KL triết lý nhân sinh của truyền thuyết về thời đại hùng vương - Pdf 43

MỤC LỤC
Trang

A. MỞ ĐẦU..................................................................................................2
1. Tính cấp thiết của đề tài............................................................................2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.......................................................................4
3. Mục đích nghiên cứu đề tài.......................................................................6
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài......................................7
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu....................................................................7
6. Đóng góp của khóa luận............................................................................7
7. Kết cấu của khóa luận...............................................................................7
B. NỘI DUNG...............................................................................................8
Chương1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỀN THUYẾT................8
1.1. Sự hình thành và phát triển của truyền thuyết thời đại Hùng Vương.....8
1.1.1. Sự ra đời của truyền thuyết.................................................................8
1.1.2. Đặc điểm của truyền thuyết...............................................................11
1.1.2.1. Yếu tố hư cấu..................................................................................11
1.1.2.2. Tính khái quát hóa và cụ thể hóa....................................................12
1.1.2.3. Đặc điểm nhân vật..........................................................................13
1.2. Nội dung của truyền thuyết Hùng Vương............................................14
Chương 2.....................................................................................................21
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÂN SINH QUAN TRONG TRUYỀN THUYẾT
THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG.......................................................................21
2.1. Quan niệm về đời người.......................................................................21
2.1.1. Sự hình thành con người...................................................................21
2.1.2. Đời sống của con người....................................................................25
2.1.3. Quan hệ giữa con người với con người.............................................32
2.2. Một số khía cạnh của đời sống kinh tế và đời sống tinh thần trong
truyền thuyết thời đại Hùng Vương............................................................40
2.2.1. Trong đời sống kinh tế.......................................................................40
2.2.2. Trong đời sống tinh thần...................................................................44


2


Và vấn đề “khơi dậy ý thức cội nguồn của dân tộc Việt Nam” đã được
Đảng và Nhà nước ta đề cập tới rất nhiều trong các nghiên cứu khoa học
của đất nước ta những năm gần đây. Nhất là khi nghiên cứu về thời đại
Hùng Vương - Thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên trong lịch sử phát
triển dân tộc Việt Nam ta.
Thời đại Hùng Vương là thời kì đầu dựng nước, mặc dù trình độ kinh
tế, văn hóa xã hội còn ở mức sơ khai nhưng trong quá trình phát triển của
lịch sử đã tạo dựng nên truyền thống quý báu của dân tộc ta như cần cù,
sáng tạo trong lao động sản xuất, đoàn kết chiến thắng thiên tai dịch họa và
dũng cảm kiên cường trong đấu trang chống giặc ngoại xâm. Những truyền
thống quý báu đó là nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt lên mọi khó khăn
thử thách trong thời đại ngày nay, để chiến thắng kẻ thù xâm lược và xây
dựng đất nước ngày càng hùng mạnh và có vị thế trên trường quốc tế. Nhìn
nhận về thời đại Hùng Vương trong lịch sử dân tộc, sách lịch sử Việt Nam
của nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1971 có viết: “ Thời kỳ
Văn Lang, thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn trọng yếu của lịch sử Việt
Nam. Chính trong thời kỳ này đã xây dựng nên nền tảng dân tộc Việt Nam,
nền tảng Văn hóa Việt Nam và truyền thống tinh thần Việt Nam”. Để tôn
vinh thời đại mở đầu dựng nước của dân tộc Việt Nam, đề cao những
truyền thống văn hóa quý báu đã có từ thời đại các Vua Hùng, Bác Hồ kính
yêu đã nhắc nhở chúng ta trong câu nói bất hủ của Người:
“ Các Vua Hùng đã có công dựng nước,
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Thời đại Hùng Vương gắn liền với những truyền thuyết cổ xưa nhất
của dân tộc Việt Nam. Những truyền thuyết về thời đại Hùng Vương đã đi
sâu đời sống, ăn sâu trở thành những hình thức tín ngưỡng truyền thống của

thuyết về Thời đại Hùng Vương” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân
ngành triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Thời đại Hùng Vương cùng với những đặc trưng về văn hóa - xã hội,
kinh tế, chính trị…đã trở thành đề tài được rất nhiều các nhà khoa học quan
4


tâm nghiên cứu nhằm tìm kiếm, giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắc
văn hóa của dân tộc từ thuở khai sinh lập nước cho đến nay. Đặc biệt trong
xu thế hội nhập ngày nay, các giá trị văn hóa thực - hư đan xen lẫn lộn vào
nhau thì việc nghiên cứu và tìm hiểu đề tài này lại càng có ý nghĩa quan
trọng hơn bao giờ hết.
Hiện nay, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thời đại Hùng
Vương, cụ thể như:
- Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Kim Biên, “Truyền thuyết
Hùng Vương - Thần thoại vùng đất tổ”, nhà xuất bản Sở Văn hóa thể thao
và Du Lịch Phú Thọ, 2009: là cuốn sách sưu tầm 32 truyện cổ tích đặc sắc
của vùng đất tổ bao gồm 23 truyện thuộc thời Hùng Vương và 9 truyện
thuộc các thời kỳ sau từ thế kỷ 2 Trước công nguyên đến Triều đại Nhà
Nguyễn. Các câu chuyện truyền thuyết đã được tác giả sưu tầm và biên
soạn lại sao cho dễ hiểu, dễ tìm kiếm hơn nhằm mục đích phục vụ cho việc
nghiên cứu của các tác giả sau này.
- Tập thể các tác giả Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn
Cảnh Minh, “Đại cương lịch sử Việt Nam”, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục,
Hà Nội, 2007: đã khái quát một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc - Thời
đại Hùng Vương dựng nước, khái quát về kinh tế, chính trị, xã hội của con
người thời đại Hùng Vương cũng như khẳng định công lao to lớn của các
Vua Hùng và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm
Phương Bắc xâm lược.

về thời đại Hùng Vương của các bậc tiền bối đi trước, nghiên cứu vấn đề “
triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đại Hùng Vương” là một đề tài còn
rất mới mẻ và nhiều hạn chế song kết quả của đề tài khóa luận này hướng
đến không ngoài mục đích nhằm góp phần làm phong phú thêm kho tư liệu
về thời đại Hùng Vương dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Với việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta bước đầu làm quen với
hoạt động nghiên cứu khoa học một cách có hệ thống, có lôgíc và hoàn
thiện hơn. Đồng thời tạo điều kiện vận dụng một cách khoa học thế giới
quan duy vật biện chứng trong việc nghiên cứu các truyền thuyết về thời
6


đại Hùng Vương, góp phần vào việc quảng bá những nét văn hóa truyền
thống đặc sắc của quê hương vùng đất tổ Vua Hùng.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài.
- Cơ sở lý luận
Đề tài được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin;
Tư tưởng Hồ Chí Minh; Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn
đề tín ngưỡng, tôn giáo.
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài này dựa trên lập trường thế giới
quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp của phép
biện chứng duy vật.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Khóa luận nghiên cứu toàn bộ thời đại Hùng Vương dựng nước
(khoảng từ thế kỉ 6 -7 trước công nguyên) thông qua các truyền thuyết để
thấy được triết lý nhân sinh của toàn bộ Thời đại Hùng Vương.
6. Đóng góp của khóa luận.
Đề tài “ Triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đại Hùng Vương”
bước đầu làm rõ các khía cạnh nhân sinh quan trong thời đại Hùng Vương

triển của một cộng đồng và đồng thời cũng là đại diện, là tiêu biểu hay thể
hiện những giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần
của cộng đồng người đó”.
Trong xã hội nguyên thủy, mặc dù sống trong tình trạng văn hóa thấp
kém, nhưng con người luôn luôn khát vọng thể hiện trong các tác phẩm
nghệ thuật của mình tất cả những hoạt động sinh hoạt, những tâm tư, tình
cảm của mình trước con người, trước tự nhiên. Trước khi xuất quân đi săn
bắn tập thể hay đánh cá, người nguyên thủy thường tập hợp nhau lại để
diễn tập những khâu của công việc lao động mà mình sẽ tiến hành. Lúc
thắng lợi trở về, người ta lại diễn lại những kỳ tích đạt được trong quá trình
lao động ấy ở buổi lễ ăn mừng, phân chia thành quả lao động đó. Những
sinh hoạt tập thể ấy, một mặt nhằm mục đích rèn luyện cho nhau về những
kĩ năng sản xuất, những hiểu biết về tự nhiên tích lũy được trong lao động
8


sản xuất. Mặt khác đó cũng chính là dịp lễ để biểu dương những anh hùng,
những bậc tiền bối có nhiều công lao, nhiều thành tích trong cuộc đi săn đó
đối với thị tộc, đối với bộ lạc.
Trên cơ sở những sinh hoạt có mục đích ấy thì văn nghệ nguyên thủy
đã được nảy sinh. Những thành tích và công lao của những người kiệt suất
đó không những được kể lại hoặc được diễn ra đúng với sự thực mà nó còn
được tô điểm theo các tư tưởng chất phác và phong phú của con người
nguyên thủy. Và đó chính là nguyên nhân đã nảy sinh truyền thuyết ra đời.
Như vậy, truyền thuyết chính là một bộ phận của văn hóa nguyên thủy
được phát sinh trên cơ sở lao động và đời sống tập thể của người xưa.
Truyền thuyết chính là kho tàng lịch sử thiêng liêng, là kho tàng kinh
nghiệm sản xuất và chiến đấu của nhân dân được gìn giữ và phát triển cho
tới tận ngày nay. Truyền thuyết lấy những gì liên quan đến những sự kiện
của nhân vật lịch sử nổi bật làm đối tượng phản ánh và miêu tả. Qua đó

những địa điểm, địa hình và sự vật địa lý ấy như Sự tích Sông Thủ Huồn;
Sự tích Sông Nhà Bè; Sự tích Hồ Gươm; Sự tích Núi Tản Viên… Những
địa danh được giải thích bằng truyền thuyết đều gắn với lịch sử, phản ánh
lịch sử, sự kiện lịch sử.
Truyền thuyết phổ hệ là truyện kể dân gian về nguồn gốc các thị tộc,
bộ lạc, các làng xã tiêu biểu như truyền thuyết về Hùng Vương vừa là
truyền thuyết về lịch sử vừa là truyền thuyết phổ hệ, vừa là truyền thuyết về
địa danh liên quan đến vùng đất tổ Đền Hùng - Phú Thọ.
Truyền thuyết về nhân vật, sự kiện lịch sử còn gọi là truyền thuyết lịch
sử. Truyền thuyết này có mục đích tái hiện sự thật lịch sử, ít mang tính địa
phương vì sự kiện, nhân vật thường có ảnh hưởng đến đời sống toàn dân
như những truyền thuyết chống giặc ngoại xâm, chống phong kiến áp
bức…
Tóm lại, có rất nhiều cách phân chia truyền thuyết khác nhau dựa vào
nội dung của từng tác phẩm nhưng điều quan trọng nhất đó là chúng ta phải
hiểu được những giá trị lịch sử, giá trị văn hóa quý giá ẩn chứa bên trong
các tác phẩm tuyền thuyết của dân tộc ta. Để từ đó hiểu thêm về nguồn gốc
10


của dân tộc, khơi dậy niềm tự hào đất nước cũng như góp phần gìn giữ và
phát triển các thể loại truyền thuyết trong thời đại ngày nay.
1.1.2. Đặc điểm của truyền thuyết
Truyền thuyết là thể loại văn học dân gian ra đời từ rất sớm, gắn liền
với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Cũng như những thể loại
văn học dân gian khác, truyền thuyết mang những đặc điểm cơ bản sau:
1.1.2.1. Yếu tố hư cấu
Truyền thuyết là một loại hình sáng tác nghệ thuật nên yếu tố hư cấu
đóng một vai trò hết sức quan trọng nhưng phải dựa trên những cơ sở hiện
thực đáng tin cậy đó là sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử.

Trong truyền thuyết tính khái quát hóa và cụ thể hóa kết hợp chặt chẽ
với nhau tạo cho cốt chuyện và cho nhân vật vừa mang tính nghệ thuật lại
vừa mang tính lịch sử cụ thể. Và sự kết hợp của 2 khuynh hướng này luôn
luôn có sự thay đổi làm thay đổi diện mạo của truyền thuyết. Cụ thể:
Ở thời kỳ Văn Lang cổ đại, truyền thuyết mang tính chất sử thi anh
hùng và chịu ảnh hưởng của thần thoại. Tính chất huyền ảo, hoang đường
đậm nét nhất là trong các truyền thuyết mô tả lại chiến công của các vị anh
hùng giữ nước của Vua Hùng dựng nước, Thánh Gióng, An Dương
Vương…
Ở thời kỳ sau thì tính cụ thể lịch sử lại được thể hiện rõ hơn. Các nhân
vật lịch sử được mô tả rõ ràng, chân thực gắn liền với đời sống của nhân
dân kiểu như truyền thuyết về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền…
Tính cụ thể xác thực là đặc trưng nổi bật nhất của thể loại truyền
thuyết. Nếu như Thần thoại chỉ là những câu truyện về các vị thần theo trí
tưởng tượng của con người sáng tạo ra, mang tính chất hoang đường, kỳ ảo,
siêu nhiên thì truyền thuyết lại được nhân dân sáng tác dựa trên những câu
chuyện gắn liền với lịch sử của dân tộc ta. Vì thế cho nên tính cụ thể, xác
thực đã trở thành đặc trưng nổi bật nhất để phân biệt truyền thuyết với các
thể loại văn học dân gian khác. Trong truyền thuyết: tên người, tên đất, thời
gian, không gian cụ thể thường rất được coi trọng và tác giả đã dùng chính
những dữ kiện ấy để đặt tên cho tác phẩm truyền thuyết. Tiêu biểu như
12


Truyền thuyết Hùng Vương kể về 18 đời Vua Hùng dựng nước ở Việt Trì Phú Thọ, hay Truyền thuyết Thánh Gióng, Truyền thuyết An Dương
Vương… Các yếu tố này đã có đóng góp hết sức quan trọng cho các nhà
nghiên cứu sử học sau này vào việc dựng lại không khí lịch sử, tạo tính xác
thực lịch sử cho các tác phẩm truyền thuyết.
Và đến ngày nay thì yếu tố hoang đường, hư cấu đã dần dần bị mất đi
trong thể loại truyền thuyết. Hầu hết tất các truyền thuyết thời hiện đại

gắn liền với cuộc sống và con người thì ngày càng ý thức được rõ hơn về
bản thân mình, về sức mạnh tiềm ẩn bên trong con người mình. Với tinh
thần đoàn kết con người có thể chiến thắng tất cả mà không cần đến sức
mạnh của Thần linh hay Thượng Đế tạo ra nữa.
Tóm lại, truyền thuyết là một gạch nối, một mắt xích nối liền thần
thoại với các thể loại văn học dân gian khác, nó là bước chuyển tiếp bảo
đảm tính liên tục hoàn chỉnh, hợp lý trong cơ cấu thể loại cũng như trong
tiến trình lịch sử phát triển của loại hình tự sự dân gian.
1.2. Nội dung của truyền thuyết Hùng Vương
Trong kho tàng thần thoại, truyền thuyết của nước ta, nếu như những
câu chuyện thần thoại về khởi nguyên của vũ trụ, về sự xuất hiện của loài
người không được ghi chép lại một cách có hệ thống và cũng không để lại
những ấn tượng sâu đậm thường trực trong trí nhớ của nhân dân, thì trái lại
những câu chuyện truyền thuyết liên quan đến lịch sử xuất hiện của cư dân
Lạc Việt và sự ra đời của đất nước Văn Lang ở thời đại Hùng Vương như
Truyền thuyết Mẹ Âu Cơ đẻ ra “ một bọc trăm trứng” nở ra một trăm người
con trai lấy hiệu là Hùng Vương cai trị đất nước Văn Lang; Các kỳ tích của
Cha Lạc Long Quân diệt trừ các loài yêu quái để ổn định nơi cư trú; Truyền
thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh tranh giành công chúa Ngọc Hoa gây ra lũ lụt
hàng năm cho nhân dân; Truyền thuyết Thánh Gióng đánh giặc Ân… lại
luôn luôn được khắc sâu trong tâm khảm của mọi thế hệ người Việt từ xưa
đến nay.
Giữ gìn và phát huy những các truyền thống dân tộc được đúc kết
trong các truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã có ý nghĩa hết sức to lớn
14


đối với dân tộc Việt Nam. Bởi vì, trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc,
do chính sách “ đồng hóa” của những kẻ xâm lược đối với nhân dân Văn
Lang nhằm xóa đi những truyền thống văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt

xây dựng nên một đất nước Văn Lang - Âu Lạc phồn thịnh và hùng mạnh.
Các truyền thuyết thời đại Hùng Vương thể hiện các nội dung chủ
yếu sau đây:
Thứ nhất: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã thể hiện ý thức tự
hào về tổ tiên, về nòi giống Rồng - Tiên cao quý của dân tộc Việt Nam.
Khi nói đến nguồn gốc ra đời của dân tộc thì người dân Việt Nam
không ai lại không tự hào về nguồn gốc Rồng - Tiên của dân tộc mình. Đó
chính là một truyền thống đặc trưng, đầy tự hào của dân tộc ta. Khác với
các dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam đã chứng minh được
nguồn gốc ra đời của dân tộc mình thông qua truyền thuyết cổ xưa nhất còn
lưu truyền tới tận ngày nay đó là truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ.
Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ bao gồm nhiều sự tích sâu chuỗi với
nhau, kể về cuộc tình duyên lịch sử giữa người dũng sĩ Lạc Long Quân với
nàng tiên Âu Cơ xinh đẹp dẫn đến sự ra đời của cái bọc trăm trứng, nở ra
một trăm chàng trai khôi ngô tuấn tú, rồi một nửa theo mẹ lên núi, một nửa
theo cha xuống biển…cùng nhau xây dựng cơ nghiệp đất nước. Nguồn gốc
của dân tộc ta đã được thần thánh hóa và quan niệm “ con rồng cháu tiên”
đã trở nên quên thuộc với nhân dân Việt Nam ta hàng bao đời nay, là niềm
tự hào của mỗi người dân Việt Nam khi nói về nguồn gốc hình thành của
dân tộc mình.
Ngoài ra, hình ảnh “ bọc trăm trứng” nở ra trăm người con trai không
chỉ là hình ảnh thể hiện sự sinh sôi nảy nở của dân tộc vốn có chung một
nguồn gốc đó là nguồn gốc Rồng - Tiên_nguồn gốc cao quý của dân tộc
Việt Nam mà hình ảnh đó còn thể hiện tinh thần đoàn kết, tình cảm cộng
đồng của những người con cùng sinh ra từ “ một bọc trăm trứng”, cùng
nhau bảo vệ đất nước khi đất nước bị lâm nguy.
Như vậy, truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ đã trở thành “ bản ghi
chép” giới thiệu về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là bản
16


17


cuộc lao động chinh phục thiên nhiên, là sức mạnh chiến thắng tất cả
những lực lượng thù địch của người dân Văn Lang. Ngoài ra, truyền thuyết
cũng đã khẳng định quyền làm chủ của nhân dân trên cả ba vùng tiêu biểu
của đất tổ là vùng biển, đồng bằng và trung du. Xác định địa bàn cư trú ổn
định của dân tộc để nhân dân ta yên tâm sinh sống hòa bình, hăng say lao
động và ra sức bảo vệ thành quả lao động của chính mình.
Thứ ba: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương thể hiện lòng thiết tha
yêu mến quê hương, bảo vệ xứ sở và địa bàn cư trú của mình.
Trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, đất nước ta đã phải trải
qua rất nhiều cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ đất nước, bảo
vệ chủ quyền dân tộc. Ở thời đại Hùng Vương, đất nước ta cũng không
tránh được “ sự dòm ngó” của các nước phong kiến Phương Bắc muốn
chiếm nước ta để cai trị. Nhân dân Văn Lang với lòng yêu nước nồng nàn,
yêu quê hương tha thiết đã đoàn kết nhau lại để đấu tranh chống lại những
thế lực xâm lược hùng mạnh. Nhân dân Văn Lang đã xây dựng nên hình
tượng Thánh Gióng là người đại diện tiểu biểu nhất của dân tộc Việt Nam
ta về sức mạnh chống giặc ngoại xâm và ý chí quật cường của dân tộc. Sức
mạnh ấy là sức mạnh tổng hợp của tinh thần và vật chất, của con người và
vũ khí, của cá nhân và cộng đồng đã làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân
tộc ta trước kẻ thù xâm lược hung bạo đó là giặc Ân.
Chi tiết cậu bé sinh ra ba năm không nói, không cười, không khóc
nhưng khi đất nước có giặc ngoại xâm, khi nghe tiếng truyền hịch của sứ
thần cần người hiền tài giúp nước chống giặc thì ngay lập tức biết nói và
tiếng nói đầu tiên là tiếng nói hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước. Đó là chi
tiết thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của nhân dân, của dân tộc, thể hiện tinh thần
cứu nước là trên hết, là trước tiên nhất ở mỗi con người, bất kể già - trẻ gái - trai. Sức mạnh ấy có trong mỗi con người Việt, khi quốc gia cần thì
vươn dậy, quật khởi và tự nhiên. Sức mạnh ấy không chỉ là sức mạnh của

mà dẫn đến mắc mưu địch mất nước.
Truyền thuyết đã thể hiện triết lý sâu sắc về bài học giữ nước của dân
tộc Việt Nam ta đó là: khi chúng ta đề cao cảnh giác, phòng bị chắc chắn,
19


nhân dân trên dưới một lòng cùng nhau bảo vệ đất nước thì tất yếu sẽ dẫn
tới thắng lợi của đất nước, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Còn khi chủ
quan, lơ là, mất cảnh giác trước những mưu đồ của giặc thì sớm muộn cũng
sẽ dấn đến mất nước.
Bài học cảnh giác này đã trở thành kinh nghiệm quý giá của cha ông
ta để lại cho thế hệ mai sau trong công cuộc đấu tranh và bảo vệ đất nước
Việt Nam ta sau này.
Tiểu kết chương 1:
Như vậy, thông qua nội dung của các truyền thuyết về thời đại Hùng
Vương đã đem lại cho chúng ta những tri thức quý giá về cuộc sống sinh
hoạt, về tâm tư, tình cảm của nhân dân Lạc Việt thời đại Vua Hùng. Là cơ
sở để hình thành nên những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam ta
như truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, truyền thống tự hào về
nguồn cội của dân tộc, ca ngợi tinh thần đoàn kết dân tộc để chống lại
những khó khăn do thiên tai dịch bệnh gây ra, bảo vệ quê hương sứ sở…
Những truyền thống văn hóa này đã trở thành một nét đẹp văn hóa được
cha ông ta từ ngàn xưa gìn giữ và lưu truyền cho tới tận ngày nay.

20


Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÂN SINH QUAN TRONG
TRUYỀN THUYẾT THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG

đẹp của chàng trai tuấn tú Lạc Long Quân với nàng tiên nữ Âu Cơ xinh đẹp.
Âu Cơ có mang ba năm ba tháng mười ngày thì chuyển dạ sinh ra “ một bọc
trăm trứng”, đến một tháng sau thì trăm quả trứng nở thành trăm người con
trai. Hình ảnh Nàng Âu Cơ tượng trưng cho đất, hình ảnh Lạc Long Quân
tượng trưng cho trời và sự giao thoa giữa trời và đất đã tạo nên con người và
vạn vật trong vũ trụ. Như vậy, vạn vật trên thế giới không phải tự dưng mà
có mà chúng được sinh ra từ những yếu tố nhất định đó là trời và đất.
Trời tượng trưng cho khí dương, đất tượng trưng cho khí âm. Cha Lạc
Long Quân tượng trưng cho sự sống còn mẹ Âu Cơ tượng trưng cho nguồn
dinh dưỡng nuôi nấng sự sống. Hai yếu tố âm - dương là hai yếu tố đối lập
nhau song sự kết hợp của hai nhân tố này trong một thể thống nhất lại là
nguồn gốc tạo ra sự sống và tạo ra thế giới. Như vậy, tất cả các sự vật, hiện
tượng tồn tại trên thế giới này dù có phong phú đa dạng tới đâu thì chúng
cũng đều có chung một nguồn gốc đó là “ cha trời - mẹ đất”.
Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ đã chứa đựng một tư tưởng hết
sức duy vật của người dân Văn Lang về sự hình thành con người. Khác với
quan niệm trước kia xem con người là sản phẩm của chúa trời sinh ra, con
người cũng như những loài động vật khác trên thế giới đều là do Thượng
Đế tạo ra. Trong thế giới thần thoại, con người ra đời một cách ngẫu nhiên
trong một lần “ hạ phàm” xuống trần gian du ngoạn của nàng tiên Nữ Oa.
Nữ Oa đã lấy đất bùn đắp thành một hình tượng nhỏ theo hình ảnh của
chính mình, rồi đặt tượng đó xuống đất. Nó liền sống dậy, gọi Nữ Oa bằng
mẹ rồi chạy nhảy không ngừng và bà đặt tên nó là Con người. Như vậy,
nguồn gốc ra đời của con chủ yếu hình thành từ trong trí tưởng tượng của
của con người mà ra chứ chưa gắn với yếu tố vật chất khi giải thích về
nguồn gốc con người.
22


Nhưng qua truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ thì giai đoạn này


Như vậy, con người cũng như vạn vật trong tự nhiên đều được sinh ra
từ sự biến hóa lâu dài của trời đất chứ không phải do bất kỳ một đấng sáng
tạo nào tạo ra. Con người là sản phẩm tiến hóa, phát triển lâu dài của tự
nhiên. Thế giới tự nhiên luôn luôn vận động và phát triển từ thấp tới cao, từ
chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, và đỉnh cao là con người. Con người là
một thực thể sống, có quá trình trao đổi chất với môi trường xung quanh,
có tâm sinh lý, có nhu cầu vật chất nhất định. Con người trong qua sinh tồn
tại của mình không chỉ tác động và tự nhiên, làm biến đổi thế giới tự nhiên
mà con người còn quan hệ với nhau tạo nên bản chất con người. Chính tư
tưởng này đã chống lại các quan điểm duy tâm của tôn giáo khi cho rằng
con người và vạn vật là do thượng đế sinh ra, là sản phẩm của chúa trời tạo
ra để khẳng định nguồn gốc ra đời của con người và vạn vật trong vũ trụ là
do sự vận động và phát triển lâu dài của tự nhiên.
Vậy, qua cách nhìn về cuộc sống của người dân Văn Lang, chúng ta
đã thấy được rằng ngay từ đầu người dân Văn Lang đã có cái nhìn hết sức
duy vật về nguồn gốc của sự sống. Sự sống không phải ở đâu xa sôi mà nó
nằm ngay ở trong những thứ gần gũi với cuộc sống của chúng ta đó là trời,
là đất, là môi trường sống tự nhiên.
Từ việc quan sát các hiện tượng thực tế diễn ra trong cuộc sống giúp
chúng ta có cái nhìn sâu sắc về bản chất con người của cư dân Văn Lang
Âu Lạc. Điều này, giúp làm rõ yếu tố nhân sinh quan trong khía cạnh bản
chất con người. Bản chất của con người được thể hiện rõ không chỉ trong
lao động mà còn được thể hiện trong các mối quan hệ của các cộng đồng
dân cư. Điều này đã đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy của
người dân Văn Lang về việc lý giải một cách duy vật về bản chất con người
trong thời đại Hùng Vương nói riêng và con người Việt Nam nói chung.
Điều này đã được triết học Mác - Lênin đã có cái nhìn tổng quát và sâu sắc
về bản chất con người đó là : “ Bản chất của con người không phải là một
cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó

chúng ta cần phải nhìn nhận qua “ lăng kính” của triết học. Điều này đã

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status