bài dự thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn hãy bảo vệ tài nguyên nước nguồn tài nguyên quý giá của chúng ta - Pdf 28

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HÀ NỘI
PHÒNG GIÁO DỤC QUẬN ĐỐNG ĐA
TRƯỜNG THCS BẾ VĂN ĐÀN
Địa chỉ: Số 181 Nguyễn Lương Bằng- HN
BÀI DỰ THI
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIẢI QUYẾT
CÁC TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN
(Liên môn: Hóa học, GDCD, Công nghệ; Địa lý; Sinh học)
Đề tài: “Hãy bảo vệ Tài nguyên nước - nguồn tài nguyên
quý giá của chúng ta”
Thông tin học sinh
Họ và tên: Bùi Minh Châu
Lớp: 9A3 - Trường THCS Bế Văn Đàn
Ngày sinh: 30/11/2000
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Trang 1
Tài nguyên nước là các nguồn nước khác nhau mà con người sử dụng
hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nước được sử dụng trong
công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giải trí, môi trường và sinh hoạt hàng
ngày. Hầu hết các hoạt động trên đều cần đến nước ngọt (trong đó 97% nước
trên trái đất là nước mặn, chỉ có 3% là nước ngọt). Nhưng hiện nay nguồn tài
nguyên nước bị cạn kiệt rất nhiều bởi nhiều lý do, nhưng một trong những lý do
quan trọng nhất là do hoạt động của con người. Việc sử dụng tài nguyên nước
không hợp lý đã có nhiều hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến môi trường sống
của con người và toàn bộ sinh vật trên trái đất. Do đó, với các kiến thức đã học ở
trên lớp qua các môn học như hóa học, địa lý, công nghệ, giáo dục công dân
cùng với thông tin qua sách báo, truyền thông , Em lựa chọn tình huống “Hãy
bảo vệ tài nguyên nước - nguồn tài nguyên quý giá của chúng ta” chọn làm

nước bên dưới mực nước ngầm.
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng, nếu không có nước thì
chắc chắn không có sự sống xuất hiện trên trái đất, thiếu nước thì cả nền văn
minh hiện nay cũng không tồn tại được.
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ăn
được vài ngày, nhưng không thể nhịn uống nước. Nước chiếm khoảng 70%
trọng lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng
lượng xương. Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào.
Nước ngoài tế bào có trong huyết tương của máu, dịch limpho, nước bọt…
Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thể (3-4 lít).
Nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra
không ngừng trong cơ thể. Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh
dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch
nước. Một người nặng 60 kg cần cung cấp 2-3 lít nước để đổi mới lượng nước
của cơ thể và duy trì các hoạt động sống bình thường.
Bên cạnh đó là vai trò của nước đối với sinh vật: Nước chứa trong cơ thể
sinh vật một hàm lượng rất cao, từ 50 - 90% khối lượng cơ thể sinh vật là nước,
có trường hợp nước chiếm tỷ lệ cao hơn, tới 98% như ở một số cây mọng nước,
ở ruột khoang (ví dụ: thủy tức). Nước là dung môi cho các chất vô cơ, các chất
hữu cơ có mang gốc phân cực (ưa nước) như hydroxyl, amin, các boxyl…Nước
là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ. Nước là
môi trường hoà tan chất vô cơ và phương tiện vận chuyển chất vô cơ và hữu cơ
trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở động vật. Nước nối liền
cây với đất và khí quyển góp phần tích cực trong việc bảo đảm mối liên hệ
khăng khít sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường. Trong quá trình trao đổi
giữa cây và môi trường đất có sự tham gia tích cực của ion H+ và OH- do nước
phân ly ra. Nước tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt
độ cơ thể. Nước còn là môi trường sống của rất nhiều loài sinh vật.
Và nước cũng không thể thiếu đối với sản xuất phục vụ cho đời sống con
người như trong nông nghiệp: tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần nước để

m3/ngày đêm. Trên địa bàn Hà Nội hiện nay khoảng trên 100.000 giếng khoan
khai thác nước kiểu UNICEF của các hộ gia đình, hơn 200 giếng khoan của
công ty nước sạch quản lý và 500 giếng khoan khai thác nước của các trạm phát
nước nông thôn.
Về chất lượng nước, những kết quả quan trắc càng khiến người dân hoang
mang hơn khi liên tục phát hiện dấu hiệu gia tăng ô nhiễm với các chỉ số kim
loại nặng cao hơn mức cho phép nhiều lần như hàm lượng amoni, asen, hữu
cơ…. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm ở Hà Nội hiện nay đang ở mức báo
động nghiêm trọng. Hà Nội có địa hình thấp về phía Nam và Đông Nam, toàn bộ
nước bề mặt kéo theo chất bẩn về đây, ngấm xuống làm bẩn cả những tầng chứa
nước nằm sâu dưới lòng đất. Tại khu vực phía Nam và Đông Nam thành phố Hà
Nội, nguồn nước ngầm đều bị ô nhiễm nặng. Hàm lượng Amôni cao hơn giới
hạn cho phép nhiều lần, điển hình là các giếng của Nhà máy Nước Pháp Vân
chứa NH4+ tới 30mg/l; Trạm cấp nước Mỹ Đình 2 trạm này có công suất
800m3/ngày đêm cung cấp nước cho 5.000 gia đình, có nồng độ Asen gấp 4 lần
cho phép; Khu đô thị Nam Đô kết quả xét nghiệm nước tại bể chứa của khu đô
Trang 4
thị này cũng không đạt cả hai chỉ tiêu về clo dư và pecmanganat. Tại các hộ gia
đình ở đây cũng có 4/15 mẫu nước không đạt chỉ tiêu nitrit và 15/15 không đạt
chỉ tiêu pecmanganat và clo dư.
Đoàn công tác Bộ Y tế kiểm tra chất lượng nước tại khu đô thị Nam Đô
Không những phải sống trong bầu không khí bị ô nhiễm nặng, người dân
Hà Nội đang hằng ngày, hằng giờ phải sử dụng nguồn nước sinh hoạt nhiễm độc
và sống chung với môi trường nước thải độc hại. Hiện nay, hầu hết những con
sông ở nội thành Hà Nội đều biến thành kênh thoát nước, đen ngòm và hôi thối!
Theo số liệu quan trắc của Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), nước mặt ở
các sông, hồ đều bị nhiễm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng, nhất là vào mùa khô.
Theo Sở TN&MT Hà Nội tổng lượng nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất
công nghiệp ở khu vực nội thành khoảng 500.000m
3

Cần phải nhận thức rằng: sử dụng nguồn nước vào mục đích chính đáng
như: dùng nước cho sinh hoạt hàng ngày như nấu ăn, tắm rửa…, dùng cho sản
xuất công nghiệp và đặc biệt là dùng cho sản xuất nông nghiệp (chiếm khoảng
80 lượng nước), bên cạnh đó phải đi đôi với bảo vệ nguồn nước. Sử dụng hợp lý
nguồn nước bao gồm cả tiết kiệm nước do giảm được chi phí đầu tư xây dựng
ban đầu và quản lý các công trình khai thác nước, đồng thời giảm được lượng
nước thải, hạn chế nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước. Các nhà khoa học đã và
đang nghiên cứu đến “Công nghệ sản xuất sạch hơn”, “Công nghệ sản xuất ít
Trang 6
nước”, chế tạo và cải tiến thiết bị vệ sinh tiết kiệm nước… chính là để góp phần
vào việc sử dụng hợp lý nguồn nước. Nội dung của sử dụng hợp lý nguồn nước
gồm:
- Nghiên cứu các phương pháp và giải pháp khoa học công nghệ nhằm khai
thác có hiệu quả nhất tài nguyên nước cho mục đích sử dụng trước mắt và
lâu dài.
- Nghiên cứu những cơ sở và phương pháp khoa học nhằm dự báo dài hạn
các quá trình thủy văn sẽ diễn ra do ảnh hưởng của hoạt động kinh tế - xã
hội của con người, từ đó nghiên cứu quan hệ và ảnh hưởng của các quá
trình thủy văn đến quá trình tự nhiên, tức là diễn biến của môi trường
thiên nhiên nói chung.
- Nghiên cứu những phương pháp khoa học và kỹ thuật công nghệ nhằm
đánh giá quản lý về lượng và chất các nguồn nước một cách chính xác,
đồng thời nghiên cứu xây dựng những công nghệ tiên tiến về xử lý nước ít
tốn kém, thải nước tối thiểu, xử lý nước thải một cách có hiệu quả với chi
phí hợp lý, dễ áp dụng.
Để giải quyết được vấn đề đảm bảo chất lượng nguồn nước và sử dụng
nước có hiệu quả đảm bảo lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội cần quan tâm đến các
công tác:
- Tuyên truyền cho mọi người dân hưởng ứng các chương trình chống ô
nhiễm môi trường nước: không thải các chất thải sinh hoạt, chất thải chăn

- Nước thải công, nông nghiệp gồm các chất rắn, kim loại nặng, thuốc trừ
sâu, diệt cỏ, thuốc bảo vệ thực vật gây hại cho sinh vật thủy sinh và con
người. Ngoài ra, rác thải sinh hoạt cũng góp phần không nhỏ vào sự ô
nhiễm môi trường thủy sản
- Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực
đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ.
- Bên cạnh đó, là nhận thức của mỗi con người về vấn đề môi trường chưa
cao.
Do vậy, cần có các biện pháp hạn chế ô nhiễm nguồn nước:
- Tạo bể lắng và lọc nước, đun sôi bằng nhiệt lượng.
- Xây dựng các nhà máy xử lý rác thải.
- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học để dự báo và tìm biện pháp phòng tránh
- Xây dựng công viên cây xanh, trồng cây.
- Giáo dục trong cộng đồng để nâng cao ý thức cho mọi người về ô nhiễm
và cách phòng chống, hạn chế gây ô nhiễm tới nguồn nước dưới mọi hình
thức.
- Tuyên truyền cho mọi người biết tác hại của ô nhiễm môi trường nước đối
với sức khỏe con người cũng như với cộng đồng.
- Dùng hóa chất dễ kiếm, rẻ tiền như khí clo nồng độ 0,1 đến 0,2mg/l, vôi
clorua CaOCl2 nồng độ 2%, formon nồng độ 2% để diệt khuẩn.
Nhiều hoạt động của con người đã tác động tới môi trường tự nhiên, gây ô
nhiễm và làm suy thoái môi trường. Tuy nhiên, với sự hiểu biết ngày càng tăng,
con người đã và đang nỗ lực để khắc phục tình trạng đó, đồng thời bảo vệ và cải
tạo môi trường tự nhiên. Cách giải quyết tình huống để mỗi cá nhân và cộng
đồng đều phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường sống của mình cũng
như cả cộng đồng.
Để các bạn học sinh, thanh thiếu niên nói riêng và toàn xã hội nói chung
nhận thấy được vai trò của tài nguyên nước, nếu mỗi chúng ta, không kể già, trẻ,
trai, gái, không kể độ tuổi và thành phần xã hội nếu chúng ta không biết cách sử
Trang 8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status