Hoa Thủy Tinh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................3
1. Khái quát chung..........................................................................................4
1.1. Khái quát chung về tố cáo, tố giác tội phạm theo quy định của pháp
luật........................................................................................................................ 4
1.2. Khái quát chung về quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật
Hình sự có hiệu lực từ 1/1/2018..........................................................................4
2. Phân tích quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật Hình sự có hiệu
lực từ 1/1/2018 dưới góc độ của pháp luật hình sự...........................................5
3. Phân tích quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật hình sự có hiệu
lực từ 1/1/2018 dưới góc độ các quy định pháp luật có liên quan....................8
3.1. Phân tích theo quy định của pháp luật Việt Nam..............................8
3.1.1. Mâu thuẫn với nguyên tắc “suy đoán vô tội”...............................9
3.1.2. Mâu thuẫn với nguyên tắc “đảm bảo quyền bào chữa của người bị
buộc tội”.............................................................................................................. 11
3.1.3. Mâu thuẫn với “nguyên tắc tranh tụng”, nghĩa vụ của cơ quan,
người tiến hành tố tụng với luật sư ..................................................................12
3.1.4. Mâu thuẫn với quy tắc “giữ bí mật thông tin khách hàng”……14
3.1.5. Gây khó khăn cho việc hành nghề và phát triển của nghề luật
sư……..………………………………………………………………………….16
3.2. Quy định của pháp luật nước ngoài về việc luật sư tố giác thân
chủ……………………………………………………………………………….18
4. Góp ý về quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật hình sự có hiệu
lực từ 1/1/2018....................................................................................................21
KẾT LUẬN....................................................................................................23
1
Hoa Thủy Tinh
vi phạm có dấu hiệu tội phạm, tức là hành vi vi phạm pháp luật đó phải cấu thành
tội phạm.
Khác với tố giác, tố cáo lại là “việc công dân theo thủ tục do Luật này quy
định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm
pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại lợi ích của Nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
chức” 1 Có thể hiểu, đối tượng của tố cáo rộng hơn so với tố giác. Đối tượng của
việc tố cáo có thể là bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào thuộc bất cứ lĩnh vực nào:
hành chính, dân sự…, không kể tính chất, mức độ vi phạm. Như vậy, trong khía
cạnh này thì khái niệm tố cáo bao gồm cả tố giác tội phạm. Tuy nhiên, việc tố giác
tội phạm có tính đặc thù riêng, nên nó chịu điểu chỉnh bởi pháp luật hình sự, pháp
luật tố tụng hình sự.
Nếu như tố cáo là quyền của công dân thì tố giác tội phạm lại là nghĩa vụ. Bởi
việc không tố giác tội phạm sẽ bị các chế tài xử lý, cụ thể tùy trường hợp luật định,
nếu một người biết rõ cá nhân nào đó đang chuẩn bị, đang hay đã thực hiện hành vi
tội phạm mà không tố giác tội phạm thì sẽ người đó phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định của Bộ luật hình sự.
1 Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011
3
Hoa Thủy Tinh
1.2. Khái quát chung về quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật
Hình sự có hiệu lực từ 1/1/2018
Tại kỳ họp thứ 10 quốc hội khóa XIII thì Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13
đã được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực từ 1/7/2016. Tuy nhiên, do quá nhiều
sai sót nên hiệu lực thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã bị hoãn lại. Ngày
20/6/2017, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã
thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.”
Trước hết, về chủ thể bị điều chỉnh bởi quy định trên. Đó là “người bào chữa”.
Theo quy định tại Khoản 1 điều 72 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: “người bào
chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.” Cũng theo quy định tại điều này thì người bào
chữa có thể là: luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân
dân, trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được
trợ giúp pháp lý. Như vậy, luật sư là một trong những chủ thể chịu sự điều chỉnh của
khoản 3 điều 19 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tiếp theo, về nội dung quy định thì luật sư phải chịu trách nhiệm hình sự khi
không tố giác tội phạm thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện
hoặc đã thực hiện mà luật sư biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.
Khoản 1 điều 19 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định
như sau: “Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện
hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.”
Từ quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 19 trên, ta có thể thấy có 5 điều kiện
cần và đủ khi luật sư tố giác thân chủ:
(1) Người bị tố giác là người được bào chữa (thân chủ) của luật sư
(2) Luật sư phải biết rõ hành vi phạm tội thuộc trường hợp phải tố giác của thân chủ
(3) Thân chủ phạm vào các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng
(4) Việc tố giác thực hiện khi luật sư đang thực hiện việc bào chữa cho thân chủ
(5) Khi tội phạm đang chuẩn bị; đang được thực hiện; đã thực hiện
5
6
Hoa Thủy Tinh
Thứ tư, việc tố giác thực hiện khi luật sư đang thực hiện việc bào chữa cho
thân chủ. Theo quy định tại điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì luật sư (người
bào chữa) tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Như vậy, từ khi tham gia giai đoạn
khởi tố bị can đến khi tham gia phiên tòa xét xử bị can, bị cáo mà luật sư nhận
nhiệm vụ bào chữa thì nếu xảy ra các trường hợp luật định phải tố giác thân chủ thì
luật sư phải thực hiện đúng quy định đó.
Thứ năm, hành vi phạm tội bị tố giác có thể đang chuẩn bị, đang thực hiện, đã
thực hiện, tương ứng với các giai đoạn tội phạm: giai đoạn chuẩn bị phạm tội, giai
đoạn phạm tội chưa đạt, giai đoạn phạm tội hoàn thành. Có nghĩa là dù hành vi đó
nằm ở bất cứ giai đoạn nào của tội phạm thì khi biết được, luật sư phải có nghĩa vụ
tố giác với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiếp nhận thông tin tố giác.
Như vậy, so với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm
2009, dường như nếu chỉ xét trên góc độ pháp luật hình sự thì Bộ luật Hình sự sắp
có hiệu lực thi hành này có vẻ đã loại trừ trách nhiệm tố giác của luật sư trong một
số trường hợp nhất định. Với cách quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi
bổ sung năm 2009, ta có thể hiểu bất cứ “người nào” cũng có nghĩa vụ tố giác tội
phạm và luật sư cũng không nằm ngoài nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, khi suy xét quy
định tại khoản 3 điều 19 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
dưới nhiều góc độ của quy định pháp luật có liên quan thì tạo nên góc nhìn mới
hơn, đa chiều hơn. Điều này sẽ được phân tích trong mục 3 của bài.
3. Phân tích quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật hình sự có
hiệu lực từ 1/1/2018 dưới góc độ các quy định pháp luật có liên quan
3.1. Phân tích theo quy định của pháp luật Việt Nam
Khi luật sư và người phạm tội không có sự ràng buộc bởi giao dịch pháp lý thì
luật sư khi ấy cũng là một công dân. Đã là công dân thì phải có nghĩa vụ đối với
việc bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Vì vậy, khi biết về việc người nào đó
hình sự năm 2015 như sau:
“Điều 31.
1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh
theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.”
“Điều 13. Suy đoán vô tội
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo
trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật.”
Với tinh thần áp dụng của nguyên tắc trên thì trong suốt quá trình giải quyết
vụ án hình sự cho đến trước khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật
8
Hoa Thủy Tinh
thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn được coi là không có tội. Quy tắc này bảo vệ
quyền con người, lợi ích chính đáng của những người bị buộc tội khi chưa có bản
án có hiệu lực pháp luật. Bởi việc người này có tội hay không thì phải qua quá trình
điều tra, thu thập chứng cứ, đánh giá, xem xét toàn diện, khách quan. Nếu như
không có bằng chứng, chứng cứ để chứng minh họ có tội thì những cơ quan có thẩm
quyền phải tuyên họ vô tội.
Nguyên tắc “suy đoán vô tội” cũng là một quyền của con người, đi cùng với
quyền đó là “quyền im lặng” của người bị buộc tội. Bị can, bị cáo có quyền không
buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.
Hơn nữa, việc chứng minh người nào có tội là trách nhiệm từ phía cơ quan tiến
hành tố tụng. Luật sư, hơn ai hết phải tin rằng thân chủ của mình không có tội để có
thể tìm ra tình tiết gỡ tội, tình tiết giảm nhẹ tội cho thân chủ thì mới thực hiện được
nghĩa vụ của một người luật sư đến cùng.
Nếu như áp dụng khoản 3 điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017 thì luật sư phải tố giác thân chủ khi biết rõ thân chủ phạm tội
thuộc trường hợp phải tố giác. Mà luật sư cũng chỉ là một bên tham gia tố tụng, bảo
giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ
quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”
“Quyền bào chữa” là tổng hợp tất cả các quyền mà pháp luật dành cho người
tạm giữ, bị can, bị cáo sử dụng để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho họ. 2 Đó có thể là quyền tự đưa ra chứng cứ chứng minh vô tội
hoặc làm giảm nhẹ tội hoặc là quyền được luật sư, người khác bào chữa cho mình.
Tuy nhiên, với cách quy định “luật sư tố giác thân chủ” của Bộ luật Hình sự
sắp có hiệu lực tới đây thì liệu rằng bị can, bị cáo có an tâm để luật sư bào chữa cho
mình không? Bởi nếu họ khai ra thì họ sợ mình sẽ bị tố giác. Ngay chính người
mình tin tưởng nhất là luật sư sẽ gỡ tội cho mình mà giờ luật sư lại tố giác mình thì
từ đó sẽ dẫn đến tâm lý ngại tiếp cận dịch vụ pháp lý của luật sư và chỉ còn cách là
chạy tội, chạy án. Như vậy, sẽ làm gia tăng những tiêu cực trong xã hội. Người bị
buộc tội càng phải giấu tội, giấu thông tin của mình thì có thể gây khó khăn cho
công việc của chính luật sư, của cơ quan tiến hành tố tụng. Từ đó gây khó khăn hơn
2 Giáo trình luật tố tụng Hình sự Việt Nam, Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, năm 2012, Nhà xuất bản Hồng
Đức, tr.66
10
Hoa Thủy Tinh
trong việc giải quyết vụ án và càng khó có cơ hội để luật sư có thể động viên bị cáo
đầu thú, tìm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can, bị cáo.
Không phải ai cũng có đủ hiểu biết về pháp luật để mà có thể tự bào chữa cho
mình, để có thể biết dùng quyền của mình một cách đúng đắn, hiệu quả để tự bảo vệ
quyền lơi của chính họ. Bởi vậy pháp luật mới cho phép họ quyền được nhờ luật sư
bào chữa. Như vậy, với cách quy định “luật sư tố giác thân chủ”, người bị buộc tội
càng không tin tưởng vào luật sư và họ sẽ không còn dám cho mình cái quyền được
nhờ luật sư bào chữa nữa. Đặc biệt là người bị buộc vào các tội xâm phạm an ninh
quốc gia và tội đặc biệt nghiêm trọng. Ngược lại, luật sư cũng không dám bào chữa
sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị
cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải
được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.
Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá
chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.”
“Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
1. Người bào chữa có quyền:
m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; …”
Từ các quy định, ta thấy trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ
quan tiến hành tố tụng. Bất kỳ một tội phạm nào cũng đều xâm hại đến một quan hệ
xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ. Do vậy, các cơ quan bảo vệ pháp luật là
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng- đại diện cho quyền lực Nhà
nước có trách nhiệm, nghĩa vụ chứng minh tội phạm nhằm tìm ra người phạm tội để
giáo dục, trừng phạt, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tội phạm. 3 Còn luật sư với
trách nhiệm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ, thực hiện
nhiệm vụ bào chữa cho thân chủ, nhằm giúp thân chủ thoát tội hoặc giảm nhẹ tội.
Như nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ví: Công tố- Tòa án- Luật
sư là cái kiềng ba chân của hệ thống tư pháp nước ta. Như vậu, Công tố- buộc tội,
Tòa án- phân xử, Luật sư- bào chữa. Theo nguyên tắc tranh tụng thì sẽ phân định rõ
3 />
12
Hoa Thủy Tinh
ràng bên "buộc tội" và bên "bào chữa - gỡ tội" tranh luận, phản biện, đối kháng
nhau trong vụ án hình sự để tìm ra sự thật khách quan của vụ án, nêu ra, phân tích
những chứng cứ buộc tội, gỡ tội và tòa án sẽ là trọng tài để phân định bên nào đúng,
bên nào sai và quyết định kết quả giải quyết vụ án, tăng cường tính dân chủ, công
bằng trong tố tụng hình sự... Đó là thành tựu trong công cuộc cải cách tư pháp. Bên
buộc tội là các cơ quan tiến hành tố tụng, chủ yếu là cơ quan điều tra, viện kiểm sát,
g) Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi
bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng
thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”
“Điều 25. Bí mật thông tin
1. Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình
biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn
bản hoặc pháp luật có quy định khác.”
“Quy tắc 12. Giữ bí mật thông tin
Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện dịch vụ
pháp lý và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý
hoặc theo quy định của pháp luật; luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng nghiệp
có liên quan và nhân viên của mình cam kết không tiết lộ những bí mật thông tin mà
họ biết được và giải thích rõ nếu tiết lộ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.”
Từ các quy định trên ta thấy, luật sư có nghĩa vụ phải giữ bí mật thông tin của
khách hàng, cho dù đã kết thúc hợp đồng với khách hàng đó. Và nghĩa vụ này kéo
dài mãi mãi đối với luật sư. Đây là nguyên tắc mà hầu hết các quốc gia trên thế giới
đều áp dụng và nó là đạo đức của một người luật sư. Nếu như tố giác thân chủ thì
cũng đồng nghĩa với việc tiết lộ thông tin vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết
khi bào chữa, làm trái với lương tâm và đạo đức nghề luật sư, phản bội lại niềm tin
của thân chủ dành cho Luật sư. Bởi quan hệ giữa luật sư- thân chủ được xây dựng
trên cơ sở tin tưởng. Thân chủ dù muốn hay không muốn, nhưng khi đã vướng vào
vòng lao lý, đứng dưới sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng thì khi họ đã nhờ
luật sư bào chữa cho mình, tức là họ đã trao cho Luật sư tất cả niềm tin của mình.
14
Hoa Thủy Tinh
Nhưng Luật sư lại đi tố giác ngược lại họ. Như vậy đã là sự bội tín, hơn nữa nó còn
vi phạm hợp đồng bởi luật sư đã không làm tròn nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của
Hoa Thủy Tinh
không tố giác tội phạm, bởi hoạt động của doanh nghiệp này luôn bảo đảm pháp lý
bằng sự tư vấn của luật sư.
Với lĩnh vực tố tụng, điển hình là hình sự, ví dụ rõ nét nhất mà luật sư có thể
bị khởi tố bất cứ lúc nào và hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của cơ quan điều tra. Đó
là, khi đang bào chữa cho một bị can tại giai đoạn điều tra về một tội, nhưng quá
trình điều tra thì bị can này bị khởi tố bổ sung về một tội khác. Với hành vi mới bị
khởi tố, luật sư khó thoát khỏi sự liên quan. Theo đó, khi đảm nhận vụ án, để không
bị truy cứu trách nhiệm, luật sư buộc phải tố giác hết mọi hành vi của thân chủ cho
cơ quan điều tra, điều đó là có lợi cho cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng trái với
thiên chức hành nghề, luật sư không thể làm xấu đi tình trạng của thân chủ. Bởi đơn
giản, sứ mạng của luật sư là gỡ tội.
Cả 2 ví dụ nói trên đều có chung một kết quả, sẽ không ai dám thuê luật sư
nữa và tương tự, có thuê luật sư cũng không dám nhận, vì không ai muốn tự đeo dây
thòng lọng vào cổ của mình. Điều đó ảnh hưởng ghê gớm đến môi trường kinh
doanh, đến các các số phận pháp lý trong các vụ án hình sự. Ai sẽ giúp doanh
nghiệp hoạt động trong môi trường an toàn pháp lý, ai sẽ giúp bị can, bị cáo trong
các vụ án có dấu hiệu oan sai. Ai sẽ lực lượng phản biện, để thúc đẩy các chủ thể
trong cơ quan hành pháp làm việc tốt hơn.5
Như vậy, quy định “luật sư tố giác thân chủ” trước hết gây khó khăn trong việc
hành nghề của luật sư. Như đã phân tích ở các phần trên, nếu không tố giác thân chủ
thì luật sư bị khép vào tội danh “không tố giác tội phạm”, còn tố giác thân chủ thì
lại trái với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, hơn nữa là trái với đạo đức nghề
luật. Dường như rủi ro nghề nghiệp ngày càng sẵn sằng treo cái sự tù tội với luật sư.
Mặt khác, nghề luật sư ở Việt Nam chưa thực sự phát triển, nhưng đã có nhiều
dấu hiệu khả quan. Nhờ có luật sư mà nhiều vụ án oan sai đã được làm sáng tỏ như
vụ ông Huỳnh Văn Nén, Nguyễn Thanh Chấn…và còn nhiều vụ án oan khác. Với
sự hội nhập ngày càng sâu rộng thì Việt Nam có nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư
nước ngoài hơn. Khi đó thì họ rất cần sử dụng dịch vụ pháp lý từ các tổ chức hành
5 />
này, khi được thân chủ chia sẻ những thông tin trong phạm vi mối quan hệ luật sư-
6 />
17
Hoa Thủy Tinh
thân chủ (attorney-client relationship), thì luật sư không bị bắt buộc phải tố cáo thân
chủ và không phải chịu trách nhiệm hình sự về việc biết mà không tố giác tội phạm.
Mà ngược lại, luật sư có nghĩa vụ phải giữ bí mật tuyệt đối về những thông tin
đó. Nếu luật sư phá vỡ nguyên tắc này thì có thể phải đối mặt với việc bị luật sư
đoàn kỷ luật hoặc bị thân chủ khởi kiện dân sự.
Ở Mỹ, đặc quyền giữa luật sư và thân chủ chỉ có thể bị phá vỡ trong một số
trường hợp rất hạn hữu mà không bị coi là vi phạm đạo đức nghề nghiệp và không
bị luật sư đoàn khai trừ hay phải chịu trách nhiệm dân sự.
Trường hợp thứ nhất, theo Điều 1.6 (b)(1) của Bộ quy tắc nghề nghiệp luật sư
do Luật sư đoàn Hoa Kỳ (American Bar Association) soạn thảo, thì luật sư có thể tự
giác thông báo đến cơ quan chức năng những thông tin về hành vi phạm pháp của
thân chủ, khi luật sư biết khả năng rất cao là nó sẽ chắc chắn xảy ra.
Nếu một luật sư biết chắc thân chủ của mình – là một tập đoàn lớn – có hành
vi xả thải trái phép vào một nguồn nước gây tác hại đến cho người dân và môi
trường trên một diện rộng, thì có thể báo với chính quyền mà không bị quy là vi
phạm đạo đức nghề nghiệp và phá vỡ nguyên tắc bảo đảm bí mật của thân chủ.
Tuy nhiên, nếu luật sư đó không báo với chính quyền thì cũng không thể bị
truy tố trách nhiệm hình sự về tội không tố giác hành vi phạm tội của thân chủ. Luật
pháp chỉ truy cứu nếu luật sư là đồng phạm và thật sự tham dự vào hành vi phạm
pháp.
Chẳng hạn như trong ví dụ vừa nêu, nếu luật sư cùng bàn bạc và vạch ra kế
hoạch xả thải trái phép cùng với người khách của mình, thì lúc đó, luật sư là đồng
phạm và phải chịu chế tài của pháp luật.
Luật sư đoàn Hoa Kỳ, là phải khuyến cáo thân chủ từ bỏ ý định phạm tội, kết thúc
hợp đồng đại diện nếu thân chủ kiên quyết không từ bỏ, và tuyệt đối không được
phép đưa ra lời khuyên hay giúp đỡ thân chủ thực hiện hành vi phạm pháp.
Trong cả ba trường hợp được nêu, việc tự giác thông báo đến chính quyền từ
phía luật sư đều không đồng nghĩa với việc luật sư có nghĩa vụ phải tố giác như
khoản 3 Điều 19 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
19
Hoa Thủy Tinh
Tòa án cũng có thể sử dụng trát tòa (subpoena) để yêu cầu luật sư đưa ra lời
khai liên quan đến thông tin của thân chủ. Trong trường hợp đó, luật sư có thể đưa
ra thông báo với tòa (motion to the court) là thông tin mà mình cung khai có thể
nằm trong phạm vi của đặc quyền luật sư-thân chủ. Thẩm phán của phiên xử đó sẽ
phải đưa ra một phán quyết (ruling) là luật có cho phép luật sư đưa ra lời khai hay
không.
Nếu là có cho phép, luật sư phải tiếp tục thông báo đến người thân chủ của
mình vì thân chủ có quyền kháng cáo lên tòa cấp cao hơn (seeking judicial review
of an appeal court). Chỉ khi tất cả các thủ tục pháp lý đã được sử dụng và đều được
tòa phán là luật sư có thể phá vỡ nguyên tắc bảo mật trong trường hợp này, thì luật
sư có thể đưa ra lời khai. (Xem thêm tại Điều 1.6 (b)(6) về Quy tắc nghề nghiệp của
Liên đoàn luật sư Hoa Kỳ).
Nếu đã có lệnh (order) của tòa yêu cầu đưa ra lời khai, mà luật sư vẫn kiên
quyết không cung cấp thông tìn về thân chủ, thì luật sư có thể phải đối mặt với việc
bị tòa phạt vạ vì đã “miệt thị tòa án” (contempt of court).
Tuy nhiên, vì nguyên tắc của nghề luật là phải đảm bảo bí mật của khách
hàng, trường hợp tòa án đưa ra phán quyết là luật sư có thể phá vỡ nó để khai ra
thông tin bất lợi với thân chủ cũng là việc rất hy hữu và phải có lý do hết sức
nghiêm trọng, ví dụ như tính mạng của một hoặc nhiều người đang gặp nguy hiểm.
Hoa Thủy Tinh
KẾT LUẬN
Một quy định pháp luật mới ban hành không thể nào không tránh khỏi sự tranh
luận. Quy định “luật sư tố giác thân chủ” trong Bộ luật Hình sự có hiệu lực từ
1/1/2018 đã, đang và sẽ là vấn đề có nhiều tranh cãi cho đến khi Bộ luật này có hiệu
lực thi hành. Người viết hi vọng trong tương lai, Quốc hội sẽ sửa đổi quy định này
theo hướng hợp tình, hợp lý hơn. Từ đó, xây dựng bộ máy pháp quyền và một nền
tư pháp vững chắc hơn!
22
Hoa Thủy Tinh
DANH MỤC THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
8.1.
8.2.
8.3.
8.4.