I. NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ TỘI PHẠM TRONG PHẦN CHUNG
CỦA BLHS NĂM 2015.
Ngày 27-11-2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua
Bộ luật hình sự (BLHS) sửa đổi. Đến ngày 20/06/2017, tại kỳ họp thứ 3,
Quốc hội khóa XIV thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
hình sự năm 2015 và Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật hình sự.
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là
BLHS năm 2015),theo đó, Bộ luật gồm 3 phần, 26 chương, 426 điềuso với Bộ
luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi tắt là BLHS
1999),có nhiều điểm mới quan trọng về tội phạm và hình phạt trong phần
chung của BLHS năm 2015, được thể hiện cụ thể như sau.
1. Những điểm mới về khái niệm tội phạm và phân loại tội phạm của
BLHS năm 2015.
- Khái niệm tội phạm, khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 quy định: “Tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực
hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn
vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn
hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của
tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,
xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà
theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.
Thứ nhất, về khách thể của tội phạm, so với khái niệm tội phạm của các
Bộ luật Hình sự trước đó thì khái niệm tội phạm trong BLHS năm 2015 đã bổ
sung thêm “quyền con người” vào các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ. Sự bổ sung này là nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013
(Điều 3 và chương II).
Thứ hai, về chủ thể của tội phạm, chủ thể của tội phạm đã được mở rộng
hơn, bao gồm Con người và pháp nhân thương mại.
Thứ ba, về hậu quả pháp lý của tội phạm: Trong khái niệm tội phạm của
sự” trong định nghĩa khái niệm tội phạm tại Điều 8.
Nói tội phạm “phải bị xử lý hình sự” có nghĩa là bất cứ ' hành vi phạm
tội nào, do tỉnh nguy hiểm cho xã hội cũng đều bị đe dọa “phải bị xử lý hình
sự”. Nhưng điều đó không có nghĩa là việc áp dụng và thi hành trong thực tế
hiện pháp xử lý hình sự,_ trong đó có hình phạt và các biện pháp tư pháp có
tính chất bắt buộc tuyệt đối cho mọi trường hợp phạm tội.
Trong thực tế vẫn có trường hợp người phạm tội không phải chịu các
biện pháp này.Đó là những trường hơp được miễn trách nhiệm hình sự, được
miễn hình phạt hoặc được miễn chấp hành hình phạt... được quy định tại các
điều 29, 59, 62 và 65 của BLHS.
Những điểm mới về tội phạm và hình phạt trong Phần chung BLHS năm 2015
2
Hoàng Đình Duyên, Cao học HS và TTHS – Khóa 23
Như vậy, so với BLHS năm 1999, khái niệm tội phạm trong BLHS năm
2015 đã có nhiều điểm mới bổ sung theo hướng chặt chẽ, khoa học và phù
hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta.
- Điểm mới về phân loại Tội phạm.
Điều 9.Phân loại tội phạm.
“ 1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại
sau đây:
a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật
này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc
phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy
Khoản 2 của điều luật là nội dung được bổ sung theo BLHS năm 2015.
Việc bổ sung này xuất phát từ quy định có tội phạm do pháp nhân thương mại
thực hiện nên phải có các quy định cho tội phạm này tương ứng với các quy
định cho tội phạm do cá nhân thực hiện.
Bộ BLHS năm 2015 bổ sung quy định về phân loại tội phạm đối với
pháp nhân thương mại cụ thể là tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện
được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 9 và quy định tương ứng đối
với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của BLHS năm 2015.
Bổ sung quy định này có ý nghĩa quan trọng để xác định thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự, thẩm quyền điều tra của cơ quan tiến hành tố tụng
đối với pháp nhân thương mại phạm tội; ngoài ra việc sửa đổi, bổ sung quy
định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm
nhiều tội có ý nghĩa rất quan trọng trong xét xử.
2. Thu hẹp độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Khoản 2, Điều 12 quy định như sau:
“Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về
tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một
trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171,
173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và
304”
Theo đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy
định tại 28 điều luậttrong số 314 tội danh được quy định trong BLHS (chiếm
tỷ lệ 8,91%) thuộc 04 nhóm tội phạm: (1) Các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; (2) Các tội xâm phạm sở hữu; (3) Các
tội phạm về ma túy; (4) Các tội xâm phạm an toàn công cộng.
So với BLHS năm 1999, quy định của BLHS năm 2015 giới hạn phạm vi
phải chịu trách nhiệm hình sự của người trong độ tuổi 14 đến dưới 16 tuổi hẹp
hơn, BLHS năm 1999 chỉ giới hạn theo loại tội phạm còn BLHS năm 2015
tội, quy định rõ trong 25 tội danh thuộc 04 nhóm tội phạm (các tội xâm phạm
an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
con người; các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm an toàn công
cộng,người có hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đây là một điểm mới của chế định chuẩn bị phạm tội trong Bộ luật.
Trên cơ sở quy định này, lần đầu tiên, BLHS năm 2015 đã quy định một
khung hình phạt riêng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội ngay trong từng
điều luật quy định về các tội danh cụ thể.
Khoản 3 quy định riêng đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải
trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 02 tội danh: giết
Những điểm mới về tội phạm và hình phạt trong Phần chung BLHS năm 2015
5
Hoàng Đình Duyên, Cao học HS và TTHS – Khóa 23
người và cướp tài sản. (bởi đây là những tội đặc biệt nguy hiểm, có tính bạo
lực cao, xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của con người, cần được
quy định để phòng ngừa, xử lý, ngăn chặn sớm trước khi có thể xảy ra trên
thực tế.
So với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 giới hạn phạm vi các hành vi
chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự hẹp hơn và có sự phân biệt
giữa trường hợp chủ thể từ đủ 16 tuổi trở lên với trường hợp chủ thể từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi.
4. Về đồng phạm.
Khoản 4, Điều 17, BLHS năm 2015 bổ sung quy định xác định trách
nhiệm hình sự cụ thể trong trường hợp vượt quá của người thực hành, quy
định “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt
quá của người thực hành”.
Điểm mới đó là mở rộng đối vớingười không tố giác là ông, bà, cha, mẹ,
con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội về phải chịu
trách nhiệm hình sự là là các tội phạm tại chương XIII và tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng, theo quy định của BLHS năm 1999 thì chỉ phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm an ninh quốc gia và các tội đặc biệt nghiêm trọng
quy định tại Điều 313.
Mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa về hành
vi không tố giác thân chủ, việc BLHS năm 2017 quy định người bào chữa
phải chịu trách nhiệm hình sự nếu “không tố giác các tội quy định tại Chương
XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính
người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà
người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa”, tức theo quy định này thì
hành vi không tố giác thân chủ của người bào chữa đã mở rộng hơn so
với BLHS 2015, không chỉ còn bó hẹp đối với việc không tố giác những tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 389.
BLHS năm 2017 quy định rõ việc chịu trách nhiệm hình sự của người
bào chữa trong trường hợp không tố giác tội phạm như trên là hoàn toàn phù
hợp, đảm bảo được nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và đáp ứng đầy đủ
hơn, hiệu quả hơn cho công tác đấu tranh, phòng ngừa và chống các tội phạm
xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác.
Bởi thiết nghĩ thì chế định bào chữa trong luật hình sự là nhằm hướng tới
bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội, nhưng nếu vì bảo
vệ quyền lợi của người phạm tội mà cố tình không tố giác những tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng khác thì hệ quả của nó vô cùng lớn.
5. Về loại trừ trách nhiệm hình sự
Được quy định thành một chương, Chương IV, gồm có 07 điều luật, theo
đó BLHS năm 2017 bổ sung có 03 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.
Đây là chương mới được xây dựng tập hợp 4 điều luật đã có trong BLHS năm
1999 và 03 điều luật mới được bổ sung là 03 điều luật có cùng tính chất với
trường hợp phòng vệ chính đáng và trường hợp tình thế cấp thiết.
người bắt giữ đã tiến hành các biện pháp khác, nhưng không còn cách nào
khác là dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt.
- Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ
thuật và công nghệ (Điều 25).
“Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử
nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân
thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì
không phải là tội phạm.
Những điểm mới về tội phạm và hình phạt trong Phần chung BLHS năm 2015
8
Hoàng Đình Duyên, Cao học HS và TTHS – Khóa 23
Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy
đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình
sự”.
Lần đầu tiên pháp luật hình sự nước ta ghi nhận về hành vi gây thiệt hại
do rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và
công nghệ: Người gây ra thiệt hại trong việc thực hiện hành vi khi thực hiện
việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ
mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp
phòng ngừa, cân nhắc cẩn thận, so sánh ý nghĩa, mục đích đặt ra với hậu quả
rủi ro, không mong muốn xảy ra, hậu quả xảy ra phải nhỏ hơn, không đáng kể
với mục đích nghiên cứu đạt được, nghiên cứu, thử nghiệm đó phải đem lại
lợi ích lớn cho xã hội, cộng đồng thì không phải là tội phạm.
Người nào không tuân thủ các quy trình, biện pháp phòng ngừa, gây ra
hậu quả nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự thì phải chịu TNHS.
người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực
hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo
cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành
mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này
người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.
Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản
2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này”.
Là chế định mới thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự
Việt Nam: Hành vi gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự có dấu hiệu nào đó bị
pháp luật hình sự cấm trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc
của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc
phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh
nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không
phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình
sự.Hành vi gây thiệt hại trong việc chấp hành chỉ thị là hành vi nguy hiểm cho
xã hội, bị pháp luật hình sự cấm, do chủ thể thi hành mệnh lệnh của người chỉ
huy hoặc của cấp trên gây ra.
Người thi hành mệnh lệnh gây thiệt hại với lỗi cố ý, do bắt buộc phải thi
hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên.Người này đã làm hết
trách nhiệm, quy trình báo cáo, nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp
hành mệnh lệnh đó. Đây là mối quan hệ ràng buộc của người ra chỉ thị với
người thực hành chỉ thị. Người thi hành mệnh lệnh chỉ thị của cấp trên không
phải chịu trách nhiệm hình sự, mà người ra chỉ thị, mệnh lệnh sẽ phải chịu
trách nhiệm hình sự về việc ra mệnh lệnh.
6.Bổ sung đối với trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự.
Những điểm mới về tội phạm và hình phạt trong Phần chung BLHS năm 2015
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình
mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm
nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc
phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả
của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và
xã hội thừa nhận.
Những điểm mới về tội phạm và hình phạt trong Phần chung BLHS năm 2015
11
Hoàng Đình Duyên, Cao học HS và TTHS – Khóa 23
3. Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm
trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc
tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người
bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể
được miễn trách nhiệm hình sự.”
So với BLHS năm 1999, thì căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo quy
định của BLHS năm 2015 có những điểm mới như sau.
Thứ nhất, đương nhiên miễn trách nhiệm hình sự: Người phạm tội được
miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ: Khi tiến hành điều
tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành
vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội; Khi có quyết định đại xá.
Thứ hai, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi thỏa
mãn một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 29 BLHS 2015: Khi tiến
hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội
không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử,
quyết định miễn TNHS hoặc không miễn TNHS cho người phạm tội.Miễn
trách nhiệm hình sự trong BLHS năm 2015 mở rộng phạm vi miễn TNHS để
hạn chế đến mức thấp nhất việc xử lý bằng biện pháp hình sự đối với người
phạm tội, đồng thời thể hiện bản chất nhân đạo của pháp luật nước ta.
7. Về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Trong thời gian qua, bên cạnh những mặt tích cực, những thành tựu đạt
được thì sự vận động nội tại của kinh tế thị trường đã phát sinh những mặt
trái, trong đó là tình hình và tỷ lệ tội phạm gia tăng cả về số lượng lẫn mức
độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nổi lên là một số
loại tội phạm do pháp nhân thực hiện như tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, tội
phạm môi trường... để lại những hậu quả xấu, gây thiệt hại rất nghiệm trọng,
đặc biệt nghiêm trọng cho môi trường sống của người dân nói riêng và sự
phát triển ổn định trật tự - an ninh của đất nước nói chung nhưng chưa được
quy định trong BLHS như là một tội phạm.
Trong nền kinh tế thị trường không ít tổ chức kinh tế - pháp nhân thương
mại, vì chạy theo lợi nhuận cục bộ đã có sự thông đồng thực hiện nhiều hành
vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế như
trốn thuế, kinh doanh trái phép, đầu cơ, buôn lậu hoặc vì lợi ích cục bộ đã
không thực hiện các biện pháp mà pháp luật đòi hỏi để bảo vệ môi trường,
gây hậu quả nghiêm trọng. Việc núp bóng dưới danh nghĩa pháp nhân để
phạm tội ngày càng tăng, tính chất nguy hiểm ngày càng cao.
Các hành vi vi phạm pháp luật mang tính chất tội phạm do pháp nhân
thương mại thực hiện trong thời gian qua diễn ra ngày càng tăng như buôn
lậu, gian lận thương mại, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; tội phạm
trong các lĩnh vực chứng khoán, môi trường, tài nguyên,… Đa số những
trường hợp trên là do cơ quan lãnh đạo, người đại diện của pháp nhân thương
mại thực hiện vì lợi ích của pháp nhân đó hoặc trong khuôn khổ hoạt động
của pháp nhân thương mại với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt,
Những điểm mới về tội phạm và hình phạt trong Phần chung BLHS năm 2015
chính. Tuy nhiên, hầu hết các hành vi mà Công ước yêu cầu lại không được
coi là vi phạm hành chính theo pháp luật Việt Nam nên không thể buộc tổ
chức chịu trách nhiệm hành chính đối với hầu hết tội phạm nà.
Do vậy, Nhà nước ta đã quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân tại
Chương XI BLHS năm 2015. Tuy nhiên, việc quy định trách nhiệm hình sự
của pháp nhân mới chỉ tập chung vào pháp nhân thương mại và đối với hai
nhóm tội là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về môi
trường.
Những điểm mới về tội phạm và hình phạt trong Phần chung BLHS năm 2015
14
Hoàng Đình Duyên, Cao học HS và TTHS – Khóa 23
*. Về Hình phạt: Đối với pháp nhân thương mại phạm tội có hình phạt
chính và hình phạt bổ sung.
Hình phạt chính bao gồm: Phạt tiền; Đình chỉ hoạt động có thời hạn;
Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một
số lĩnh vực nhất định; Cấm huy động vốn; Phạt tiền, khi không áp dụng là
hình phạt chính.
- Về nguyên tắc áp dụng hình phạt: đối với mỗi tội phạm mà người hoặc
pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể
bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.
*. Về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự: pháp nhân thương mại chỉ phải
chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây: Hành vi phạm tội
được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; Hành vi phạm tội được thực
hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;Hành vi phạm tội được thực hiện có
sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; Chưa hết
Điều 200 (tội trốn thuế);
Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ);
Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin
trong hoạt động chứng khoán);
Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán);
Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận
trong kinh doanh bảo hiểm);
Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp cho người lao động);
Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh);
Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp);
Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác
tài nguyên);
Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng);
Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã);
Các tội phạm về môi trường quy định tại:
Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường);
Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi
trường);
Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê
điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông);
Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam);
Điều 242 (tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản);
Điều 243 (tội huỷ hoại rừng);
Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp,
quý, hiếm);
Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên);
Những điểm mới về tội phạm và hình phạt trong Phần chung BLHS năm 2015
1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau
đây:
a) Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật
này quy định;
b) Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế,
môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do
Bộ luật này quy định”.
Những điểm mới về tội phạm và hình phạt trong Phần chung BLHS năm 2015
17
Hoàng Đình Duyên, Cao học HS và TTHS – Khóa 23
Không có quy định tại khoản 4, điều 30, BLHS năm 1999 “Tiền phạt có
thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Toà án quyết định
trong bản án.” Là để đảm bảo thi hành án.
3. Điểm mới về hình phạt cải tạo không giam giữ.
Khoản 4, Điều 36, BLHS năm 2015 quy định:
“Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm
hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực
hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo
không giam giữ.
Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày
và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ
có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh
hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ
quy định tại khoản 2 các điều 138, 139, 180 BLHS. Trong trường hợp như
vậy Tòa án sẽ quyết định áp dụng một hình phạt không mang tính giam giữ
đối với người phạm tội (cảnh cáo, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ).
5. Thu hẹp phạm đối tượng bị áp dụng hình phạt tử hình.
- Thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình.
Khoản 1, Điều 40 quy định
“Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc
biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia,
xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một
số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.”
Quy định này thu hẹp so với BLHS năm 1999, theo đó BLHS năm 1999
quy định hình phạt tử hình áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm
trọng. BLHS năm 2015 hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với 05 nhóm tội
phạm, đó là:
(1) các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
(2) các tội xâm phạm tính mạng con người;
(3) các tội phạm về ma túy;
(4) các tội phạm tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
khác do Bộ luật hình sự quy định (như các tội: sản xuất, buôn bán hàng giả là
thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; khủng bố; phá hoại hòa bình, gây chiến
tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh...).
- Mở rộng đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình.
Khoản 2, Điều 40, BLHS năm 2015 quy định các trường hợp không áp
dụng hình phạt tử hình là
“Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm
tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ
75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.
Những điểm mới về tội phạm và hình phạt trong Phần chung BLHS năm 2015
19