“sự cần thiết của việc giáo dục giới tính sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh” - Pdf 43

BÀI DỰ THI VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIẢI QUYẾT
TÌNH HUỐNG TRONG THỰC TIỄN
I. TÌNH HUỐNG : “Sự cần thiết của việc giáo dục giới tính - Sức khỏe
sinh sản vị thành niên cho học sinh”.
Tình huống cần giải quyết:
Trống báo hiệu giờ ra chơi, học sinh lớp 6A đã ùa ra khỏi lớp. Duy nhất chỉ
còn một mình bạn Lan vẫn ngồi khúm núm tại bàn, đưa mắt nhìn ngó xung
quanh. Được một lúc, Lan bỏ chạy vào nhà vệ sinh nữ đóng cửa và không chịu
ra ngoài. Vào tiết học sau, không thấy bạn Lan đâu, cả lớp nhốn nháo đi tìm, thì
một học sinh nam cho biết, đã nhìn thấy bạn Lan chạy vào phòng vệ sinh. Linh –
Bạn thân của Lan vào xem thì thấy Lan đang ngồi khóc trong nhà vệ sinh với
tâm trạng lo lắng, sợ hãi vì chiếc quần dính đầy máu. Linh nói nhỏ với cô giáo
chủ nhiệm, cô đã an ủi hai bạn và nói rằng đó là điều bình thường, là biểu hiện
của tuổi dậy thì.
Từ câu chuyện của bạn Lan lớp 6A và thực tế bản thân en cũng như qua tìm hiểu
một số bạn trong cùng lớp, cùng trường. Chúng em nhận thấy khi có những thắc mắc
hay những điều khó nói về sức khỏe, tâm sinh lý lứa tuổi thì chúng em lại ngại và không
thể tâm sự được với ai kể cả cha, mẹ, thầy, cô hay anh, chị. Muốn tìm hiểu, chúng em
phải tự kiếm tìm các thông tin trên mạng Internet, qua bạn bè cùng trang lứa. Vì
vậy, các thông tin thường không đầy đủ và nhiều khi thiếu khoa học. Nhiều bạn
do không có kiến thức về giáo dục giới tính nên khi đi quá giới hạn đã gây
những hậu quả xấu, ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như quá trình học tập.
Từ thực trạng trên, nhóm chúng em đã tìm hiểu, nghiên cứu về giới tính – sức
khỏe sinh sản, để giúp các bạn trong trường có đầy đủ thông tin về giới tính – sức khỏe
sinh sản vị thành niên. Chắc chắn đây sẽ là vấn đề được nhiều bạn trẻ, nhiều bậc phụ
huynh quan tâm.
II. MỤC TIÊU GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

1





- Phân tích, đánh giá: Phân tích cụ thể hậu quả của sự thiếu kiến thức về
giới tính sức khỏe sinh sản vị thành niên; bày tỏ quan điểm về vấn đề.
3. Tổng hợp nghiên cứu và đề ra giải pháp:
Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống:
* Kiến thức môn Sinh:
+ Các kiến thức về giải phẫu sinh lý người(đặc biệt là cơ quan sinh
dục), hiểu được các hoạt động sinh lý của cơ thể.
+ Nghiên cứu về tuổi dậy thì, xuất tinh, hiện tượng kinh nguyệt, thụ tinh thụ
thai, những nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên, các bệnh lây qua đường tình
dục.
+ Giải thích một số hiện tượng tâm- sinh lý lứa tuổi.
+ Biết cách vệ sinh thân thể và giữ gìn sức khoẻ bản thân.
* Môn GDCD:
+ Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.
+ Những điều nên và không nên về vấn đề giới tính. Giáo dục giới tính,
xây dựng tình bạn trong sáng lành mạnh.
+ Hiểu về Luật hôn nhân Gia đình.
* Môn Toán: Điều tra, thống kê về những hiểu biết của học sinh trường
THCS Tự Lạn về giới tính và sức khỏe sinh sản.
* Môn Văn:
+ Nắm được các kỹ năng thuyết minh tình huống, kể chuyện.
+ Giáo dục về tính cách nam và nữ( Nam thì uy nghi, mạnh mẽ, nữ thì
dịu dàng nết na) qua đó giúp các bạn hoàn thiện cả về tâm hồn và thể chất
thông qua các truyện kể, các tiểu phẩm.
* Môn Mỹ thuật: Biết vẽ tranh tuyên truyền về giáo dục giới tính - SKSS .
* Giáo dục ngoài giờ lên lớp:
+ Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.


4


• Đối với học sinh:
- Cần tích cực vận dụng những kiến thức đã học được ở trường lớp, sách vở
vào thực tế cuộc sống để giải quyết các tình huống thực tiễn cũng như việc vận
dụng các kiến thức đời sống vào bài học của các bộ môn trong nhà trường.
- Hãy là một tuyên truyền viên tích cực trong việc giáo dục giới tính sức
khỏe sinh sản vị thành niên.
• Đối với gia đình:
- Bố mẹ cần gần gũi, làm bạn với con cái khi bước vào tuổi dậy thì.
- Cha mẹ nên nói chuyện về giới tính, tình dục. Tận dụng những mẩu chuyện,
sách báo mang tính giáo dục định hướng để qua đó giáo dục giới tính – SKSS
cho con cái.
V. THUYẾT MINH TIẾN TRÌNH GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
Nhóm chúng em đã sử dụng một số tài liệu tham khảo sau:
- Sách giáo khoa sinh học 8; Toán; Ngữ văn; GDCD 8,9; …
- Cuốn sách y tế học đường (Tác giả Nguyễn Võ Kỳ Anh NXB Đại học
Quốc Gia Hà Nội )
- Tài liệu tập huấn mô hình tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân của Sở
y tế Bắc Giang
- Một số Trang web: http://123doc.org/document/, http://tailieu.vn/tag/giao-ducsuc-khoe-sinh-san.html...

1. Phương pháp thực hiện
- Phương pháp đề nghị: đề nghị các cấp có thẩm quyền, đề nghị nhà trường,
gia đình.
- Phương pháp tuyên truyền: trên trang Web của nhà trường, chương trình
giáo dục ngoài giờ lên lớp, thông qua bảng tin của nhà trường; trong các buổi
hoạt động của câu lạc bộ Tiền hôn nhân, các buổi sinh hoạt lớp.


+ Nam từ 12 - 14 tuổi
- Giai đoạn VTN giữa, tương đương với lứa tuổi thiếu niên lớn.
6


+ Nữ từ 13 - 15 tuổi
+ Nam từ 14 - 16 tuổi
- Giai đoạn cuối VTN, tương đương với lứa tuổi đầu thanh niên.
+ Nữ từ 16 - 18 tuổi
+ Nam từ 17 - 19 tuổi
Trẻ em bước vào tuổi VTN bằng những dấu hiệu của tuổi dậy thì. Tuổi dậy
thì đối với nữ được tính từ khi xuất hiện kinh nguyệt lần đầu (khoảng 13 - 14
tuổi), còn đối với nam kể từ khi xuất tinh lần đầu tiên (khoảng từ 14 - 15 tuổi).
c. Khái niệm về sức khỏe sinh sản VTN và những thay đổi về thể chất,
tâm lý, tình cảm ở tuổi VTN.
* SKSS VTN là những nội dung về SKSS liên quan, tương ứng với lứa tuổi
VTN, đó là tình trạng khỏe mạnh của VTN về thể chất, tinh thần và xã hội trong
mọi vấn đề liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng và quá trình hoạt động
của nó.
Tất cả những vấn đề về sức khỏe trong thời kỳ VTN đều liên quan đến sự
phát triển tự nhiên về thể chất và tinh thần, về giới tính, nó tác động một cách
cực kỳ sâu sắc và mạnh mẽ tới sự phát triển của cơ thể trong giai đoạn tiếp theo
hình thành một con người hoàn thiện với các chức năng đầy đủ, đặc biệt là các
chức năng về tình dục, sinh sản và các lĩnh vực tâm sinh lý.
* Tuổi VTN có những thay đổi về cả thể chất và tâm lý, tình cảm.
- Thay đổi về thể chất:
Những thay đổi về thể chất ở em gái:
+ Ngay khi bước vào tuổi dậy thì, cơ thể các em bắt đầu phát triển nhanh
hơn mức bình thường. Các em gái cao rất nhanh và khi 18 tuổi, các em có thể
cao bằng một người phụ nữ trưởng thành. Ngoài thay đổi về chiều cao, vú bắt

có kinh nghiệm và vẫn phụ thuộc vào bố mẹ và gia đình.
+ Ở tuổi VTN nhóm giữa (14 - 16 tuổi): Các em phát triển mạnh tính độc
lập, muốn tách khỏi sự quản lý, kiểm soát của gia đình, phát triển mạnh cá tính
và muốn tìm kiếm những mối quan hệ bạn bè cùng lứa. Nhu cầu về tình bạn trở
nên quan trọng và dễ chịu ảnh hưởng (tốt cũng như xấu) của nhóm bạn đó; đặc
biệt chú ý đến người bạn khác giới và dễ nhầm lẫn tình bạn với tình yêu. Các em
8


tiếp tục phát triển mạnh về tư duy trừu tượng, tuy vậy các em lại thường thay đổi
tình cảm một cách dễ dàng, khi vui khi buồn kiểu "sáng nắng, chiều mưa". Khi
mong muốn điều gì, các em muốn thỏa mãn nhu cầu ngay và có thể hành động
bất chấp hậu quả, trong khi về mặt tư duy, các em chưa phát triển đầy đủ khả
năng tự phê phán. Cũng ở nhóm tuổi này, các em thường muốn tìm hiểu về khả
năng hoạt động tình dục của mình.
+ Ở nhóm tuổi VTN nhóm muộn (17 - 19 tuổi): Cơ thể và chức năng sinh
lý của các bộ phận trong cơ thể các em đã gần như hoàn chỉnh về mặt tâm lý,
tình cảm đã có cách suy nghĩ, ứng xử khá chín chắn giống như người trưởng
thành. Có suy nghĩ kế hoạch cho tương lai, về sự lựa chọn nghề nghiệp một cách
thực tế hơn, ảnh hưởng của nhóm bạn bè giảm bớt, thường kén chọn bạn thích
hợp với mình, bạn tâm giao. Tình yêu ở nhóm tuổi này thực tế hơn, đã phân biệt
được tình bạn và tình yêu, chứ không còn mơ hồ như những năm trước đó.
2.2. Thực trạng về giáo dục giới tính, SKSS VTN hiện nay và những
hiểu biết về giới tính, SKSS VTN của học sinh
a. Thực trạng về giáo dục giới tính, SKSS VTN hiện nay
Hiện nay vấn đề giáo dục giớ tính, SKSS đã và đang được toàn xã hội quan
tâm. Tại điều 27- Mục 2, Luật giáo dục có ghi: “ Mục tiêu của giáo dục phổ
thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ
và các năng lực cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo,
hình thành nhân cách con người xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách

môn học và một vài chương trình ngoại khóa. Tuy nhiên, nội dung chương trình
và phương pháp vẫn chưa giải quyết được vấn đề trọn vẹn, chỉ mới dừng lại ở
bước khám phá, tìm hiểu nên dễ tạo tâm lý băn khoăn, tò mò trong tâm trí học
sinh làm cho họ lại tìm hiểu dựa trên những thông tin sai lệch Vấn đề giáo dục
về đạo đức, ý chí để trang bị cho HS về mặt ý thức nhằm kiểm soát hành vi còn
hạn chế.
Các thầy cô giáo khi dạy vẫn có tâm lý ngại ngùng khi nói về giới tính hay
quan hệ tình cảm, lúc giảng dạy không đi sâu phân tích, giải thích vòng vo khiến
học sinh vừa tò mò, vừa khó hiểu.

10


Về phía gia đình, các bậc phụ huynh còn e ngại và cho rằng việc đó là "vẽ
đường cho hươu chạy", nên ít quan tâm tới những thay đổi của con em mình để
có sự quan tâm, giáo dục phù hợp, kịp thời.
Bản thân chúng em, do tâm lý e ngại, xấu hổ, không dám bộc lộ trực tiếp
những vấn đề mình đang băn khoăn về giới tính, SKSS với thầy cô giáo, với cha
mẹ, sợ cha mẹ mắng khi đề cập tới những vấn đề nhạy cảm. Cùng với tâm lý đó,
chúng em cũng ngại trao đổi với bạn bè và thường tự mình tìm hiểu.
Chính hoạt động giáo dục giới tính trong trường học còn chung chung, các
bậc phụ huynh thì không chú trọng, gây nên chúng em thiếu kiến thức, thiếu
hiểu biết về giới tính, SKSS.
b, Dưới đây là nhận thức về giới tính, SKSS VTN của học sinh lớp 8, 9 của
Trường THCS Tự Lạn qua việc khảo sát kiến thức về giới tính, SKSS VTN ở
câu hỏi trắc nghiệm.
Đối tượng khảo sát: Học sinh khối lớp 8, 9 Trường THCS Tự Lạn
Tổng số học sinh: 180
Nam : 108 chiếm 60%, nữ: 72 chiếm 40%
Số phiếu phát ra là 180. Số phiếu hợp lệ thu được là 180


49

2.7

vấn đề liên quan đến bộ máy sinh sản, đến các chức năng và quá

*Nhận thức về tình bạn khác giới :
11


Tình bạn khác giới cũng giống như tình bạn cùng giới đó là một loại tình
cảm giữa hai hoặc một nhóm người hợp nhau về tính tình, giống nhau về sở
thích, có chung một quan niệm sống, lí tưởng, ước mơ…Trong tình bạn khác
giới mỗi người đều coi bạn mình như một điều kiện để tự hoàn thiện mình, tình
bạn khác giới làm tôn vẻ đẹp của mỗi người. Giữa hai bạn khác giới thường có
một khoảng cách tế nhị do đó không thể dễ dàng biểu lộ sự gần gũi như bạn
cùng giới. Đề cập đến vấn đề này chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Trong tình bạn
khác giới cần tránh những điều gì?” và thu được kết quả biểu hiện ở bảng 2
Bảng 2. Nhận thức của các bạn học sinh về tình bạn khác giới
Nên

Đối xử với nhau suồng sã, thiếu tế nhị.
Vô tình hay cố ý gán ghép lẫn nhau.
Ghen ghét, nói xấu hay đối xử thô bạo với

SL
10
33
0

81,11

dù rất thân nhau.
Giúp đỡ nhau cùng hoàn thiện bản thân.
Luôn chia sẻ, đồng cảm, thân thiện với nhau..
Có thái độ lấp lửng, mập mờ hay gây cho bạn

180
180
15

100
100
8,33

0
0
165

0
0
91,67

khác giới hiểu nhầm là tình yêu
Không có sự say mê vể thể xác, không ghen

79

43,89


cao (40 bạn = 22%)
Số này đã minh chứng khá rõ cho chúng ta rằng ở lứa tuổi này các bạn
đã bắt đầu có tình cảm yêu đương. Mặc dù đã có người yêu nhưng liệu các
bạn có thể hiểu tình yêu là như thế nào hay đơn thuần chỉ là các bạn cảm thấy
rằng bạn khác giới quan tâm đến mình thì đó được gọi là tình yêu. Để có thể
hiểu được điều này chúng em đã đưa ra câu hỏi: “Bạn hiểu như thế nào về
tình yêu?” kết quả thu được thể hiện ở bảng 3
Bảng 3. Nhận thức của các bạn học sinh về tình yêu
Đặc điểm
Là sự thân thiết giữa hai người khác giới.
Chung thủy.
Có sự chân thành, tin tưởng, đồng cảm với nhau.
Tôn trọng người mình yêu, tôn trọng bản thân mình.
Đơn thuần chỉ là QHTD giữa hai người.
Là sức lôi cuốn đặc biệt bởi vẻ đẹp của bạn khácgiới.

SL
150
140
170
119
0
160

%
83,33
77,78
94,44
66,11
0

Quan niệm

Không

SL
Là cách sinh con, duy trì nòi giống 93
Biểu hiện sự hấp dẫn về thể xác và 25

%
SL
51,67 37
13,89 120

%
20,56
66,67

đồng ý
SL
%
50 27,77
35
19,44

tình cảm giữa nam và nữ
Là cách thể hiện tình yêu và giữ

13,89 125

69,44


25

trưởng thành

14


Những con số trên cho thấy rằng các bạn đã có nhận thức về QHTD
nhưng chưa đầy đủ và còn nhiều hạn chế về vấn đề tình dục. Tình dục không
phải chỉ là bản năng mà nó còn gắn liền với yếu tố đạo đức và nó bị chi phối
bởi yếu tố xã hội.
Vấn đề tình dục là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và tế nhị, trước đây
vấn đề này chỉ được nhắc đến trong “phòng the”. Trong xã hội vẫn còn nhiều
người chưa tán thành giáo dục tình dục vì họ có những định kiến đã ăn sâu,
bám rễ từ lâu. Các thầy cô giáo cũng thường né tránh chủ đề này, và ở gia đình
hầu như không ai nhắc đến. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của
VTN.
Qua số liệu điều tra, có thể thấy rằng nhận thức của VTN là phù hợp với
quan niện chính thống của xã hội hiện nay. Bên cạnh đó cũng còn có những ý
kiến, suy nghĩ tương đối “thoáng” về vấn đề này. Điều này cũng dễ hiểu bởi xã
hội hiện nay có rất nhiều tác động, có nhiều tệ nạn nảy sinh, những quan điểm
lệch lạc với chuẩn mực xã hội Việt Nam. Do đó, cần phải giúp các em có đầy
đủ kiến thức và sự hiểu biết về vấn đề này.
* Nhận thức về hậu quả của việc nạo phá thai ở tuổi vị thành niên:
Chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Bạn có biết hậu quả của việc nạo phá thai ở tuổi
VTN” thu được kết quả thể hiện ở bảng 5
Bảng 5. Nhận thức của học sinh về hậu quả của việc nạo phá thai ở tuổi vị
thành niên.
Hậu quả

5,56
67,22
5,56


Thông qua số liệu trên ta có thể thấy rằng, VTN đã có cách nhìn nhận về
hậu quả của việc nạo phá thai ở tuổi VTN. Nhưng tiếc rằng sự hiểu biết của
các bạn mới chỉ dừng lại ở mức độ cảm tính chứ chưa thực sự có cái nhìn sâu
rộng, vì khi được hỏi thì có bạn đã trả lời: “Mình chưa thực sự hiểu về hậu
quả của việc nạo phá thai ở tuổi VTN mà mình chỉ có nghe loáng thoáng đến
những hậu quả ấy mà thôi.”. Như vậy, cho dù trong công tác tuyên truyền giáo
dục vấn đề sức khỏe có tốt đi bao nhiêu chăng nữa mà không chú trọng đến
hậu quả thì công tác ấy vẫn không thể nói là có hiệu quả. Do đó trong công tác
GDSKSS chúng ta cần đi trước, đón đầu, định hướng trước những hậu quả
không may xảy ra cho các em.
* Nhận thức các biện pháp tránh thai
Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Bạn biết các biện pháp
tránh thai nào dưới đây” với 3 mức độ: có nghe nói đến, biết cách sử dụng,
không biết. Kết quả thu được thể hiện ở bảng 6
Bảng 6. Nhận thức của học sinh về các biện pháp tránh thai.
Có nghe
Biện pháp

nói đến
SL
%
Thuốc tránh thai hàng ngày
32
17,78
Bao cao su

0
0
170
0
0
180
0
0
41
thì các bạn HS đã có

%
73,33
0
61,11
94,44
100
22,78
những hiểu

biết nhất định. Biện pháp tránh thai được các bạn biết đến nhiều nhất đó là:
dùng bao cao su và đặt vòng tránh thai. Có hai biện pháp tránh thai các bạn
không biết đến đó là: “Thuốc diệt tinh trùng”, “Tính chu kì kinh nguyệt” và
“Thuốc tránh thai khẩn cấp”. Hầu như VTN vẫn chưa có sự hiểu biết sâu rộng
về một số biện pháp tránh thai. Có những bạn tỏ ra biết nhưng khi hỏi cụ thể

16


thì mới chỉ dừng lại ở biết cách sử dụng thông qua sách báo, lý thuyết chứ

- Hầu hết các bạn gái mang thai sớm đều phải bỏ học, phải xa cách bạn bè,
thầy cô giáo, cơ may tìm kiếm được việc làm của các bạn đó sẽ ít hơn và phải
phụ thuộc vào người khác để sống và nuôi con. Người mẹ trẻ cảm thấy mình bị
cô lập, tương lai của mình bị bán rẻ, mất giá trị trong con mắt của mọi người,
làm tăng thêm cảm giác thất bại, lạc lõng. Một số bạn đã vì những mặc cảm mà
dẫn đến những hành động đáng tiếc như tự vẫn, bỏ đi làm gái mại dâm hoặc trở
thành kẻ giết người (giết đứa con mình đẻ ra để trả thù người tình). Nếu có tiến
hành hôn nhân thì sẽ vi phạm Luật hôn nhân gia đình, phải sống gượng ép. Sự
kết hợp giằng buộc đó rồi cũng nhanh chóng kết thúc bằng sự tan vỡ. Đứa con
của những cặp vợ chồng này sẽ phải chịu đựng quá nhiều thiệt thòi và bà mẹ
không có khả năng chăm sóc, thậm chí còn ghét bỏ nó.

Hoang mang, hoảng loạn tinh thần
Gia đình bỏ rơi
- Khi có thai, các bạn gái vị thành niên thường xấu hổ, lúng túng, sợ tai
tiếng không dám thổ lộ cùng người thân, không dám đến cơ sở y tế để tư vấn,
nên cố tình che dấu tình trạng có thai càng lâu càng tốt bằng mọi cách có thể
nghĩ ra dẫn đến nhiều hậu quả thương tâm cho cả con cái và cha mẹ. Nhiều

18


trường hợp, do sự áp lực từ gia đình và dư luận xã hội nên dẫn đến phá thai bất
hợp pháp ở nơi không đảm bảo an toàn (bà đỡ vườn, cơ sở y tế tư nhân không có
giấy phép hành nghề sản phụ khoa) dẫn đến dính buồng tử cung, tắc vòi trứng
gây vô sinh hoặc chửa ngoài dạ con, tổn thương thành tử cung có thể để lại sẹo.
Sẹo trên thành tử cung thường là nguyên nhân gây vỡ tử cung khi chuyển dạ ở
lần sinh sau cũng như sự vô sinh sau này.
Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá, Việt Nam là nước có tỉ lệ phá thai cao nhất
châu Á và thuộc một trong 5 nước có tỉ lệ phá thai cao nhất trên thế giới.

lây giữa nam với nam, giữa nữ với nữ. Nhưng thường gặp ở những người quan
hệ tình dục khác giới.
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến ở Việt Nam có bệnh lậu,
giang mai, HIV/AIDS.
- Bệnh lậu: Do một loại vi khuẩn hình hạt cà phê thường xếp thành từng
cặp nên gọi là song cầu khuẩn. Chúng khó tồn tại lâu ngoài tự nhiên, nhưng
sống được nhiều năm trong cơ thể người bệnh.
Tác hại của bệnh lậu: Gây vô sinh, do hẹp đường dẫn tinh vì sau khi viêm
để lại sẹo trên đường đi của tinh trùng (với nam); với nữ làm tắc ống dẫn trứng,
20


có nguy cơ chửa ngoài dạ con. Con sinh ra có thể bị mù lòa do nhiễm khuẩn khi
qua âm đạo.
- Bệnh giang mai: Do xoắn khuẩn giang mai gây nên và nếu bệnh không
được phát hiện và chữa kịp thời sẽ gây tổn thương đến các phủ tạng (tim, gan,
thận và hệ thần kinh); con sinh ra có thể mang khuyết tật, dị tật bẩm sinh.
- Bệnh HIV/AIDS: Bệnh AIDS do một loại vi rút gây suy giảm miễn dịch ở
người, gọi tắt là HIV, chúng xâm nhập vào cơ thể qua quan hệ tình dục, qua
truyền máu và tiêm trích ma túy. Khi đã vào cơ thể, HIV tấn công vào tế bào
limpho T trong hệ miễn dịch và phá hỏng dần hệ thống miễn dịch, làm cơ thể
mất khả năng chống bệnh. Lúc này, người bị AIDS có thể chết vì những bệnh
thông thường mà bình thường cơ thể có khả năng chống lại. Nếu phụ nữ đã bị
lây nhiễm HIV, khi mang thai cũng có thể truyền HIV sang thai nhi qua nhau
thai.
4. Những giải pháp để góp phần vào việc giáo dục giới tính, SKSS VTN
cho học sinh.
Có thể khẳng định rằng, SKSS là một mảng quan trọng của đời sống, có
ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc và sức khỏe của mỗi cá nhân và cộng đồng.
Những ai thiếu hiểu biết về nó hoặc có định kiến sai lầm, thiếu tình cảm, thiếu

tinh của tình người, nó làm cho con người trở nên thanh cao, giàu lòng nhân ái,
giàu sức sáng tạo.
- Tình yêu lành mạnh là?
+ Tôn trọng người mình yêu: thể hiện việc nhìn nhận người yêu có các cá
tính riêng, không bắt người yêu phải theo ý mình. Tôn trọng và thông cảm với
các mối quan hệ xã hội của người yêu (quan hệ với cha mẹ, bạn bè, đồng
nghiệp).
+ Tôn trọng bản thân: mỗi người có một đặc tính riêng với cách suy nghĩ,
cách nhìn nhận, cách phản ứng riêng biệt trong từng hoàn cảnh, luôn sống chân
thành với người mình yêu, biết quý trọng bản thân là điều cần thiết trong tình
yêu.

22


+ Chia sẻ: khi hai người xây dựng tình yêu, tổ ấm hạnh phúc, họ thường
cùng nhau chia sẻ mọi niềm vui, nỗi buồn. Điều đó không chỉ là niềm hạnh phúc
hiện tại mà còn là tình cảm gắn bó lâu dài.
+ Luôn đem lại hạnh phúc cho nhau: tình yêu là chỗ dựa, là nguồn nhựa
sống của con người. Tình yêu, hạnh phúc phải được chăm sóc, vun đắp hàng
ngày.
+ Quan tâm và giúp đỡ nhau đạt được những điều mong muốn giữa cuộc
sống bộn bề vất vả và tạo cho nhau những niềm vui nho nhỏ hàng ngày.
+ Chung thủy là một phẩm chất quan trọng của tình yêu lành mạnh.
- Tình dục:
+ Tình dục là một nhu cầu tự nhiên của con người bắt đầu xuất hiện ở tuổi
dậy thì và là một phần bản năng duy trì nòi giống.
+ Ở tuổi dậy thì sự phát dục không chỉ kích thích các bạn trẻ quan tâm đến
bạn khác giới mà làm cho mỗi bạn luôn sống trong sự khát khao, mong đợi
muốn biết những điều mới lạ, diệu kỳ của người khác giới.

. Chủ động tìm hiểu kiến thức về giới tính, SKSS.
. Nên tâm sự những điều lo lắng, băn khoăn, thắc mắc về gới tính khi có
những thay đổi về cơ thể tâm lý với cha mẹ, những người thân tin cậy.

( Hình ảnh tâm sự với bác sỹ, người thân về giới tính)
.Tránh xa những hình ảnh khiêu dâm, tệ nạn ma túy, cờ bạc.
. Thiết lập tình bạn, tình bạn khác giới trong sáng, tôn trọng và giúp đỡ
nhau cùng tiến bộ.
. Có thời gian biểu học tập, nghỉ ngơi, giải trí và tập luyện thể dục thể thao
cho phù hợp và điều độ.

24


( Giờ ra chơi của học sinh trường THCS Tự Lạn)
. Thường xuyên tham gia các hoạt động ngoại khóa do nhà trường tổ chức
+ Lứa tuổi VTN không nên:
. Quan hệ với những bạn bè không tốt.
. Không nên yêu quá sớm.
. Không thử quan hệ tình dục.Nếu QHTD, phải thực hiện tình dục an toàn:
Sống chung thủy với 01 bạn tình.Sử dụng bao cao su đúng cách mỗi khi
QHTD để vừa tránh mang thai ngoài ý muốn, vừa tránh các bệnh lây qua đường
tình dục và HIV/AIDS.
. Không đi chơi riêng với bạn khác giới, vào những chố vắng, tối tăm.
. Không nên tiếp bạn khác giới khi nhà vắng người.
Ba Là : Tuổi vị thành niên cần biết cách chăm sóc sức khỏe sinh sản, vệ
sinh cá nhân, vệ sinh bộ phận sinh dục:
- Nữ: Phải biết cách thực hiện vệ sinh kinh nguyệt (thay băng vệ sinh
thường xuyên trong thời gian hành kinh).Đến 15-16 tuổi mà không có kinh
nguyệt thì phải đi khám.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status