) Bị đơn: Bị đơn do bà Phạm H là đại diện theo pháp luật trình bày tại bản tự
khai ngày 29/7/2013: Các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký và tài sản thế chấp
đề nghị Tòa căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ giải quyết theo quy định của pháp
__________________________________________________________________________________
Trang 4/24


luật, bà không có ý kiến gì. Vì lý do sức khỏe không tốt nên bà xin vắng mặt trong các
buổi Tòa án triệu tập, làm việc và cả khi xét xử vụ án.
+) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 1 tuyên bố việc thế chấp tài sản hình thành trong
tương lai là công trình xây dựng trên đất và toàn bộ trang thiết bị, bàn ghế dùng để
kinh doanh nhà hàng tại nhà số ***, Q.3, TP.HCM của Công Ty Cổ Phần Y đối với
Ngân hàng X là vô hiệu với lí do: 1) Hợp đồng vay tiền giữa CTCP Y và Ngân hàng


bảo đảm;
Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định về Quy định chi

-

tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 và danh mục mức án phí, lệ phí ban hành
kèm theo.
*) Giải quyết:
__________________________________________________________________________________
Trang 5/24


Về Quan hệ tranh chấp-thẩm quyển giải quyết: Đây là tranh chấp hợp đồng tín
dụng, các bên tham gia có tư cách pháp nhân, Bị đơn có trụ sở tại ***, Quận 1,
TPHCM, do đó thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 1(theo Điểm m, Khoản
1, Điều 29; Điểm b, Khoản 1, Điều 33; Bộ luật Tố tụng dân sự đã sửa đổi, bổ sung
một số điều năm 2011)
Về các nội dung yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử giải quyết như sau:
+ Buộc Bị đơn Công ty Y phải trả cho Nguyên đơn Ngân hàng X các khoản
tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng trung hạn số 2651/2010/HĐ ngày 16/9/2010 tạm
tính đến 20/5/2014 cụ thể như sau: Nợ gốc còn lại: 4.211.000.000 đồng; Lãi trong hạn:
2.953.367.750 đồng; Lãi quá hạn: 712.000.000 đồng; Tổng cộng: 7.147.172.833 đồng.
Bị đơn phải trả các khoản nợ trên một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật và tiền
lãi phát sinh từ ngày 21/5/2014 theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng
tín dụng trung hạn số 2651/2010/HĐ ngày 16/9/2010 cho đến khi Bị đơn thực trả hết
nợ. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp Bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ kể trên,
Nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là


Thẩm quyền theo vụ việc:
Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng X và Công ty Y, các
bên tham gia có tư cách pháp nhân. Hai bên khi kí kết hợp đồng tín dụng là nhằm mục
đích sinh lợi, vì vậy, đây là hoạt động thương mại theo khoản 1, Điều 3, Luật thương
mại 2005: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm
mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác.”
Căn cứ điểm m, khoản 1, Điều 29, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã sửa
đổi, bổ sung một số điều năm 2011 thì các tranh chấp đầu tư, tài chính, ngân hàng phát
sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với
nhau và đều có mục đích lợi nhuận là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

-

Thẩm quyền theo cấp tòa:
Tranh chấp phát sinh là tranh chấp về hợp đồng tín dụng trong đầu tư, tài chính,
ngân hàng, thuộc điểm m, khoản 1, Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã sửa
đổi, bổ sung một số điều năm 2011, và đang được tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm.
Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 33, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã sửa đổi,
bổ sung một số điều năm 2011, tòa án nhân dân quận có thẩm quyền giải quyết theo
__________________________________________________________________________________
Trang 7/24


thủ tục sơ thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1,
Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2011.
Do vậy, việc tòa án nhân dân quận thụ lý vụ tranh chấp trên theo thủ tục sơ

quy định tại Khoản 3, Điều 2, Nghị định 178/1999/NĐ-CP: “Tài sản hình thành từ
vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản được tạo nên bởi một phần
hoặc toàn bộ khoản vay của tổ chức tín dụng.” Tuy nhiên, Nghị định 178/1999/NĐ__________________________________________________________________________________
Trang 8/24


CP đã bị thay thế bởi Nghị định 163/2006/NĐ-CP, và trong Nghị định 163/2006/NĐCP đã không còn quy định về tài sản hình thành trong vốn vay nữa, thay vào đó, Nghị
định 163/2006/NĐ-CP đã đưa ra quy định về “Tài sản hình thành trong tương lai”.
Tại thời điểm xét xử vụ việc, thì Nghị định 163/2006/NĐ-CP đang có hiệu lực thi
hành.
Trong tình huống tranh chấp đang xem xét, thì sau thời gian xây dựng nhà hàng
khoảng 3 tháng, nhà hàng đã tiến hành khai trương và kinh doanh vào giữa tháng
8/2010. Sau khi nhà hàng khai trương và chính thức đi vào hoạt động thì Công ty Y
mới ký Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay với Ngân hàng X vào ngày
16/9/2010 tức là sau ngày nhà hàng khai trương khoảng 1 tháng. Như vậy tài sản thế
chấp (Nhà hàng và máy móc trang thiết bị đi kèm) không phải là tài sản hình thành từ
-

vốn vay.
Tài sản hình thành trong tương lai là gì? Khái niệm tài sản hình thành trong tương
lai được quy định tại khoản 2, Điều 4, Nghị định 163/2006/NĐ-CP: “Tài sản hình
thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của Công ty Bảo đảm sau thời điểm
nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết. Tài sản hình thành
trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao
dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của
Công ty Bảo đảm.”
Trong tình huống tranh chấp đang xem xét, thì tài sản (Nhà hàng và máy móc
trang thiết bị đi kèm) đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm,
nhưng chưa thuộc sở hữu của Công ty Y do bởi Theo công văn trả lời số ***/VPĐKLT ngày 16/4/2014 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất – Sở Tài nguyên và
Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung Công ty Y cho đến nay chưa có hồ


-

định về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở
Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005
Việc Tòa án xét rằng Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay lập ngày
16/9/2010 giữa Công ty Y và Ngân hàng X là ngụy tạo, không phản ánh đúng sự thật
do đó vô hiệu toàn bộ cả về hình thức lẫn nội dung là đúng. Tuy nhiên, việc Tòa căn
cứ vào Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về việc giải quyết hậu quả của giao
dịch dân sự vô hiệu để yêu cầu các bên cần khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả
cho nhau những gì đã nhận là chưa đủ. Do bởi, Tòa mới chỉ tuyên vô hiệu đối với giao
dịch thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay, mà chưa xem xét đến tính có hiệu lực hay
vô hiệu của giao dịch được ngụy tạo sau giao dịch này. Căn cứ theo Điều 129, Bộ luật
Dân sự 2005 : “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu
một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có
hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.
Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ
ba thì giao dịch đó vô hiệu”.
Giao dịch bị che giấu ở đây là giao dịch thế chấp tài sản hình thành trong tương
lai. Các bên khi xác lập không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba, nên giao
dịch này không đương nhiên vô hiệu. Chúng ta cần phải xem xét tính hiệu lực của
giao dịch này.
Về mặt nội dung, việc thế chấp tài sản hình thành trong tương lai là giao dịch
hoàn toàn hợp pháp trên cơ sở nhiều nhiều điều khoản quy định của luật và văn bản
dưới luật dưới đây:
__________________________________________________________________________________
Trang 10/24


- Khoản 2, Điều 320 (Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự) của Bộ luật Dân

Trang 11/24


Trong tình huống tranh chấp đang xem xét, Theo công văn trả lời số
***/VPĐK-LT ngày 16/4/2014 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất – Sở Tài
nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung Công ty Y cho đến nay
chưa có hồ sơ yêu cầu đăng ký quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất tại
địa chỉ ***, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh. Như vậy, Tài sản *** thế chấp cho Ngân hàng
X khi các bên thực hợp đồng thế chấp chưa có Giấy chứng nhận quyền sở hữu của
Công ty X. Đồng thời, Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay lập ngày
16/9/2010 giữa hai bên không có công chứng và đăng ký giao dịch đảm bảo về việc Bị
đơn thế chấp quyền sở hữu công trình xây dựng trên đất và toàn bộ trang thiết bị máy
móc, vật dụng phục vụ kinh doanh tại địa chỉ ***, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh.
Như vậy, Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai giữa Công ty X
và Ngân hàng Y không thỏa mãn những quy định về hình thức hợp đồng theo luật
định. Căn cứ Khoản 2, Điều 122, Bộ luật dân sự 2005 : “Hình thức giao dịch dân sự
là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”. Căn
cứ Điều 127, Bộ luật Dân sự 2005: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều
kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu”. Căn cứ Điều 134: Giao
dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức : “Trong trường hợp
pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch
mà các bên không tuân theo thì yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức
của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch
vô hiệu”.
Như vậy, trong trường hợp này, Tòa nên quyết định buộc các bên thực hiện quy
định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn (đối với hợp đồng được che giấu
sau hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay), quá thời hạn đó mà không thực
hiện thì giao dịch vô hiệu.
*) Về các quyết định khác của tòa

Dân sự và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, thì tài sản hình thành trong tương lai gồm 2
loại: Tài sản chưa xác lập (đầy đủ) quyền sở hữu của người thế chấp và tài sản đã xác
định rõ chủ sở hữu và đồng thời sẽ dịch chuyển quyền sở hữu đó cho bên thế chấp
trong tương lai. Nhưng với quy định của Luật Nhà ở 2005, thì chỉ loại nhà ở thứ hai
mới được công nhận là tài sản hình thành trong tương lai, còn loại nhà ở thứ nhất thì
không đủ điều kiện để tham gia giao dịch thế chấp. Thế là sự hợp pháp về nội dung
theo quy định của Bộ luật Dân sự lại bị bế tắc về thủ tục theo các quy định của Luật
Nhà ở 2005: Không thể công chứng hợp đồng và đăng ký thế chấp nhà ở hình thành
trong tương lai.
Trên thực tế, nhiều tổ chức công chứng đã từ chối công chứng hợp đồng thế
chấp nhà ở hình thành trong tương lai, vì luật mới chỉ cho phép về nguyên tắc, còn đi
vào cụ thể thì thiếu điều kiện giấy tờ, thiếu bằng chứng pháp lý để được “chứng”.
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, là loại giấy tờ bắt buộc phải có theo yêu cầu tại
điểm d, khoản 1, Điều 35 (Công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn) và
__________________________________________________________________________________
Trang 13/24


khoản 1, Điều 36 (Công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo
theo đề nghị của người yêu cầu công chứng) của Luật Công chứng năm 2006, cũng
như theo yêu cầu tại điểm a, khoản 1, Điều 91 (Điều kiện của nhà ở tham gia giao
dịch) của Luật Nhà ở năm 2005.
Hợp đồng thế chấp đã không công chứng được, thì cũng đồng nghĩa với việc
không đăng ký được giao dịch thế chấp. Điểm b, khoản 1.1, Mục III (Đăng ký thế
chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất), Thông tư liên tịch số
05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16-6-2005 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi
trường Hướng dẫn việc đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với
đất (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT
ngày 13-6-2006) yêu cầu một trong những hồ sơ phải có để đăng ký thế chấp bất động
sản là “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất có công chứng,

Luật công chứng số 53/2004/QH13 : “ Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền
sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà
pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp hợp
đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó”. Hệ thống luật đã đồng bộ với nhau, tuy
nhiên, để luật đi vào thực tiễn, thì các văn bản dưới luật cần phải được đồng bộ, và
sớm được triển khai để giải quyết những vướng mắc hiện thời về vấn đề thế chấp tài
sản hình thành trong tương lai./.
Tài liệu tham khảo
http://www.luatdaiviet.vn/xem-tin-tuc/the-chap-tai-san-hinh-thanh-trong-tuonglai
https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-dat-dai/the-chap-nha-o-tuong-lai-mapmo-giua-sai-va-dung-.aspx

__________________________________________________________________________________
Trang 15/24


Bản án số: 09/2014/KDTM-ST
Ngày xét xử: 22/04/2014
V/v tranh chấp hợp đồng xây dựng
giữa Công ty A và Công ty B
A) TÓM TẮT BẢN ÁN
1) Đương sự
-

-

-

Nguyên đơn: Công ty CP XD Trang Trí nội thất thương mại A (gọi tắt là Công ty A)
Địa chỉ: ***, quận Phú Nhuận, TPHCM
Đại diện theo pháp luật: ông Võ T

Trang 16/24


Ngày 28/11/2012, công ty C có thay Công ty B trả cho Công ty A
200.000.000 đồng, số nợ còn lại là 312.430.471 đồng. Từ đó, Công ty B không trả số
nợ còn lại nên Công ty A khởi kiện yêu cầu buộc trả tiền kèm với lãi suất nợ quá hạn.
Ngày 22 tháng 4 năm 2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, đã xét xử sơ thẩm về
việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng” , thụ lý ngày 07 tháng 6 năm 2013 theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử ngày 17 tháng 3 năm 2014 và Quyết định hoãn phiên tòa
ngày 28 tháng 3 năm 2014. Bị đơn xác nhận và lí giải vì sao chưa trả khoản nợ còn lại
như sau:
+

Bị đơn chỉ đứng ra kí hợp đồng giúp ông L vì ông này đang lập hồ sơ mở công ty,

chưa có tư cách pháp nhân.
+ Ông L đã chuyển văn phòng được sửa chữa cho bên thứ ba sử dụng nên đề nghị
Nguyên đơn yêu cầu ông L trả số nợ còn lại.
Công ty C đứng ra xác nhận về khoản trả thay 200.000.000 đồng cho Công ty
B. Công ty cũng có đơn xin vắng mặt trong tất cả các buổi Tòa án làm việc và cả khi
xét xử vụ án.
Hòa giải không thành, các bên giữ nguyên ý kiến, yêu cầu như trên.
3) Tóm tắt giải quyết
*) Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Đây là tranh chấp Hợp đồng xây dựng, các bên tham gia có tư cách pháp nhân,
do vậy tranh chấp giữa các bên là tranh chấp kinh doanh thương mại. Vụ án thuộc
thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 1 theo điểm g, Khoản 1, Điều 29; Điểm b,
Khoản 1, Điều 33; Điểm g, Khoản 1, Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự đã sửa đổi bổ
sung một số điều năm 2011.
*)Về tư cách đương sự:

nốt số tiền còn nợ.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Nguyên đơn được hoàn trả lại toàn bộ án phí là 7.810.762 đồng theo biên lai.
Bị đơn phải chịu 19.072.904 đồng.
Quyền kháng cáo : Kháng cáo theo luật định.
Áp dụng:

-

Điểm g, Khoản 1, Điều 29; Điểm b, Khoản 1, Điều 33; Điểm g, Khoản 1, Điều 36;
Điều 131; Khoản 1, Điều 202; Điều 243 và Điều 245 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm

-

2004 đã sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2011;
Các Điều 290; 388; 389; 401; 405; Khoản 1, Điều 406; Điều 427 Bộ luật Dân sự năm

-

2005;
Điều 306 Luật Thương mại; Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 và danh mục mức án phí, lệ phí ban hành
kèm theo.
B) NHẬN XÉT – BÌNH LUẬN
1) Về Luật hình thức

+

Toà thụ lý vụ án là TAND quận 1 – TP. Hồ Chí Minh
Các căn cứ pháp lý toà sử dụng :

xử sau khi thụ lý án ( đối với vụ án kinh doanh thương mại theo Điều 29 là 2 tháng,
đối với vụ án có tình tiết phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì có thể được gia hạn

-

thời gian xét xử nhưng không quá 1 tháng ).
Căn cứ thông tin trên bản án, vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số
137/2013/TLST-KDTM ngày 07/06/2013 nhưng quyết định đưa vụ án ra xét xử theo
Quyết định số 255/2014/QĐST-DS ngày 17/03/2014 và quyết định hoãn phiên toà số
339/2014/QĐST-DS ngày 28/03/2014 là kéo dài gần 9 tháng. Như vậy đã vi phạm qui
định về thời gian chuẩn bị xét xử theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179 BLTTDS
nêu trên.
2) Luật nội dung

+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+

Các căn cứ pháp lý toà sử dụng:
Điều 290 BLDS Về thực hiện nghĩa vụ trả tiền
Đìều 388 BLDS Về thực hiện hợp đồng dân sự
Điều 389 BLDS về Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự

Điều 4 LTM 2005 về nguyên tắc áp dụng luật riêng ( luật đặc thù của hoạt động kinh
doanh thương mại nhất định ) ưu tiên áp dụng trước luật chung (luật thương mại và

luật dân sự), có thể áp dụng các qui định trong các điều luật sau:
+ Điểm d khoản 4 điều 146 BLXD Về việc bên giao thầu phải bồi thường cho bên nhận
+

thầu trong trường hợp chậm thanh toán theo thoả thuận trong hợp đồng
Và Khoản 8 Điều 146 BLXD về nguyên tắc và trình tự giải quyết tranh chấp trong

+
+
+
+

hợp đồng xây dựng.
Điều 78 LTM 2005 nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ
Điều 85 LTM 2005 nghĩa vụ của khách hàng
Điều 319 LTM thời hiệu khởi kiện vụ việc thương mại
Về việc Công ty A chưa xuất hóa đơn GTGT cho khoản 401.430.471 VND
Điều 21 Nghị định 48/2010/NĐ-CP về Hợp đồng trong hoạt động xây dựng quy định
nội dung của hồ sơ quyết toán hợp đồng xây dựng phải phù hợp với các thoả thuận
trong hợp đồng, bao gồm các tài liệu sau:

 Biên bản nghiệm thu hoàn thành toàn bộ công việc thuộc phạm vi hợp đồng;
 Bản xác nhận giá trị khối lượng công việc phát sinh (nếu có) ngoài phạm vi hợp đồng;
 Bảng tính giá trị quyết toán hợp đồng xây dựng (gọi là quyết toán A-B), trong đó nêu

rõ phần đã thanh toán và giá trị còn lại mà bên giao thầu có trách nhiệm thanh toán
cho bên nhận thầu;

trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phân biệt
đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
 Trường hợp giao hàng nhiều lần hoặc bàn giao từng hạng mục, công đoạn dịch vụ thì

mỗi lần giao hàng hoặc bàn giao đều phải lập hóa đơn cho khối lượng, giá trị hàng
hóa, dịch vụ được giao tương ứng.
+

Trường hợp cty viết hoá đơn sau thời điểm giao hàng (chậm xuất HĐ) thì bị coi là
hành vi không lập hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ và bị xử phạt theo khoản 5
Điều 33 của NĐ 51/2010/NĐ-CP về việc Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về sử
dụng hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không lập
hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ có giá trị thanh toán trên 200.000 đồng cho người
mua theo quy định tại Nghị định này. Cùng với việc bị xử phạt, tổ chức, cá nhân kinh
doanh phải lập hoá đơn giao cho người mua.

+

Khoản 4 Điều 7 Nghị định 39/2011/NĐ-CP (Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 185/2004/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán)

 "Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi bán hàng không

lập hóa đơn bán hàng theo quy định"
__________________________________________________________________________________
Trang 21/24




+

Cty A đã hoàn tất hồ sơ quyết toán: Cty B phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền
còn nợ + lãi suất nợ quá hạn (theo giao kết trong hợp đồng và theo điều 306 Luật TM)

+

Cty A đã chưa hoàn tất hồ sơ quyết toán (nếu trong HĐ có quy định về việc xuất
HĐGTGT): Cty B phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ trong vòng 14
ngày làm việc sau khi nhận được hóa đơn và chỉ chịu lãi suất nợ quá hạn nếu vi phạm
(kể từ ngày sau đó), khoản 10 điều 18 Nghị định 48/2010/NĐ-CP

+

Nếu hợp đồng không quy định rõ lãi suất phạt trả chậm là lãi suất nợ quá hạn trung
bình trên thị trường, có thể xảy ra tranh cãi về lãi suất áp dụng theo điều 306 Luật TM
hay khoản 2 điều 305 Luật DS (lãi suất cơ bản do Nhân Hàng Nhà nước công bố)
3) So sánh thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ LDS 2005 và Luật TM 2005 về
trách nhiệm dân sự trong quan hệ hợp đồng

-

BLDS 2005 đã đặt những nền tảng cơ bản nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự theo
các quy tắc chung, mà quan hệ hợp đồng là một trong số đó. Mặc dù vậy, vẫn tồn tại

__________________________________________________________________________________
Trang 22/24



+ Trong khi đó, Điều 306 Luật Thương mại 2005 lại quy định, bên vi phạm hợp đồng
chậm thanh toán phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình
trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
+ Cả hai quy định khác nhau nói trên đều gây khó khăn cho người thực thi. Lãi suất nợ
quá hạn trung bình trên thị trường là như thế nào? Là phải lấy số liệu của tất cả các
ngân hàng thương mại trên thị trường hoặc chỉ một số ngân hàng trong khu vực nơi
tranh chấp hay chỉ cần thị trường liên ngân hàng? Trên thực tế, để xác định con số này
+

khi giải quyết tranh chấp mỗi tòa án đã có những yêu cầu rất khác nhau.
Do vậy, nếu xác định đây là vụ kiện Dân sự Tòa sẽ phải xác định áp dụng Luật DS khi

-

xác định lãi suất phạt trả chậm.
Về mức phạt vi phạm hợp đồng:

__________________________________________________________________________________
Trang 23/24


+

Theo quy định tại khoản 2 Điều 422 Bộ luật dân sự 2005 thì mức phạt vi phạm trong
Hợp đồng dân sự do các bên thỏa thuận. Như vậy, mức phạt vi phạm trong Hợp đồng

dân sự không bị khống chế, mà hoàn toàn tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên.
+ Đối với Luật thương mại 2005 về việc xác định mức phạt vi phạm tối đa là 8% phần
nghĩa vụ bị vi phạm (Điều 301), còn theo quy định tại Điều 41 Nghị định số
48/2010/NĐ-CP về hợp đồng trong hoạt động xây dựng thì mức phạt vi phạm tối đa là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status