Để hoàn thành Khóa luận Tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn
Ban chủ nhiệm Khoa Lý Luận Chính Trị - Trường Đại Học Khoa Học
Huế, Bộ môn Triết học Khoa Lý Luận Chính Trị - Trường Đại Học Khoa
Học Huế cùng các thầy, cô trong khoa đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi
hoàn thành đề tài một cách tốt nhất.
Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS.Nguyễn
Tiến Dũng giáo viên hướng dẫn, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi giải
quyết những vướng mắc, khó khăn trong suốt thời gian thực hiện đề tài
này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Thư viện trường Đại Học Khoa
Học Huế; Trung tâm Học liệu Đại học Huế đã cung cấp, giới thiệu tài
liệu để tôi hoàn thành Khóa luận Tốt nghiệp này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song do
kiến thức còn hạn chế, thời gian không nhiều và những lý do khách quan
khác, nên không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy, cô
giáo góp ý để đề tài khóa luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.!
Huế, tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hằng
MỤC LỤC
Trang
1
A. MỞ ĐẦU 4
1. Tính cấp thiết của đề tài 4
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 6
3. Mục đích nghiên cứu đề tài 8
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 8
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 9
6. Đóng góp của khóa luận 9
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong thời đại ngày nay, Việt Nam cũng như các quốc gia khác đang
bước vào xu thế Hội nhập hóa - Quốc tế hóa trên toàn thế giới. Xu thế này
đã đem lại cho Việt Nam những thuật lợi to lớn nhưng bên cạnh đó cũng
mang lại không ít những khó khăn thử thách. Quá trình Hội nhập hóa -
Quốc tế hóa một mặt đã làm cho con người phải đối diện với những
“luồng” giá trị văn hóa tốt, xấu lẫn lộn, làm cho bản sắc dân tộc ngày một
phai nhạt trước “ cơn lốc ” của công cuộc hội nhập quốc tế của đất nước.
Mặt khác, quá trình này còn làm cho những thế lực thù địch, phản động
trong nước và ngoài nước núp dưới chiêu bài dân tộc, tôn giáo để có cơ hội
thực hiện các hành động chống phá Nhà nước ta.
Đứng trước thực trạng ấy, Việt Nam cần phải khắc phục những khó
khăn, hạn chế đồng thời phát huy những nhân tố tích cực để đưa đất nước
ta không ngừng phát triển đi lên. Và để làm được điều đó thì trước hết
chúng ta phải quan tâm, chú trọng và phát triển tới rất nhiều vấn đề bao
gồm cả kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị… Đặc biệt trong đó vấn đề “ khơi
dậy ý thức cội nguồn của dân tộc Việt Nam” là vấn đề được Đảng và nhân
dân ta hết sức quan tâm và được đặt lên hàng đầu nhằm mục đích nâng cao
tinh thần đoàn kết, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc trong mỗi người dân Việt
Nam, đồng thời chống lại những âm mưu phá hoại của kẻ thù trong giai
đoạn hiện nay.
Và vấn đề “khơi dậy ý thức cội nguồn của dân tộc Việt Nam” đã được
Đảng và Nhà nước ta đề cập tới rất nhiều trong các nghiên cứu khoa học
của đất nước ta những năm gần đây. Nhất là khi nghiên cứu về thời đại
Hùng Vương - Thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên trong lịch sử phát
triển dân tộc Việt Nam ta.
Thời đại Hùng Vương là thời kì đầu dựng nước, mặc dù trình độ kinh
tế, văn hóa xã hội còn ở mức sơ khai nhưng trong quá trình phát triển của
4
lịch sử đã tạo dựng nên truyền thống quý báu của dân tộc ta như cần cù,
là một trong những vấn đề nhạy cảm nhất trong giai đoạn hiện nay vì nó là
nhu cầu tinh thần không thể thiếu của một bộ phận nhân dân trong xã hội.
Song sự tồn tại của tín ngưỡng, tôn giáo lại dựa trên cơ sở của thế giới siêu
nhiên nào đó cho nên nó rất dễ bị các thế lực phản động lợi dụng vì mục
đích xấu. Vì vậy, để giải quyết tốt vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta cần
phải có những chính sách mềm dẻo và khéo léo để vừa tôn vinh đức tin của
các tín đồ, vừa dẫn dắt họ theo lẽ phải, theo chân lý đúng đắn dựa trên nền
tảng thế giới quan duy vật biện chứng Mác để họ có cái nhìn đúng đắn về
những giá trị văn hóa truyền thống quý báu mà cha ông ta thế hệ trước đã
để lại cho chúng ta.
Nhận thức được tầm quan trọng của những vấn đề trên, cùng với
mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ vào việc tìm hiểu
những triết lý nhân văn mà truyền thuyết Hùng Vương để lại đồng thời góp
phần gìn giữ, phát huy và quảng bá truyền thống văn hóa, phong tục tập
quán, tín ngưỡng…của quê hương đến mọi miền đất nước và bạn bè thế
giới. Vì thế mà tôi đã lựa chọn đề tài: “Triết lý nhân sinh của truyền thuyết
về Thời đại Hùng Vương” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành
triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Thời đại Hùng Vương cùng với những đặc trưng về văn hóa - xã hội,
kinh tế, chính trị…đã trở thành đề tài được rất nhiều các nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu nhằm tìm kiếm, giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắc
văn hóa của dân tộc từ thuở khai sinh lập nước cho đến nay. Đặc biệt trong
xu thế hội nhập ngày nay, các giá trị văn hóa thực - hư đan xen lẫn lộn vào
nhau thì việc nghiên cứu và tìm hiểu đề tài này lại càng có ý nghĩa quan
trọng hơn bao giờ hết.
Hiện nay, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thời đại Hùng
Vương, cụ thể như:
6
- Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Kim Biên, “Truyền thuyết
xuất bản Khoa học xã hội, 1970: bao gồm các bài phát biểu, bài báo cáo và
tham luận đọc tại hội nghị nghiên cứu thời kỳ lịch sử Hùng Vương họp tại
Hà Nội do Viện khảo cổ học phối hợp với Viện sử học; Viện bảo tàng lịch
sử; Trường đại học tổng hợp tổ chức. Với nhiều bài viết của các tác giả đã
nghiên cứu một cách sâu sắc về cuộc sống, về các phong tục Thời đại Hùng
Vương dựng nước.
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết nghiên cứu về thời đại Hùng Vương
trên các tạp chí như tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí văn học, tập san đại
học của rất nhiều tác giả như tác giả Nguyễn Linh, tác giả Văn Tân, tác giả
Lê Văn Lan…
Trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu công phu
về thời đại Hùng Vương của các bậc tiền bối đi trước, nghiên cứu vấn đề “
triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đại Hùng Vương” là một đề tài còn
rất mới mẻ và nhiều hạn chế song kết quả của đề tài khóa luận này hướng
đến không ngoài mục đích nhằm góp phần làm phong phú thêm kho tư liệu
về thời đại Hùng Vương dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Với việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta bước đầu làm quen với
hoạt động nghiên cứu khoa học một cách có hệ thống, có lôgíc và hoàn
thiện hơn. Đồng thời tạo điều kiện vận dụng một cách khoa học thế giới
quan duy vật biện chứng trong việc nghiên cứu các truyền thuyết về thời
đại Hùng Vương, góp phần vào việc quảng bá những nét văn hóa truyền
thống đặc sắc của quê hương vùng đất tổ Vua Hùng.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài.
- Cơ sở lý luận
Đề tài được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin;
Tư tưởng Hồ Chí Minh; Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn
đề tín ngưỡng, tôn giáo.
8
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài này dựa trên lập trường thế giới
bỏ đi yếu tố thô sơ, thần bí trong thần thoại mà thay vào đó là tính hư cấu
và tính cụ thể của lịch sử để mang truyền thuyết đến gần hơn với đời sống
của nhân dân hơn, thuận lợi cho việc gìn giữ và lưu truyền lại các truyền
thuyết dân gian hơn. Tác giả Lã Duy Lan trong tác phẩm “ Truyền thuyết
Việt Nam” đã cho rằng: “ truyền thuyết chính là những điều truyền tụng về
các nhân vật lịch sử, các địa danh, các sự kiện liên quan đến lịch sử phát
triển của một cộng đồng và đồng thời cũng là đại diện, là tiêu biểu hay thể
hiện những giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần
của cộng đồng người đó”.
Trong xã hội nguyên thủy, mặc dù sống trong tình trạng văn hóa thấp
kém, nhưng con người luôn luôn khát vọng thể hiện trong các tác phẩm
nghệ thuật của mình tất cả những hoạt động sinh hoạt, những tâm tư, tình
cảm của mình trước con người, trước tự nhiên. Trước khi xuất quân đi săn
bắn tập thể hay đánh cá, người nguyên thủy thường tập hợp nhau lại để
diễn tập những khâu của công việc lao động mà mình sẽ tiến hành. Lúc
thắng lợi trở về, người ta lại diễn lại những kỳ tích đạt được trong quá trình
lao động ấy ở buổi lễ ăn mừng, phân chia thành quả lao động đó. Những
sinh hoạt tập thể ấy, một mặt nhằm mục đích rèn luyện cho nhau về những
kĩ năng sản xuất, những hiểu biết về tự nhiên tích lũy được trong lao động
10
sản xuất. Mặt khác đó cũng chính là dịp lễ để biểu dương những anh hùng,
những bậc tiền bối có nhiều công lao, nhiều thành tích trong cuộc đi săn đó
đối với thị tộc, đối với bộ lạc.
Trên cơ sở những sinh hoạt có mục đích ấy thì văn nghệ nguyên thủy
đã được nảy sinh. Những thành tích và công lao của những người kiệt suất
đó không những được kể lại hoặc được diễn ra đúng với sự thực mà nó còn
được tô điểm theo các tư tưởng chất phác và phong phú của con người
nguyên thủy. Và đó chính là nguyên nhân đã nảy sinh truyền thuyết ra đời.
Như vậy, truyền thuyết chính là một bộ phận của văn hóa nguyên thủy
được phát sinh trên cơ sở lao động và đời sống tập thể của người xưa.
Truyền thuyết theo địa danh là những câu truyện kể về nguồn gốc lịch
sử của những tên gọi địa lý khác nhau hoặc về nguồn gốc của bản thân
những địa điểm, địa hình và sự vật địa lý ấy như Sự tích Sông Thủ Huồn;
Sự tích Sông Nhà Bè; Sự tích Hồ Gươm; Sự tích Núi Tản Viên… Những
địa danh được giải thích bằng truyền thuyết đều gắn với lịch sử, phản ánh
lịch sử, sự kiện lịch sử.
Truyền thuyết phổ hệ là truyện kể dân gian về nguồn gốc các thị tộc,
bộ lạc, các làng xã tiêu biểu như truyền thuyết về Hùng Vương vừa là
truyền thuyết về lịch sử vừa là truyền thuyết phổ hệ, vừa là truyền thuyết về
địa danh liên quan đến vùng đất tổ Đền Hùng - Phú Thọ.
Truyền thuyết về nhân vật, sự kiện lịch sử còn gọi là truyền thuyết lịch
sử. Truyền thuyết này có mục đích tái hiện sự thật lịch sử, ít mang tính địa
phương vì sự kiện, nhân vật thường có ảnh hưởng đến đời sống toàn dân
như những truyền thuyết chống giặc ngoại xâm, chống phong kiến áp
bức…
Tóm lại, có rất nhiều cách phân chia truyền thuyết khác nhau dựa vào
nội dung của từng tác phẩm nhưng điều quan trọng nhất đó là chúng ta phải
hiểu được những giá trị lịch sử, giá trị văn hóa quý giá ẩn chứa bên trong
các tác phẩm tuyền thuyết của dân tộc ta. Để từ đó hiểu thêm về nguồn gốc
12
của dân tộc, khơi dậy niềm tự hào đất nước cũng như góp phần gìn giữ và
phát triển các thể loại truyền thuyết trong thời đại ngày nay.
1.1.2. Đặc điểm của truyền thuyết
Truyền thuyết là thể loại văn học dân gian ra đời từ rất sớm, gắn liền
với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Cũng như những thể loại
văn học dân gian khác, truyền thuyết mang những đặc điểm cơ bản sau:
1.1.2.1. Yếu tố hư cấu
Truyền thuyết là một loại hình sáng tác nghệ thuật nên yếu tố hư cấu
đóng một vai trò hết sức quan trọng nhưng phải dựa trên những cơ sở hiện
thực đáng tin cậy đó là sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử.
vừa mang tính lịch sử cụ thể. Và sự kết hợp của 2 khuynh hướng này luôn
luôn có sự thay đổi làm thay đổi diện mạo của truyền thuyết. Cụ thể:
Ở thời kỳ Văn Lang cổ đại, truyền thuyết mang tính chất sử thi anh
hùng và chịu ảnh hưởng của thần thoại. Tính chất huyền ảo, hoang đường
đậm nét nhất là trong các truyền thuyết mô tả lại chiến công của các vị anh
hùng giữ nước của Vua Hùng dựng nước, Thánh Gióng, An Dương
Vương…
Ở thời kỳ sau thì tính cụ thể lịch sử lại được thể hiện rõ hơn. Các nhân
vật lịch sử được mô tả rõ ràng, chân thực gắn liền với đời sống của nhân
dân kiểu như truyền thuyết về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền…
Tính cụ thể xác thực là đặc trưng nổi bật nhất của thể loại truyền
thuyết. Nếu như Thần thoại chỉ là những câu truyện về các vị thần theo trí
tưởng tượng của con người sáng tạo ra, mang tính chất hoang đường, kỳ ảo,
siêu nhiên thì truyền thuyết lại được nhân dân sáng tác dựa trên những câu
chuyện gắn liền với lịch sử của dân tộc ta. Vì thế cho nên tính cụ thể, xác
thực đã trở thành đặc trưng nổi bật nhất để phân biệt truyền thuyết với các
thể loại văn học dân gian khác. Trong truyền thuyết: tên người, tên đất, thời
gian, không gian cụ thể thường rất được coi trọng và tác giả đã dùng chính
những dữ kiện ấy để đặt tên cho tác phẩm truyền thuyết. Tiêu biểu như
14
Truyền thuyết Hùng Vương kể về 18 đời Vua Hùng dựng nước ở Việt Trì -
Phú Thọ, hay Truyền thuyết Thánh Gióng, Truyền thuyết An Dương
Vương… Các yếu tố này đã có đóng góp hết sức quan trọng cho các nhà
nghiên cứu sử học sau này vào việc dựng lại không khí lịch sử, tạo tính xác
thực lịch sử cho các tác phẩm truyền thuyết.
Và đến ngày nay thì yếu tố hoang đường, hư cấu đã dần dần bị mất đi
trong thể loại truyền thuyết. Hầu hết tất các truyền thuyết thời hiện đại
thường gắn liền với đời sống của nhân dân, phản ánh những mong muốn và
mơ ước của con người hiện đại và yếu tố hoang đường gần như được loại
bỏ hoàn toàn nhưng xét cho đến cùng thì điều kiện cho để truyền thuyết sự
thoại với các thể loại văn học dân gian khác, nó là bước chuyển tiếp bảo
đảm tính liên tục hoàn chỉnh, hợp lý trong cơ cấu thể loại cũng như trong
tiến trình lịch sử phát triển của loại hình tự sự dân gian.
1.2. Nội dung của truyền thuyết Hùng Vương
Trong kho tàng thần thoại, truyền thuyết của nước ta, nếu như những
câu chuyện thần thoại về khởi nguyên của vũ trụ, về sự xuất hiện của loài
người không được ghi chép lại một cách có hệ thống và cũng không để lại
những ấn tượng sâu đậm thường trực trong trí nhớ của nhân dân, thì trái lại
những câu chuyện truyền thuyết liên quan đến lịch sử xuất hiện của cư dân
Lạc Việt và sự ra đời của đất nước Văn Lang ở thời đại Hùng Vương như
Truyền thuyết Mẹ Âu Cơ đẻ ra “ một bọc trăm trứng” nở ra một trăm người
con trai lấy hiệu là Hùng Vương cai trị đất nước Văn Lang; Các kỳ tích của
Cha Lạc Long Quân diệt trừ các loài yêu quái để ổn định nơi cư trú; Truyền
thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh tranh giành công chúa Ngọc Hoa gây ra lũ lụt
hàng năm cho nhân dân; Truyền thuyết Thánh Gióng đánh giặc Ân… lại
luôn luôn được khắc sâu trong tâm khảm của mọi thế hệ người Việt từ xưa
đến nay.
Giữ gìn và phát huy những các truyền thống dân tộc được đúc kết
trong các truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã có ý nghĩa hết sức to lớn
16
đối với dân tộc Việt Nam. Bởi vì, trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc,
do chính sách “ đồng hóa” của những kẻ xâm lược đối với nhân dân Văn
Lang nhằm xóa đi những truyền thống văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt
Nam. Cùng với đó là sự giao lưu, tiếp xúc hàng ngày của người dân với
dân tộc khác đã làm cho đời sống của người dân Lạc Việt không thể không
chịu ảnh hưởng và tiếp thu một phần văn hóa Phương Bắc. Đứng trước sự
“đe dọa” nền Văn hiến Văn Lang - Âu Lạc của dân tộc có nguy cơ ngày
một phai nhạt, thì trong tâm trí của người dân Lạc Việt lại luôn luôn ghi
nhớ và gìn giữ lấy nguồn gốc ra đời của dân tộc mình, gìn giữ tiếng nói
chung và những phong tục cổ truyền của người dân Lạc Việt… Người dân
lưu truyền tới tận ngày nay đó là truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ.
Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ bao gồm nhiều sự tích sâu chuỗi
với nhau, kể về cuộc tình duyên lịch sử giữa người dũng sĩ Lạc Long Quân
với nàng tiên Âu Cơ xinh đẹp dẫn đến sự ra đời của cái bọc trăm trứng, nở
ra một trăm chàng trai khôi ngô tuấn tú, rồi một nửa theo mẹ lên núi, một
nửa theo cha xuống biển…cùng nhau xây dựng cơ nghiệp đất nước. Nguồn
gốc của dân tộc ta đã được thần thánh hóa và quan niệm “ con rồng cháu
tiên” đã trở nên quên thuộc với nhân dân Việt Nam ta hàng bao đời nay, là
niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam khi nói về nguồn gốc hình thành
của dân tộc mình.
Ngoài ra, hình ảnh “ bọc trăm trứng” nở ra trăm người con trai không
chỉ là hình ảnh thể hiện sự sinh sôi nảy nở của dân tộc vốn có chung một
nguồn gốc đó là nguồn gốc Rồng - Tiên_nguồn gốc cao quý của dân tộc
Việt Nam mà hình ảnh đó còn thể hiện tinh thần đoàn kết, tình cảm cộng
đồng của những người con cùng sinh ra từ “ một bọc trăm trứng”, cùng
nhau bảo vệ đất nước khi đất nước bị lâm nguy.
Như vậy, truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ đã trở thành “ bản ghi
chép” giới thiệu về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là bản
18
“ anh hùng ca” ca ngợi công lao của các vị Vua Hùng đã có cộng dựng
nước và giữ nước của dân tộc để con cháu chúng ta sau này khi tìm hiểu về
cội nguồn dân tộc mình càng thêm tự hào về nguồn cội, về truyền thống
yêu thương, đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
Thứ hai: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương phản ánh tinh thần
dũng cảm, tinh thần đoàn kết nhân dân để chiến thắng mọi khó khăn do
thiên tai, dịch bệnh gây ra.
Người dân Văn Lang quan niệm rằng con người sinh ra từ tự nhiên,
sống trong tự nhiên, vì thế họ phải cùng nhau gìn giữ và bảo vệ tự nhiên.
Tự nhiên trở thành ngôi nhà che chở cho cuộc sống của người dân. Tuy
nhiên, trong tự nhiên lại luôn luôn tiềm ẩn rất nhiều tai họa khủng khiếp
tránh được “ sự dòm ngó” của các nước phong kiến Phương Bắc muốn
chiếm nước ta để cai trị. Nhân dân Văn Lang với lòng yêu nước nồng nàn,
yêu quê hương tha thiết đã đoàn kết nhau lại để đấu tranh chống lại những
thế lực xâm lược hùng mạnh. Nhân dân Văn Lang đã xây dựng nên hình
tượng Thánh Gióng là người đại diện tiểu biểu nhất của dân tộc Việt Nam
ta về sức mạnh chống giặc ngoại xâm và ý chí quật cường của dân tộc. Sức
mạnh ấy là sức mạnh tổng hợp của tinh thần và vật chất, của con người và
vũ khí, của cá nhân và cộng đồng đã làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân
tộc ta trước kẻ thù xâm lược hung bạo đó là giặc Ân.
Chi tiết cậu bé sinh ra ba năm không nói, không cười, không khóc
nhưng khi đất nước có giặc ngoại xâm, khi nghe tiếng truyền hịch của sứ
thần cần người hiền tài giúp nước chống giặc thì ngay lập tức biết nói và
tiếng nói đầu tiên là tiếng nói hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước. Đó là chi
tiết thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của nhân dân, của dân tộc, thể hiện tinh thần
cứu nước là trên hết, là trước tiên nhất ở mỗi con người, bất kể già - trẻ -
gái - trai. Sức mạnh ấy có trong mỗi con người Việt, khi quốc gia cần thì
vươn dậy, quật khởi và tự nhiên. Sức mạnh ấy không chỉ là sức mạnh của
một con người, một siêu nhân mà là sức mạnh của toàn cộng đồng bộ tộc
20
hun đúc nên (từ gạo cơm, cà, mắm muối của cộng đồng góp lại nuôi Gióng
lớn lên). Đó là sức mạnh của sự kết hợp giữa những người đứng đầu bộ tộc
với mọi thành viên. Sức mạnh của một đội quân hình thành nhanh chóng
trong hoàn cảnh đất nước nguy cấp, sức mạnh của đồng tâm hiệp lực, của
tinh thần vật chất, của lương thực, của vũ khí…
Truyền thuyết kết thúc với chiến thắng oanh liệt và hình ảnh “ Gióng
bay về trời” đã làm cho kết cấu của chuyện chặt chẽ, trọn vẹn và ý nghĩa vô
cùng sâu sắc. Đó là bài học thể hiện triết lý sống cao cả của nhân dân: sống
với tinh thần vị tha, hy sinh tất cả cho dân cho nước. Không mưu cầu lợi
danh, chiến đấu cho hạnh phúc của cộng đồng, cho cuộc sống bình yên của
đất nước là nghĩa vụ thiêng liêng của mối thành viên trong cộng đồng mà
sở để hình thành nên những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam ta
như truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, truyền thống tự hào về
nguồn cội của dân tộc, ca ngợi tinh thần đoàn kết dân tộc để chống lại
những khó khăn do thiên tai dịch bệnh gây ra, bảo vệ quê hương sứ sở…
Những truyền thống văn hóa này đã trở thành một nét đẹp văn hóa được
cha ông ta từ ngàn xưa gìn giữ và lưu truyền cho tới tận ngày nay.
22
Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÂN SINH QUAN TRONG
TRUYỀN THUYẾT THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG
2.1. Quan niệm về đời người
Trong lịch sử, để hình thành nên con người thời đại ngày nay thì con
người phải trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển. Và trong mỗi một giai
đoạn phát triển thì con người lại có những quan niệm khác nhau về sự hình
thành con người, về cuộc sống của con người, về mối quan hệ giữa con
người với con người trong cùng xã hội. Ở thời đại Hùng Vương hầu hết các
quan niệm về con người và đời sống của con người lại được hình thành dựa
trên cơ sở của các truyền thuyết dân gian. Các truyền thuyết thời đại Hùng
Vương đã ẩn chứa một kho tàng lý luận phong phú, đa dạng phản ánh một
cách sâu sắc cuộc sống sinh hoạt và những tâm tư tình cảm của người dân
Văn Lang lúc bấy giờ.
2.1.1. Sự hình thành con người
Dưới con mắt của người dân Văn Lang thì mọi vật đều được sinh ra từ
trời và đất. Đất là nơi nâng đỡ và nuôi nấng muôn loài giống như vai trò
của người mẹ. Trời mang đến cho thế giới ánh sáng, không khí, nước…góp
phần duy trì sự sống giống như vai trò của một người cha. Do đó, khi trời
đất giao hòa, âm dương kết hợp thì sẽ sinh sôi nẩy nở ra muôn loài trên thế
giới. Và sự hình thành của con người cũng gắn liền với trời và đất.
Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ là truyền thuyết ra đời sớm
nhất trong lịch sử văn học dân gian Việt Nam. Một mặt, truyền thuyết đã
nguồn gốc ra đời của con chủ yếu hình thành từ trong trí tưởng tượng của
của con người mà ra chứ chưa gắn với yếu tố vật chất khi giải thích về
nguồn gốc con người.
24
Nhưng qua truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ thì giai đoạn này
đã có bước phát triển mới về quan niệm hình thành con người, nó chứa
đựng một tư tưởng hết sức duy vật về sự ra đời của con người. Cũng như
các quan niệm của người Phương Đông khi quan niệm về sự ra đời con
người thì con người được sinh ra từ sự kết hợp của các vật chất cụ thể như
kim, mộc, thủy hỏa, thổ … Thì theo quan niệm của người dân Văn Lang,
con người là sự kết hợp của hai phần: “phần hồn” và “phần xác”. Phần xác
có thể nhìn thấy được còn phần hồn thì không thể thấy được và cũng không
thể nắm bắt được nên con người đã thần thánh hóa nó lên thành các yếu tố
tâm linh để cúng bái và thờ phụng. Trong phần hồn được chia thành hai
phần là: “ phần hồn” và “ phần vía”. Con người có ba hồn nhưng phần vía
thì ở nam có bảy còn ở nữ thì có chín. “ Phần xác” của con người lại được
sinh ra từ “bọc trứng” của mẹ Âu Cơ. “ Bọc trứng” là một dạng vật chất cụ
thể, dưới tác động đầy đủ của của các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, ánh
sáng, không khí thì trứng sẽ tự nở, gắn liền với sự hài hòa của trời đất. Con
người được sinh ra không phải do Thượng Đế, do Nữ Oa nặn đất sét mà
thành mà là do yếu tố vật chất cụ thể tạo ra. Do vậy, quan niệm về sự hình
thành con người giai đoạn này chứa đựng yếu tố duy vật. Tuy còn sơ khai
nhưng họ cũng đã thấy được rằng sự hình thành con người gắn với yếu tố
vật chất.
Trong truyền thuyết mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc tăm trứng, nở ra một
trăm người con, năm mươi lên rừng, năm mươi xuống biển. Hình ảnh bọc
trứng của mẹ Âu Cơ vừa cơ sở để giải thích nguồn gốc hình thành con
người của người dân Việt Nam đồng thời đó cũng là hình ảnh minh chứng
cho tinh thần đoàn kết của con người Việt Nam xưa tới nay. Cùng sinh ra
từ một bọc trăm trứng, cùng có chung một dòng máu Tiên - Rồng, là niềm