Không gian văn hóa cồng chiêng
Tây Nguyên
***
Giảng viên: Hồ Thu Hà
***
Danh sách thành viên :
1.
Nhóm trưởng: Nguyễn Thị Hồng Nhung
2. Nguyễn Thị Vân Anh
3. Tống Thị Huyền
4. Nguyễn Thu Hiền
5. Trần Minh Nguyệt
6. Giang Anh Minh
7. Vũ Thị Thu Huyền
8. Lang Thị Thư
9. Đặng Thị Thùy Linh
10. Cao Thị Hoài Thu
11. Nguyễn Thị Thủy
12. Nguyễn Văn Hưng
13. Lương Thái Bình
14. Phạm Thùy Dung
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
S
T
T
1
5
Phạm Thùy Dung
6
Nguyễn Thị Thủy
7
Lang Thị Thư
Đặng Thị Thùy Linh
Cao Thị Hoài Thu
8
9
Tìm hiểu về đặc trưng
người diễn xướng.
Tìm hiểu về đặc trưng
về cách thức diễn
xướng
Tìm hiểu về biên chế
và cơ cấu dàn nhạc.
Tìm hiểu về hệ bài
bản
Tìm hiểu về thực trạng
và tiềm năng
Làm powerpoint
hạn
Hưng: 2/5*
Bình:0/5*
Hưng
nộp
muộn,
thiếu
ảnh
4/5*
Nộp
đúng
hạn
Nộp
muộn,
thiếu
ảnh
Thiếu
ảnh
3/5*
3/5*
Thư:4/5*
Linh:4/5*
3/5*
Hiền:5/5*
V.Anh:5/5*
Không gian tồn tại.
Lịch sử và nguồn gốc hình thành.
Cấu tạo.
Quan niệm về cồng chiêng của người Tây Nguyên.
III/ Đặc trưng cơ bản của cồng chiêng Tây Nguyên.
1.
2.
3.
4.
Đặc trưng về người diễn xướng.
Đặc trưng về cách thức diễn xướng.
Đặc trưng về biên chế và cơ cấu dàn nhạc.
Hệ bài bản.
IV/ Tiềm năng phát triển và những giải phát để gìn giữ và phát triển không
gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
1.
2.
3.
Thực trạng
Tiềm năng phát triển
Các giải pháp
***
Phần I/ Giới thiệu:
Nhắc đến Tây Nguyên người ta sẽ nghĩ đến ngay mảnh đất cao nguyên đầy nắng
và gió, những bản làng của người Gia Lai, Ê Đê, những câu truyện sử thi già làng
niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.
Trải qua bao năm tháng cồng chiêng đã trở thành nền văn hóa đặc trưng, đầy sức
quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên.
2.
Lịch sử và nguồn gốc hình thành.
Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa Đông
Sơn_truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên
cứu cho rằng, cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn đá. Bởi trước khi có văn hóa đồ
đồng tức thời kì đồ đá, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá,
…, hay chiêng tre,… Rồi theo tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại, con
người tìm ra đồng, tạo nên thời đại hoàng kim đồ đồng. Trong thời kì hoàng
kim của đồ đồng, các vật dụng bằng đồng lần lượt được ra đời, trong số đó,
chiêng đồng được coi là đỉnh cao với kĩ thuật chế tác tinh xảo.
Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng,..
Nó là biểu hiện của tín ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên... Với
âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng
suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người
Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ
mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu, … hay
trong một buổi nghe khan thì đều phải có tiếng cồng, tiếng chiêng dài hơn đời
người. Tiếng cồng, tiếng chiêng nối liền và kết dính những thế hệ lại với nhau.
Có một câu chuyện truyền miệng như sau :
Người Xêđăng kể rằng: Thuở xa xưa có lần voi dữ tràn về phá rẫy, phá buôn.
Con trai Xêđăng mang theo lao, tên lá cùng hợp sức tiêu diệt thú dữ, đánh nhau
suốt mấy ngày đêm, sức tàn lực kiệt mà thú dữ càng hung tợn. Họ chỉ còn biết
chắp tay cầu Yàng. Bỗng họ thấy đùn lên một ụ đất, đào xuống thấy một vật
phiên tại các tỉnh có văn hoá Cồng Chiêng trong đó Đắk Lắk là một điểm quan
trọng và hay được chọn nhất do vị trí trung tâm văn hoá, chính trị, xã hội của khu
vực Tây Nguyên nơi có nhiều Cồng Chiêng nhất ở Việt Nam.
Và ở mỗi một dân tộc khác nhau lại có những quy định khác nhau về cách tổ chức
và người chơi cồng chiêng. Điều này liên quan đến phong tục tập quán và tín
ngưỡng của từng dân tộc, những kiêng kị trong sử dụng cồng chiêng cũng khác
biệt ở mỗi dân tộc.
Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng
đen. Cồng là loại có núm, chiêng thì không có núm. Nhạc cụ này có nhiều kích cỡ,
đường kính dao động từ 20cm đến 60cm, loại cực đại lên tới 90cm hoặc đến
120cm. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ bao gồm từ 2
đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc.
Cồng chiêng Tây Nguyên là loại nhạc cụ độc đáo, đặc sắc và đa dạng. Các dàn
cồng chiêng Tây Nguyên lấy thang bồi âm tự nhiên làm cơ sở để thiết lập thang âm
của riêng mình. Trong đó, mỗi biên chế của từng tộc người đều cấu tạo bởi thang 3
âm, 5 âm hay 6 âm cơ bản. Song, cồng chiêng vốn là nhạc cụ đa âm, bên cạnh âm
cơ bản bao giờ cũng vang kèm một vài âm phụ khác. Chính vì vậy trên thực tế, một
dàn 6 chiêng sẽ cho ta tối thiểu 12 âm hay nhiều hơn nữa. Điều đó lý giải là tại vì
sao mà âm sắc cồng chiêng nghe thật đầy đặn và có chiều sâu đến như vậy.
Đặc điểm nổi bật nhất của cồng chiêng Tây Nguyên đó là trong cấu tạo. Cấu tạo
của cồng chiêng Tây Nguyên không tách ra đơn lẻ mà thành dàn và dàn cồng
chiêng được diễn tấu bởi một tập thể người_mang tính cộng đồng dân tộc sâu sắc.
Nghĩa là ở đây mỗi nhạc công chỉ chơi một chiếc cồng hoặc một chiếc chiêng, tức
là mỗi người chỉ đảm nhiệm một nốt nhạc trong một bản nhạc. Bởi vậy, khi hoà tấu
cồng chiêng, các thành viên phải diễn tấu, kết hợp với nhau theo từng đơn vị tiết
tấu nhất định để tạo nên bài bản. Đó là một kỹ thuật không dễ thực hiện, đòi hỏi
nhạc công phải có một bản lĩnh tiết tấu vững vàng. Trong bài bản cồng chiêng,
chúng ta thấy có tầng giai điệu trên, tầng giai điệu dưới, có phần hòa âm, có phần
bè trầm đan xen hòa quyện; bởi vậy mỗi thành viên khi diễn tấu phải kết hợp với
nhau theo một quy luật nào đó để cấu thành nên những bài cồng chiêng khác nhau
lên Tây Nguyên trao đổi, luôn bán.
- Chiêng Kur: được đưa từ Campuchia sang.
4.
Quan niệm của người Tây Nguyên về cồng chiêng.
Trong xã hội cổ truyền, con người có ít nhất là ba mối quan hệ: đó là quan hệ với
thiên nhiên-thông quá trình canh tác cây trồng, quan hệ với xã hội-thông qua các
tập tục tín ngưỡng, quan hệ với dòng đời-mỗi con người thành viên. Để hiện thực
hóa các mối quan hệ đó, con người tổ chức các nghi lễ, các hoạt động văn hóa
trong cộng đồng. Đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, trong toàn bộ các
nghi lễ đó cồng chiêng là một thành tố không thể thiếu. Tiếng chiêng tiếng cồng
được coi là một biểu hiện vô hình của đời sống cộng đồng. Và trên hết, cồng
chiêng được tín hiệu nối kết mọi người trong một đơn vị lại với nhau. Chỉ cần nghe
tiếng chiêng, những người trong buôn, trong vùng sẽ hiểu ngay ở phía đó đang xảy
ra chuyện gì, âm điệu và bài chiêng sẽ báo hiệu cho đó là chuyện lành hay diềm
dữ.
Chính vì cồng chiêng có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng như vậy, người Tây
Nguyên có những quan niệm về cồng chiêng như sau:
•
Do tín ngưỡng vạn vật hữu linh, Các tộc người tây nguyên quan niệm cồng
chiêng là “vật thiêng”, nơi trú ngụ của các vị thần linh, đằng sau mỗi chiếc cồng,
mỗi chiếc chiêng là 1 vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng
cao. Tuy nhiên, ngay từ đầu thì những bộ cồng chiêng mới chưa có được khả năng
thần bí ấy. Sau khi mua chiêng về, tiếp ngay sau công đoạn thẩm âm cho chiêng là
đến nghi lễ đón hồn chiêng. Người ta làm lễ hiến sinh và mời thần linh về giúp đỡ,
bằng phép thuật, thần linh làm cho cồng chiêng có sức mạnh hơn, đủ khả năng
Phần III/ Đặc trưng cơ bản của cồng chiêng Tây Nguyên.
1.
Đặc trưng về người diễn xướng.
Ở mỗi một dân tộc khác nhau lại có những quy định khác nhau về việc lựa chọn
người chơi cồng chiêng. Điều này liên quan đến phong tục tập quán và tín ngưỡng
của từng dân tộc, những kiêng kị trong sử dụng cồng chiêng cũng khác biệt ở mỗi
dân tộc.
Ở phần lớn các tộc người, cồng chiêng là nhạc cụ dành riêng cho nam giới. Đó là
trường hợp của các tộc người như Gia Rai, Ê Đê Kpah, Ba Na, Xơ Đăng, Brâu, Cơ
Ho... Nhưng song song với những dân tộc đó, có những tộc người cồng chiêng
được cho phép cả nam lẫn nữ đều có thể sử dụng, ví dụ như : Mạ, M’Nông. Nhưng
riêng một số ít tộc người như Ê Đê Bih thì chỉ có nữ giới mới được chơi cồng
chiêng.
Văn hóa và âm nhạc công chiêng Tây Nguyên tồn tại dưới hình thức văn hóa và
âm nhạc dân gian. Nó là sự sở hữu của cộng đồng và có năng lực xác định chuẩn
văn hóa cho thành viên cộng đồng. Chẳng hạn như: ở những tộc người, cồng
chiêng dành riêng cho nam giới thì tất cả nam giới trong tộc người đó phải biết
đánh chiêng; ngược lại ở những tộc người cồng chiêng dành riêng cho nữ giới thì
mọi cô gái của tộc người đó phải thực hiện nhiệm vụ này.
Trang phục của nghệ nhân trình diễn cồng chiêng và những người nhảy múa bao
giờ cũng là bộ sắc phục đẹp nhất và được dành riêng cho những khi tiến hành lễ
hội mà thường ngày ít khi mặc và bắt gặp.
Ví dụ như bộ sắc phục của nam và nữ Ba Na:
Với nam giới: các chàng trai mặc áo ló (một kiểu áo chui đầu, không tay, có trang
trí những đường viền đỏ xung quanh cổ, vai, gấu áo), mang khố hoa có trang trí
nhiều họa tiết ở hai đầu và những hạt cườm trắng cầu kỳ. Nam giới cũng thường
Đặc trưng về cách thức diễn xướng.
Cồng chiêng Tây Nguyên được bảo lưu dưới hình thức diễn xướng tập thể – cộng
đồng:
Mỗi nghệ nhân chơi một nốt (một chiêng) và một mô hình tiết tấu, kết hợp
thành bè, thành giai điệu. Khi hợp tấu thì các nghệ nhân lắng nghe nhau tức là phải
có tâm linh cộng đồng. Ứng vào trong quá trình diễn xướng, người đánh cồng
chiêng luôn luôn di động còn động tác thì rất đa dạng như nghiêng mình, cúi
người, khom lưng.
Trong dàn cồng chiêng, vị trí của mỗi cá nhân cũng hết sức đặc biệt: đối tượng
quan trọng nhất bao giờ cũng ở giữa, dàn cồng đi vòng quanh đối tượng từ phải
sang trái, ngược chiều kim đồng hồ, với ý nghĩa ngược thời gian trở về dĩ vãng, từ
bên ngoài vào trong tim…
Về cách kích âm thì có 2 phương pháp kích âm cơ bản là chi dùi gõ (dành cho cả
cồng lẫn chiêng) và chi đấm (chỉ dành cho chiêng). Theo thống kê, các dàn chiêng
tộc người Mạ, M’nông, dàn chiêng đôi của người Chu Ru và Cơ Ho thuộc chi đấm.
Còn tất cả các dàn chiêng khác đều thuộc chi dùi gõ.
Tùy từng nơi, trong lúc diễn tấu, người ta thường sử dụng bàn tay đỡ vào mặt hay
thành cồng chiêng để bịt hay mở tiếng nhằm tạo hiệu quả âm ngân vang hay âm
ngắt. Tay còn lại kích âm theo cách đấm hoặc gõ dùi. Điểm kích âm của cồng bao
giờ cũng là núm lồi. Còn điểm kích âm của chiêng thì đa dạng hơn. Với chi dùi gõ,
người ta có thể đánh vào điểm gần hoặc chính tâm chiêng. Còn với chi đấm, điểm
kích âm bao giờ cũng nằm ở giữa tính từ tâm ra đến thành chiêng. Nếu đánh ở
điểm khác thì tiếng bị xịt. Cũng cần nói thêm rằng dùng dùi thì gõ ở mặt nào cũng
được, nhưng đấm thì người ta buộc phải đấm ở mặt ngoài của chiêng để cườm tay
không bị chạm và cạnh của thành chiêng. Mặt khác, qua thực nghiệm chúng tôi
thấy đấm ở mặt ngoài, tiếng chiêng đẹp hơn.
Trong chi dùi gõ, có thể chia 3 loại dùi:
+ Dùi cứng: làm bằng gỗ cứng như ở người Ê Đê. Hiệu quả tiếng vang đanh,
Ở mỗi dân tộc khác nhau, hay tùy theo yêu cầu của từng nghi thức lễ hội thì lại sử
dụng các biên chế khác nhau. Chính vì vậy, biên chế cồng chiêng ở Tây Nguyên rất
đa dạng và phong phú.
Về cơ bản thì có các loại biên chế như sau: biên chế từ hai đến ba chiếc, biên chế
sáu chiếc( có khi lên đến bảy chiếc), biên chế từ tám đến chín chiếc, biên chế lớn
từ mười một đến mười hai chiếc.
Đầu tiên, với biên chế từ hai đến ba chiếc: với biên chế thuộc loại nhỏ như thế này
thì chỉ yếu có chức năng giữ nhịp điệu rõ ràng cần thiết cho các hoạt động nghi lễ
hoặc các bước múa, điệu múa bằng cách sử dụng các cao độ trầm bổng. Biên chế
này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều tộc người Tây Nguyên thì đây chính
là biên chế cổ xưa nhất được dùng trong các nghi lễ quan trọng như: lễ đâm trâu,
chúc sức khỏe, cầu an cho lúa và gia súc,...
Trên thực tế, dàn 3 cồng này có thể chơi riêng với trống cái. Tuy nhiên, chúng
thường xuyên kết hợp với dàn chiêng biên chế 8 chiếc tạo thành một biên chế lớn
hơn. Khi đó dàn 3 cồng thường được bổ xung thêm một số chiếc cồng ở âm khu
cao – là những âm tăng cường dạng bồi âm quãng 8 so với 3 cồng cơ bản.
Ví dụ: * Thang âm biên chế 2 chiếc: thấy có ở tộc người Chu Ru và KơHo. Dưới
đây là thang âm dàn chiêng đôi (Sariâu) của người Chu Ru (thôn Próh ngò – xã
Próh – Đơn Dương – Lâm Đồng).
*Thang âm biên chế 3 chiếc: Có 2 loại.
+ Loại thứ nhất là biên chế độc lập, không kết hợp với các biên chế khác. Đó là
dàn cồng 3 chiếc (Ching Klâu Poh)tộc người Chu Ru (thôn Próh ngò – xã Próh –
Đơn Dương – Lâm Đồng) – Âm vực 1159 cents.
+ Loại thứ hai bao gồm dàn 3 cồng của các tộc người Bahnar, Gia Rai và Xê Đăng.
Các dàn cồng này đều được xây dựng trên cơ sở các quãng 5 đúng, 4 đúng và 8
đúng (với độ chuẩn lý tưởng là 702 cents, 498 cents và 1200 cents). Ví dụ dàn
cồng 3 chiếc tộc người Bahnar Kon Kơ Đeh (plei Kông Mha – xã Kông Lơng
Do vậy tiếng vang thật của chiếc cồng này có hiệu quả giống tiếng trống bịt mặt –
tức thực tế nó được sử dụng như một chiếc trống đồng hơn là một chiếc cồng định
âm. Có thể vì thế mà trong sự sắp đặt vị trí diễn tấu của Ching Shar Knăh, cồng
Mđuh được xếp cạnh chiếc trống cái. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn đo tiếng ngân vang
của nó để tìm hiểu.
Thứ tư, biên chế lớn từ 11 đến 12 chiếc. Đây là loại biên chế được tạo ra từ biên
chế đầu tiên và biên chế thứ ba. Với biên chế như vậy, số lượng cồng, chiêng trong
dàn rất lớn.
Ví dụ: Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng
củacác tộc người Giarai (ngành Aráp), Bana (ngành TồLồ, Kon K’Đeh),
ngườiXơđăng (ngành Steng).Các dàn chiêng có biên chế 3 chiêng trở lên thường
có chiếc trống lớn vàcặp chũm choẹ.Riêng dàn 3 cồng núm của người Churu thì
phải có chiếc khèn 6âm phối hợp.Ở nhiều tộc người như Churu, Xơđăng, Mnông
và đặc biệt tộc người Giarai,Bana, phụ nữ (nhất là các cô gái trẻ) làm thành một
dàn múa đồng hành với bảnnhạc chiêng.Điều đáng nói là các điệu múa này được
coi là thành tố không thểthiếu của việc diễn tấu các bài cồng chiêng (không được
dùng bên ngoài diễn tấucồng chiêng hoặc trình diễn giải trí).
Tiếp theo là đến cơ cấu dàn nhạc:
Với mỗi biên chế khác nhau thì sẽ có sự sắp xếp khác nhau, dẫn đến cơ cấu dàn
nhạc ở mỗi biên chế cũng sẽ khác nhau.
Trong cơ cấu dàn nhạc, hầu hết cồng núm làm nhiệm vụ giữ nhịp, đặc biệt là nhịp
trì tục. Các chiêng bằng thì thể hiện giai điệu và hòa âm. Bài bản của dàn chiêng
hỗn hợp này thường có hình thức nhạc chủ đạo.
Thông thường, theo thứ tự thì đi đầu hàng chiêng là một cái trống, tiếp theo đó là
chiêng cồng với thứ tự cái có cao độ trầm đi trước, cái có cao độ cao dần thì lần
lượt theo sau. Trong dàn chiêng có chiêng chính là “chiêng mẹ”, “chiêng cha” và
theo sau đó là các “chiêng con”. Ứng với đó chiêng đầu sẽ là “chiêng mẹ”, tiếp
Hệ bài bản
Cồng chiêng Tây Nguyên có mặt trong tất cả các lễ hội truyền thống của các dân
tộc thiểu số Tây Nguyên – nó thể hiện đời sống tinh thần của người Tây Nguyên,
biểu thị những quan niệm của họ về con người, về vũ trụ ít nhiều còn thô sơ, chất
phác nhưng họ rất tin thờ. Những lễ quan trọng - dù là phục vụ sản xuất hay cho
con người - đều trở thành những hội vui, cuốn hút sự tham gia của toàn thể cộng
đồng, thậm chí các dòng tộc khác hoặc buôn lân cận (ví dụ như lễ cúng bến nước hay còn gọi là uống nước giọt vào dịp cuối năm cũ hoặc đầu năm mới; lễ ăn cơm
mới - đóng cửa kho lúa vào dịp thu hoạch mùa màng; lễ cưới cho người trẻ, lễ
mừng thọ người già, lễ bỏ mả - phơ thi cho người đã khuất...). Mỗi hội lễ là một
tổng thể nguyên hợp, tiêu biểu cho đời sống văn hóa cổ truyền các dân tộc thiểu số
Tây Nguyên, cho nền văn minh nương rẫy.
Ngoài những đặc trưng về người diễn xướng, cách thức diễn xướng, cơ cấu dàn
nhạc, cồng chiêng Tây Nguyên còn có những đặc trưng về hệ bài bản riêng:
•
Thông thường, dàn nhạc được hiểu là sự kết hợp nhạc cụ với nhiều giai
điệu khác, mỗi nhạc cụ đảm nhiệm sự diễn tấu của 1 đường. Thứ âm nhạc đó được
gọi là hoà tấu. Đây cũng là nguyên tắc chung của đại đa số các dàn trong mọi nến
âm nhạc trên thế giới. Thế nhưng ở nghệ thuật cồng chiêng, mỗi nhạc cụ trong dàn
nhạc thực chất chỉ diễn tấu 1 nhạc âm trong đường tuyến giai, nói cách khác, mỗi 1
nhạc công thực chất chỉ là 1 nốt nhạc,nhiều nhạc cụ ứng với những cao độ khác
nhau kết hợp so le theo chiều ngang sẽ cấu thành giai điệu. Nếu đánh 6 chiếc
chiêng theo thứ tự từ thấp đến cao, sẽ thấy chiêng số 1 được gọi là chiêng mẹ,
chiêng số 2 được gọi là chiêng bố, 4 chiêng còn lại là 4 đứa con. Trong các chiêng
con, tuỳ từng nơi mà người ta phân bậc đâu là con trai, con gái. Thông thường, đứa
con liền kề với bố mẹ được gọi là con cả, đứa con cao nhất gọi là con út. Điều này
thể hiện mối quan hệ khá lí thú trong các bậc âm của 1 dàn chiêng. Điều đó tạo nên
hiệu quả như 1 phần hoà âm tất yếu của bài bản. Đối với những dàn cồng chiêng
không có nhạc cụ phụ trách phần hoà âm riêng thì hoà âm giai điệu chính là toàn
Kring Par
Xre Zơr….v.v.
Mỗi tộc người cũng chọn cho mình một phong cách âm nhạc, có thể đó là nhạc
nhịp điệu, nhạc hòa điệu, nhạc chủ điệu, nhạc dị điệu. Tuy nhiên cũng có thể thấy 1
thị hiếu âm nhạc chung nào đó chẳng hạn các tộc người ở phía Bắc Tây Nguyên
như Ba Na, Xơ Đăng và Gia Rai thì nghiêng về nhạc chủ điệu và dị điệu còn các
dân tộc ở phía Nam Tây Nguyên như Êđê, Mnông lại nghiêng về nhạc nhịp điệu và
hòa điệu.
So sánh cồng chiêng Tây Nguyên với cồng chiêng của các nước khac
strong khu vực Đông Nam Á.
Thứ nhất, về tính chất.
Cồng chiêng Tây Nguyên mang tính cộng đồng sâu sắc, văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên nằm trong đời sống của nhân dân.
Ở các nước như Indonesia, Thái Lan, Malaixia, Mianma, Lào. Cồng chiêng mang
tính chuyên nghiệp và cung đình.
Thứ hai, về người diễn xướng.
Cồng chiêng Tây Nguyên chưa được chuyên nghiệp hóa, người diễn xướng là nghệ
nhân dân gian, không chỉ là 1 người mà là cả một tập thể người có thể là nam hoặc
nữ hay cả nam và nữ. Diễn xướng theo hình thức cộng đồng nhiều người.
Nhưng khác với cồng chiêng Tây Nguyên ở nước ta, ở Myanmar, người diễn
xướng cồng chiêng chỉ gồm có một người và được đào tạo một cách bài bản ( được
chuyên nghiệp hóa).
Thứ ba, về hình thức diễn xướng.
Ở Việt Nam, mỗi người đánh một chiếc, cả dàn có bao nhiêu chiếc cồng chiêng thì
bấy nhiêu người đánh. Thể hiện tính cộng đồng sâu sắc và âm nhạc được phổ biến
đến từng người dân. Mỗi nhạc công giữ một vị trí cao độ và tiết tấu, âm sắc khác
nhau, đòi hỏi phải nhớ, phải tập trung tâm trí nắm chắc thời gian, nhịp điệu để gõ
loại dàn chỉ gồm 2 chiếc (như dàn chiêng Tha) cho đến loại từ 9,11,16 cồng và
chiêng.
Cồng chiêng của các nước Đông Nam Á lục địa: Lào, Campuchia, Thái Lan,
Myanma và một số nước ĐNÁ hải đảo: Indonexia,Philippin,Malaysia sử dụng dàn
chiêng Gamelan, Gong Kebyar( Indonexia),Kulingtan(Philippin),Khong wong Vai(
Thái Lan, Lào) gồm 1-2 chiếc cồng lớn treo trên giá còn đa phần cồng có núm nhỏ,
mỗi núm được úp lên một hộp bằng đồng sắp đặt trên một hệ thống cố định trên
một dàn tròn bằng mây hay giá gỗ.Nhạc công ngồi yên ở giữa 2 tay dùng búa để
gõ cồng.
Cồng chiêng Tây Nguyên Việt Nam thì trái lại, với biên chế đa dạng, không cố
định, hình thành nhiều loại dàn chiêng khác nhau để phục vụ cho những sinh hoạt,
lễ thức khác nhau. Có loại dàn chỉ gồm 2 chiếc (như dàn chiêng Tha) cho đến loại
từ 9,11,16 cồng và chiêng.
Thêm điểm khác nữa:
Nhạc công các dàn cồng chiêng các nước Đông Nam Á lục địa một mình với 2 tay
đánh bằng dùi gõ cả dàn cồng đến 17, 19 chiếc, còn nhạc công dàn cồng chiêng
Tây Nguyên thì mỗi người chỉ đánh một cồng. Mỗi nhạc công giữ một vị trí cao độ
và tiết tấu, âm sắc khác nhau, đòi hỏi phải nhớ, phải tập trung tâm trí nắm chắc thời
gian, nhịp điệu để gõ đúng phần của mình, vừa phải lắng nghe người khác trong
dàn nhạc để tạo nên sự hòa hợp, đồng cảm chung. Vì vậy, để tham gia diễn tấu
được một bài chiêng, thì yếu tố “nhạc cảm,năng khiếu bẩm sinh là vấn đề quan
trọng, không phải là ai cũng có thể làm ngay được. Đặc biệt là sự quy định chức
năng từng loại cồng trong dàn nhạc: “Chiếc cồng phát ra âm thanh thấp – vốn là
âm cơ bản – mang tên “mẹ”. Trong những dàn có 9 cồng chiêng trở lên thì có thêm
cồng “cha”, ... tiếp theo là các cồng con, cồng cháu... hình thành hệ thống gia đình
mang dấu vết chế độ mẫu hệ của người Tây Nguyên. Khi diễn tấu, cồng mẹ và
cồng cha được phân công phần trầm làm nền, cồng con và các cồng khác đánh so
le trước – sau, nhanh – chậm để tạo ra giai điệu” *. –
Vì nhiều lý do khác nhau, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ngày càng
bị thu hẹp, biến thái và mất dần với nhiều lý do:
•
•
•
•
•
Toàn cầu hóa
Giao thoa văn hóa
Đời sống kinh tế khó khăn
Ý thức bảo tồn văn hóa còn yếu
Ít người quan tâm đến
Nhưng chủ yếu nhất là do ảnh hưởng của kinh tế thị trường, văn hóa hiện đại
Phương Tây cùng các thế lực thù địch đa lợi dụng tín ngưỡng của một bộ phận
nhân dân để lôi kéo, xúi giục đồng bào bán cồng chiêng, hủy bỏ lễ hội dẫn đến “
chảy máu cồng chiêng”. Trước thực trạng trên, các tỉnh Tây Nguyên đã và đang
triển khai nhiều chương trình nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng
chiêng.
2.
Tiềm năng phát triển
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận
là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Phục dựng lại các lễ hội truyền thống, các bài chiêng cổ, tổ chức nhiều hoạt
động bảo tồn như vui chơi, ca hát để thu hút du khách.
(Năm 2009, tỉnh Lâm Đồng đã xây dựng triển khai thực hiện đề án “ Bảo tồn phát
huy di sản văn hóa cồng chiêng các dân tộc Tây Nguyên tỉnh Lâm Đồng 20092010 tầm nhìn 2015”. Ngành văn hóa tỉnh Lâm Đồng đã nỗ lực triển khai nhiều
trong đó có 200 đội cồng chiêng trẻ).
3.
Các giải pháp
Trước hết là sự suy giảm nhanh chóng về số lượng các dàn cồng chiêng... Nhưng
nguy cơ mai một cồng chiêng còn thể hiện ở các bài bản nhạc chiêng dần dần bị
lãng quên. Các nghệ nhân trải qua thời gian, do nhiều tác động khác nhau đã quên
nhiều bản nhạc chiêng. Người Mnông trước đây có 40 bản nhạc chiêng, nay các
nghệ nhân chỉ còn nhớ, lưu truyền và trình diễn được 10 bản nhạc chiêng. Mặt
khác, những nghệ nhân có đôi tai thẩm âm, có năng khiếu trong việc chỉnh chiêng
cũng thưa vắng dần trong các cộng đồng cư dân.
Đáng tiếc nhất là khi những người già, những nghệ nhân Tây Nguyên chết đi đã
mang theo cả kho tàng di sản văn hoá cồng chiêng mà không dễ dàng tạo dựng và
khôi phục được. Sự đứt gãy dòng chảy của văn hoá truyền thống dẫn đến sự thờ ơ,
hờ hững của lớp trẻ với văn hoá của các thế hệ tiền nhân, trong đó có văn hoá âm
nhạc cồng chiêng.
Khác với Nhã nhạc cung đình Huế, là một hiện tượng văn hóa, để bảo tồn chúng ta
chỉ cần đầu tư cho công tác nghiên cứu và phát triển nghệ nhân biểu diễn, cồng
chiêng không chỉ là nghệ thuật biểu diễn đơn thuần, mà gắn bó chặt chẽ với nghi
lễ, với đời sống hằng ngày, với chính không gian của vùng đất ấy. Vì vậy, cần có
một chương trình tổng thể, quy mô cho công việc này.
•
•
•
Đồng và các tỉnh khác.
Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Tạo mọi điều kiện mở rộng nguồn đầu tư khai khác về tiềm năng vật lực và
tài lực trong xã hội tham gia bảo tồn và phát huy di sản văn hóa theo phương
•
•
châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình
độ cán bộ quản lý, chuyên môn làm nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa. Mở
các lớp tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ văn hóa cơ sở về lĩnh
vực bảo tồn và phát huy di sản văn hóa.
Nhà nước và địa phương cần có những chính sách và biện pháp phù hợp để
bảo tồn và phát huy.
Đưa ra bộ quy tắc ứng xử của người dân địa phương và du khách để bảo tồn
và phát triển không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Việc bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa không chỉ là trách nhiệm của ngành văn
hóa mà là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức kinh tế, xã hội và mọi
tầng lớp nhân dân. Để làm tốt công tác bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa cồng
chiêng các dân tộc Lâm Đồng rất cần sự phối hợp vào cuộc của các ngành, các cấp
và chính quyền địa phương trong việc thực hiện các chiến lược bảo tồn Di sản văn
hóa các DTTS Tây Nguyên, trong đó có cồng chiêng.
Thông tin được tìm hiểu ở các nguồn uy tín như:
Thư viện quốc gia
Thư viện trường đại học văn hóa Hà Nội
Các trang web uy tín.
EM XIN THAY MẶT CẢ NHÓM CHÂN THÀNH CẢM ƠN CÔ ĐÃ ĐỌC HẾT
NHỮNG TÌM HIỂU CỦA NHÓM VỀ BÀI TẬP LẦN NÀY!