BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAN VĂN THIẾT
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG XẾP HẠNG
TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNGTHƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH TỈNH KONTUM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2012
Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. LÂM CHÍ DŨNG
Phản biện 1: TS. HỒ HỮU TIẾN
Phản biện 2: TS. VÕ VĂN LÂM
Luận văn đã được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Quản trị kinh doanh họp tại Đại học Đà
Nẵng vào ngày 19 tháng 02 năm 2012.
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
các ngân hàng thương mại nói riêng. Tổng hợp các bài học kinh
nghiệm về XHTD ở một số nước trên thế giới và một số NHTM Việt
Nam.
- Đánh giá thực trạng xếp hạng tín dụng của ngân hàng
ngoại thương – chi nhánh Kontum.
2
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín
dụng đang được áp dụng tại Ngân hàng ngoại thương – chi nhánh
Kontum.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực
tiễn liên quan đến Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của ngân hàng
ngoại thương – chi nhánh Kontum
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung, đề tài nghiên cứu về
hệ thống XHTDNB nhưng do ở các chi nhánh không có hoạt động
cấp tín dụng cho các tổ chức định chế tài chính nên đề tài không
nghiên cứu nội dung xếp hạng tín dụng đối với loại khách hàng này.
4. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận: Chủ nghĩa
duy vật biện chứng và các phương pháp cụ thể: phương pháp logic
và lịch sử, phương pháp quy nạp và diễn dịch; phân tích, tổng hợp,
so sánh….
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về xếp hạng tín dụng
- Tổng hợp các bài học kinh nghiệm về xếp hạng tín dụng
- Đánh giá được thực trạng xếp hạng tín dụng tại ngân hàng
ngoại thương – chi nhánh Kontum, chỉ ra những mặt thành công, hạn
chế của công tác xếp hạng tín dụng.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống XHTDNB tại
ro tín dụng đã được nghiên cứu. Trên thực tế, các hệ thống XHTD ở
Việt nam đều sử dụng hệ thống chấm điểm các tiêu chí, tức là về
bản chất sử dụng mô hình điểm số tín dụng cho đo lường rủi ro tín
dụng.
1.2.2. Vai trò của hệ thống XHTDNB
Hệ thống XHTDNB là một công cụ hữu hiệu hổ trợ ngân
hàng trong hoạt động quản trị tín dụng. Đối với ngân hàng, hệ thống
này có những vai trò quan trọng sau:
1.2.2.1. Hổ trợ cho quyết định cấp tín dụng
Hệ thống XHTDNB là một công cụ hổ trợ cho việc sàng lọc,
lựa chọn khách hàng vay. Nói cách khác, quyết định về việc chấp
nhận hay từ chối một khoản vay cụ thể.
Việc định hạng tín dụng định kỳ giúp cho ngân hàng phân
loại khách hàng từ đó giúp ngân hàng thực hiện dễ dàng chức năng
sàng lọc người vay nhằm lựa chọn người vay tốt. Một người vay tốt
xét theo quan điểm của ngân hàng là người vay có mức độ rủi ro tín
dụng thấp, tức người vay có xếp hạng tín dụng nằm trong ngưỡng rủi
ro có thể chấp nhận theo chính sách tín dụng của ngân hàng.
4
1.2.2.2. Cơ sở của việc xác định lãi suất cho vay
Thông qua việc XHTDNB, ngân hàng có cơ sở để thực hiện
chính sách phí bù rủi ro (risk premium), một công cụ đã được thực
hiện ở tất cả các ngân hàng ở các nước tiên tiến. Theo đó, những
khoản vay có mức rủi ro cao hơn sẽ được áp dụng một mức phí bù
rủi ro cao hơn và do đó, lãi suất của những khoản vay có cùng kỳ hạn
sẽ được phân biệt theo mức rủi ro của từng khoản vay. Điều này
được gọi là cấu trúc rủi ro của lãi suất.
1.2.2.3. Cơ sở của việc xác định những nội dung quan trọng của hợp
khách hàng.
1.2.2.4. Căn cứ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Việc hỗ trợ của hệ thống tín dụng nội bộ được thể hiện ở chỗ
kết quả xếp hạng tín dụng khách hàng của hệ thống xếp hạng tín
dụng nội bộ sẽ là một căn cứ qaun trọng để phân loại nợ thành từng
nhóm nợ (nợ đủ tiêu chuẩn; nợ cần chú ý; nợ dưới tiêu chuẩn; nợ nghi
ngờ và nợ có khả năng mất vốn) qua đó tính toán và trích lập dự
phòng rủi ro.
1.2.2.5. Căn cứ xây dựng chính sách khách hàng
Hệ thống XHTDNB cung cấp một cách phân loại tổng hợp
tập hợp khách hàng của NH theo tiêu chí mức rủi ro tín dụng của
từng khách hàng sẽ là một căn cứ quan trọng để xây dựng chính sách
khách hàng.
1.2.3. Tiêu chí đánh giá hệ thống XHTD NB
Tiêu chí cuối cùng để đánh giá một hệ thống XHTDNB là
mức độ chính xác của việc đo lường rủi ro tín dụng đối với từng
khách hàng thông qua hệ thống này. Hệ thống các tiêu chí thường
bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
1.2.3.1. Mức độ chính xác của kết quả XHTDNB
Tiêu chí này được đánh giá thông qua so sánh, đối chiếu kết
quả XHTDNB của từng khách hàng được xếp hạng với mức độ rủi ro
cụ thể. Tuy nhiên, tiêu chí này có một số nhược điểm như đã nêu ở
trên.
1.2.3.2. Tính khoa học của hệ thống XHTDNB
- Việc lựa chọn mô hình đo lường rủi ro tín dụng để áp dụng
có đáp ứng các tiêu chuẩn khoa học hay không? Đáp ứng đến mức
nào?
- Với mỗi mô hình lựa chọn việc xác định các nhân tố giải
thích mức độ rủi ro dựa trên cơ sở khoa học không?
- Đối với mô hình XHTDNB dựa trên cơ sở chấm điểm mà
TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG – CHI NHÁNH
KONTUM
2.1. Khái quát về VCB – chi nhánh Kontum
Chi nhánh Ngân hàng TMCP ngoại thương Kon Tum chính
thức đi vào hoạt động từ ngày 09 tháng 01 năm 2010, trên cơ sở nâng
cấp phòng Giao dịch Kon tum, thuộc NHTMCP ngoại thương – chi
nhánh Gia Lai.
2.2. Thực trạng XHTDNB tại VCB – Chi nhánh Kontum
2.2.1. Tông quan về hệ thống XHTDNB của VCB
Theo định nghĩa của VCB, “hệ thống XHTDNB là công cụ đo
lường rủi ro tín dụng đối với từng khách hàng theo phương pháp
dựa vào một thang điểm thống nhất đánh giá các chỉ tiêu tài chính
và phi tài chính của khách hàng” (QĐ 117).
7
Mục đích sử dụng được VCB xác định là “để xem xét cấp tín
dụng, phân loại nợ và quản lý rủi ro danh mục theo danh mục khách
hàng”
Đối tượng áp dụng XHTDNB là các khách hàng đã có quan
hệ tín dụng với ngân hàng hoặc khách hàng doanh nghiệp tiềm năng
chưa có quan hệ với ngân hàng. Các khách hàng được xếp hạng chia
làm 3 nhóm:
- Nhóm khách hàng là doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp là
khách hàng tiềm năng)
- Nhóm khách hàng cá nhân/hộ kinh doanh
- Nhóm khách hàng định chế tài chính
Hai nhóm khách hàng sau chỉ áp dụng xếp hạng đối với
những khách hàng đã có quan hệ tín dụng.
Qua xem xét những nội dung có tính khái quát về hệ thống
- Với mô hình chấm điểm được xác định tổng quan như trên,
kết quả XHTDNB sẽ phụ thuộc vào hai vấn đề có tính kỹ thuật quan
trọng nhất: xác định các chỉ tiêu và xác định trọng số của từng chỉ
tiêu.
2.2.2. Đánh giá hệ thống XHTDNB tại VCB – Chi nhánh Kontum
2.2.2.1. Về đối tượng áp dụng XHTDNB tại chi nhánh
Tại VCB – Chi nhánh Kontum, cho đến nay việc XHTDNB
chỉ mới triển khai đối với khách hàng doanh nghiệp. Việc cấp tín
dụng cho các định chế tài chính chỉ được tiến hành tập trung ở Hội
sở, do đó, việc XHTDNB đối với nhóm khách hàng này ở chi nhánh
chưa được đặt ra.
Riêng đối với nhóm khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh:
VCB – Kontum chỉ mới bắt đầu đi vào hoạt động với tư cách chi
nhánh từ đầu năm 2010, hệ thống XHTDNB cũng chỉ mới được triển
khai một thời gian ngắn, cho nên chỉ tập trung các nguồn lực để giải
quyết vấn đề xếp hạng tín dụng doanh nghiệp. Chi nhánh cũng đã
xác định khi đã có kinh nghiệm trong việc triển khai XHTDNB đối
với doanh nghiệp sẽ tiến hành xếp hạng đối tượng khách hàng cá
nhân, hộ kinh doanh.
2.2.2.2. Nội dung mô hình XHTD đối với khách hàng doanh nghiệp
đang áp dụng tại Chi nhánh
Tại chi nhánh, đối với việc XHTD, khách hàng doanh nghiệp
được chia làm 3 nhóm: Khách hàng là doanh nghiệp thông thường;
khách hàng là doanh nghiệp mới thành lập và khách hàng doanh
nghiệp tiềm năng.
Quy trình xếp hạng tín dụng áp dụng cho hai loại khách hàng
doanh nghiệp thông thường và doanh nghiệp tiềm năng là giống
nhau. Riêng khách hàng doanh nghiệp mới áp dụng quy trình XHTD
khác.
a. Nội dung mô hình XHTDNB đối với doanh nghiệp
công trình và các dịch vụ tư vấn đi kèm; Thương mại nguyên vật
liệu; Thương mại hàng tiêu dùng; Vận tải đường bộ, đường sông;
Thương mại phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, phụ tùng. Tổng
số DN được xếp hạng thuộc 6 ngành này chiếm đến 75% các DN
được xếp hạng. Tuy nhiên về dư nợ 6 ngành này chỉ chiếm 43,58%
tổng dư nợ của các DN được xếp hạng. Trong 6 ngành này thì có 3
ngành là thuộc nhóm ngành thương mại. Đây là những đặc điểm
quan trọng trong việc triển khai hệ thống XHTDNB tại Chi nhánh
Kontum.
(ii) Xác định quy mô doanh nghiệp
10
Quy mô của doanh nghiệp được xác định dựa trên các chỉ
tiêu sau: Vốn chủ sở hữu; Số lượng lao động; Doanh thu thuần; Tổng
tài sản
Căn cứ vào hai tiêu chí ngành nghề và quy mô, hệ thống
XHTDNB của VCB áp dụng các bộ chỉ tiêu chấm điểm XHTD khác
nhau về các yếu tố: danh mục các chi tiêu; giá trị chuẩn; thang
điểm và trọng số của mỗi chỉ tiêu. Các doanh nghiệp có quy mô lớn,
trung bình và nhỏ (điểm quy mô từ 6 đến 32 điểm) được chia thành
52 ngành tương ứng có 52 bộ chỉ tiêu chấm điểm XHTD. Các doanh
nghiệp có quy mô siêu nhỏ được chia thành 5 ngành tương ứng với 5
bộ chỉ tiêu. Kết quả phân loại ở Bảng 2.5.(luận văn) cho thấy các DN
có điểm quy mô nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số
DN được xếp hạng (gần 90%) và chiếm khoảng 50% trong tổng dư
nợ. Các DN quy mô lớn tuy chỉ có 2 khách hàng nhưng số dư nợ
chiếm đến 37,95%.
(iii) Nội dung các chỉ tiêu tài chính:
Có 4 nhóm chỉ tiêu tài chính:
Đối với DN siêu nhỏ thì số lượng các chỉ tiêu phi tài chính
ít hơn.
(v) Tổng hợp điểm và xếp hạng
Tỷ trọng của từng phần điểm của các chỉ tiêu tài chính và chỉ
tiêu phi tài chính phụ thuộc vào việc báo cáo tài chính đã được kiểm
toán hay chưa.
b. Nội dung mô hình XHTDNB đối với doanh nghiệp mới
thành lập
Nội dung mô hình XHTD đối với DN mới khác biệt so với
các DN thông thường và tiềm năng. Thay vì chấm điểm các chỉ tiêu
tài chính và các chỉ tiêu phi tài chính, mô hình xếp hạng tập trung
chấm điểm về các rủi ro kinh doanh sau đó điều chỉnh bằng một hệ
số rủi ro.
Qua xem xét nội dung mô hình hệ thống XHTDNB đã và
đang áp dụng tại trong thực tiễn XHTDNB tại VCB – chi nhánh
Kontum, cho phép tác giả rút ra một số nhận xét đánh giá sau:
a. Về phương pháp phân loại ngành nghề, quy mô, loại hình
sở hữu của DN được xếp hạng:
- Nhìn chung, việc phân loại ngành nghề, lĩnh vực kinh
doanh, quy mô của DN qua đó nhằm xác định phân biệt danh mục
các chỉ tiêu; giá trị chuẩn; thang điểm và trọng số riêng cho các
ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và các loại quy mô khác nhau là
đáp ứng được tính khoa học và thực tiễn. Tuy nhiên, danh mục các
ngành nghề chia thành 5 nhóm ngành và 52 ngành là quá nhiều. Việc
phân ngành chi tiết có ưu điểm là tính tới những đặc thù của từng
ngành nhỏ. Nhược điểm là một mặt nó gia tăng chi phí của việc thu
thập thông tin, gia tăng độ phức tạp và quan trọng nhất là trong điều
kiện chưa có các mô hình định lượng để đo lường ảnh hưởng của
nhiên, hệ thống các trọng số của từng chỉ tiêu và nhóm chỉ tiêu vẫn
chưa được xác định một cách có cơ sở khoa học và thực tiễn
- Trong điều kiện môi trường kinh doanh phức tạp như hiện
nay, nhất là tại địa bàn một tỉnh Tây Nguyên, trình độ phát triển mọi
mặt chưa cao, hệ thống thông tin báo cáo của các DN vẫn còn nhiều
bất cập, việc dựa quá nhiều vào các thông tin trên báo cáo tài chính
của DN mà không coi trọng các đánh giá độc lập theo phương pháp
13
chuyên gia nhiều khi sẽ dẫn đến việc XHTD chỉ là hình thức.
- Các dự báo về khả năng tạo ra các dòng tiền để trả nợ ở
thời điểm đáo hạn chưa được đề cập. Trong khi trên thực tế, khả
năng tạo ra các dòng tiền tương lai quan trọng hơn các chỉ tiêu doanh
thu, lợi nhuận và khả năng thanh toán hiện thời.
- Phần lớn các chỉ tiêu phi tài chính được xác định theo nhận
định của cán bộ chấm điểm. Sự sai lệch dễ phát sinh do cán bộ tín
dụng không có đủ thông tin về khách hàng, không có điều kiện để
kiểm tra thông tin hoặc do khả năng của CBTD hạn chế hoặc do rủi
ro từ đạo đức của CBTD trực tiếp chấm điểm.
- Một số chỉ tiêu phi tài chính vẫn còn trùng lặp về nội dung,
2.2.2.3. Tổ chức thực hiện quy trình XHTD đối với khách hàng
doanh nghiệp đang áp dụng tại Chi nhánh
2.2.2.4. Đặc điểm mô hình XHTDNB đối với khách hàng cá nhân, hộ
kinh doanh
Hệ thống XHTDNB đối với nhóm khách hàng này chia làm
2 đối tượng:
a. Đối tượng khách hàng cá nhân vay tiêu dùng, vay kinh
doanh
b. Đối tượng khách hàng hộ kinh doanh
qua đó thực hiện trích lập dự phòng; trong việc xác định giới hạn tín
dụng; chính sách cấp tín dụng và bảo đảm tín dụng. Tuy nhiên, vẫn
tồn tại một số hạn chế cần khắc phục:
- Thứ nhất, kết quả XHTDNB vẫn chưa được chi nhánh sử
dụng trong:
+ Việc xác định mức phí bù rủi ro trong cấu trúc của lãi suất,
nhằm phân biệt lãi suất theo mức rủi ro của người vay.
+ Áp dụng những chính sách khách hàng khác nhau đối với
các nhóm khách hàng được xếp hạng khác nhau.
- Thứ hai, mặc dù kết quả XHTD là căn cứ để xác định tỷ lệ
giá trị tài sản bảo đảm tối thiểu nhưng chi nhánh vẫn chưa mạnh dạn
áp dụng quy định này.
2.3. Đánh giá chung
Tóm lại, qua những phân tích về nội dung mô hình, tổ chức
thực hiện quy trình và kết quả XHTDNB tại VCB – Chi nhánh
Kontum trong thời gian qua, đối chiếu với những tiêu chí đã nêu
trong chương 1, có thể rút ra một số kết luận tổng quát sau:
a. Về mức độ chính xác của kết quả XHTDNB: Việc xếp
hạng tương đối chuẩn xác thể hiện ở tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là
1,26%, toàn bộ là của 2 DN được xếp hạng C. Tất cả các hạng còn
lại đều không có nợ xấu. Điều này phù hợp với kết quả XHTDNB
của chi nhánh vì các khách hàng còn lại đều được đánh giá từ hạng
BB+ đến AAA.
b. Về tính khoa học của hệ thống XHTDNB: Hệ thống
XHTDNB về cơ bản đáp ứng các yêu cầu về tính khoa học. Tuy
15
nhiên, vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần được khắc phục:
- Vấn đề xác định ngành nghề kinh doanh chính đối với
16
Chương 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG XẾP HẠNG
TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI VCB – CHI NHÁNH KONTUM
3.1. Mục tiêu hoàn thiện hệ thống XHTDNB tại VCB – chi nhánh
Kontum
Việc hoàn thiện hệ thống XHTDNB phải đáp ứng ba mục
tiêu cơ bản:
- Thứ nhất là làm cho hệ thống XHTDNB phù hợp hơn với
thực tiễn kinh doanh tín dụng và quản trị tín dụng hiện nay và trong
tương lai gần của chi nhánh.
- Thứ hai là làm cho hệ thống XHTDNB mà chi nhánh đang
áp dụng càng ngày càng hổ trợ một cách thực chất cho hoạt động
kinh doanh và quản trị rủi ro tín dụng, tránh sa vào căn bệnh hình
thức, tức là áp dụng cho có lệ, theo quy định của VCB trung ương,
mà không quan tâm đến sử dụng kết quả XHTDNB cho quá trình
quyết định tín dụng.
- Thứ ba tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế về XHTD, tạo tiền
đề để triển khai các công cụ quản trị ngân hàng nói chung, quản trị
tín dụng nói riêng theo chuẩn mực quốc tế, tăng cường tính tập trung
trong quản lý danh mục tín dụng và chủ động rà soát tín dụng.
Quá trình hoàn thiện hệ thống XHTDNB bao gồm các nội
dung chủ yếu sau:
- Hoàn thiện về mô hình, phương pháp
- Hoàn thiện về quy trình
- Hoàn thiện về khâu tổ chức thực hiện
- Hoàn thiện về tổ chức sử dụng kết quả XHTDNB
3.2. Giải pháp hoàn thiện hệ thống XHTDNB tại VCB – Chi
từng khách hàng là bộ phận chủ lực.
e. Cần phải tăng cường thu thập thông tin từ các cơ quan
chức năng, nhất là cơ quan thuế để vừa kiểm chứng lại thông tin vừa
bổ sung các thông tin mới.
f. Cần phải tiến hành ngay việc sử dụng kết quả xếp hạng
cho các quyết định cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng…
để vừa phát huy hiệu quả của việc XHTDNB vừa để động viên,
khuyến khích các khách hàng chưa tham gia xếp hạng.
g. Sau một thời gian thực hiện, cần phải rà soát, đánh giá lại
toàn bộ mô hình XHTDNB, phát hiện những điểm chưa phù hợp để
có kiến nghị điều chỉnh, bổ sung.
3.2.1.3. Hoàn thiện về tổ chức thực hiện quy trình
- Trong quy trình cần quy định rõ các nguồn thông tin đầu
vào cần có ngoài các báo cáo tài chính của khách hàng. Đồng thời
phải quy định rõ cách thức phối kiểm thông tin, cách thức xử lý khi
các dữ liệu từ các nguồn thông tin không nhất quán.
- Cần khắc phục tình trạng tập trung toàn bộ công tác thu thập
và xác minh độ tin cậy của dữ liệu cho cán bộ của Phòng khách hàng.
18
- Chuyên môn hóa cán bộ thực hiện công tác XHTDNB theo
ngành nghề kinh doanh (đối với khách hàng DN và hộ kinh doanh);
theo địa bàn (đối với khách hàng cá nhân).
- Trong quy trình có nêu bước sử dụng qua xếp hạng nhưng
chưa cụ thể hóa. Cần cụ thể hóa nội dung và quy trình của bước này
làm căn cứ thống nhất cho các bộ phận tiến hành và cũng là cơ sở
cho việc kiểm soát nội bộ đối với hệ thống XHTDNB.
3.2.1.4. Hoàn thiện khâu sử dụng kết quả XHTDNB
Thứ nhất, cần phải sử dụng kết quả XHTDNB cho việc xác
kiểm soát nội bộ đối với hoạt động XHTDNB.
Về mặt tổ chức, hoạt động kiểm soát nội bộ trong từng chi
nhánh ngân hàng đã có bộ phận chuyên trách. Nhưng để nâng cao
chất lượng của hoạt động này đối với công tác XHTDNB, Chi nhánh
VCB – Kontum cần phải tiến hành một số biện pháp sau:
- Tổ chức tập huấn cho các cán bộ kiểm soát nội bộ về hệ
thống XHTDNB của ngân hàng, bảo đảm các cán bộ kiểm soát nội
bộ nắm vững nội dung, quy trình cũng như thực tế triển khai hệ
thống XHTDNB tại chi nhánh.
- Thường xuyên và chủ động cập nhật tình hình liên quan
đến công tác XHTDNB cho các cán bộ kiểm soát.
- Ban hành thống nhất các nội dung kiểm soát về công tác
XHTDNB.
- Quy định cụ thể về lịch trình và tiến độ kiểm soát. Trong
đó, quy định định kỳ kiểm tra và khuôn khổ các cuộc kiểm tra đột
xuất.
- Xây dựng quy định phối hợp giữa bộ phận kiểm soát nội bộ
và các bộ phận tác nghiệp liên quan đến công tác XHTDNB.
- Quy định cụ thể và công khai rõ ràng những biện pháp chế
tài đối với những sai sót, vi phạm tùy theo mức độ và động cơ, đồng
thời có chính sách khuyến khích đối với những bộ phận hoặc cá nhân
đã chấp hành tốt. Mặt khác, có biện pháp xử lý kịp thời những sai sót
đã phát hiện qua kiểm soát để bảo đảm công tác XHTDNB không bị
sai lệch.
- Qua hoạt động kiểm soát nội bộ, đánh giá lại các nội dung
cụ thể của mô hình XHTDNB, phát hiện những điểm chưa phù hợp
với thực tế để có biện pháp điều chỉnh, bổ sung kịp thời.
3.2.2. Các giải pháp đề xuất đối với VCB – TW
Từ thực tiễn triển khai hệ thống XHTDNB tại VCB – Chi
nhánh Kontum, VCB TW cần thiết phải có những hoàn thiện về các
hình sở hữu là nhằm mục đích phân biệt tỷ trọng của các chỉ tiêu tài
chính, nhưng như đề tài đã phân tích trong chương 2, tỷ trọng của
các chỉ tiêu phi tài chính đối với các loại hình sở hữu khác nhau
chênh lệch không đáng kể. Do đó, hoặc là cần những nghiên cứu
định lượng công phu hơn để có sự phân biệt về tỷ trọng hoặc là bỏ
cách phân loại này nếu thấy không cần thiết mà sử dụng cách đánh
giá định tính của chuyên gia.
3.2.2.2. Hoàn thiện phương pháp đánh giá các chỉ tiêu đối với khách
hàng DN
- Trong những thời kỳ mà kết quả hoạt động kinh doanh biến
21
động nhiều, chẳng hạn như khoảng thời gian nền kinh tế gặp nhiều
khó khăn như giai đoạn vừa qua, cần đưa các dữ liệu quá khứ vào mô
hình chấm điểm các chỉ tiêu tài chính bằng cách tính toán một số chỉ
tiêu bình quân qua một số kỳ quy định, không nên chỉ dựa vào số
liệu của quý hiện hành.
- Đối với nhóm chỉ tiêu thu nhập, cần phải bổ sung các chỉ
tiêu so sánh theo thời gian như: tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế/vốn
chủ sở hữu (tốc độ tăng ROE); tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế/tổng
tài sản bình quân (tốc độ tăng ROA).
- Xem xét bổ sung một số chỉ tiêu dự báo vào các chỉ tiêu
chấm điểm như là một yêu cầu bắt buộc. Đặc biệt, đối với nhóm chỉ
tiêu phản ánh khả năng trả nợ trong bộ chỉ tiêu phi tài chính, cần phải
xem việc dự báo về khả năng tạo ra các dòng tiền ở thời điểm trả nợ
(bao gồm nợ gốc và lãi) là một yêu cầu bắt buộc thay vì chỉ dựa vào
thu nhập thuần sau thuế dự kiến.
Tiến hành các nghiên cứu định lượng để xác định lại trọng số
của các chỉ tiêu một cách có cơ sở khoa học và thực tiễn.
công, bố trí các cán bộ, nhân viên.
- Thứ ba, chi nhánh phải coi trọng công tác đào tạo, huấn
luyện thường xuyên cán bộ, nhân viên phụ trách công tác XHTDNB
để không ngừng nâng cáo kiến thức, kỹ năng trong lĩnh vực công tác
XHTDNB theo từng vị trí công việc cụ thể.
- Thứ tư, coi trọng hơn nữa việc giáo dục đạo đức thường
xuyên cho cán bộ, nhân viên các cấp.
- Thứ năm, quy định cụ thể và rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn
cho từng vị trí công việc.
- Thứ sáu, chi nhánh cũng phải có quy định cụ thể và áp
dụng đầy đủ, công khai chế độ đánh giá định kỳ đối với từng vị trí
công tác của cán bộ, nhân viên,
Cuối cùng, chi nhánh cũng cần nỗ lực đầu tư để tạo nên một
môi trường làm việc tích cực,
3.2.3.2. Nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ trong công tác
XHTD
Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong XHTDNB là rất
cao. Để nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong công
tác XHTDNB, chi nhánh cần phải có những biện pháp để nâng cao
hiệu quả ứng dụng công nghệ trong XHTDNB
3.3. Kiến nghị
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ và Bộ tài chính
a. Từng bước thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc đối với
các DN.
b. Ban hành các văn bản pháp quy hổ trợ NH trong việc thu
thập, phối kiểm thông tin đầu vào
23
c. Hoàn thiện khung pháp lý cho việc thành lập và hoạt động