1
MỞ ĐẦU
Thương mại hàng hóa có một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã
hội của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, trong thời kỳ cơ chế kế hoạch hóa tập trung,
với các thành phần kinh tế tương đối giống nhau về bản chất, hoạt động thương
mại hàng hóa được diễn ra trong khuôn khổ hạn hẹp với việc điều chỉnh bằng một
hệ thống các quy định có tính hiệu lực pháp lý thấp, nhằm giải quyết những vấn
đề do thực tiễn cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, bao cấp phát sinh.
Luật Thương mại được Quốc hội Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua ngày 10/05/1997 đã đánh dấu một bước phát triển mới của hệ thống
pháp luật thương mại Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật thương mại đồng bộ, khoa học phù hợp với định hướng xây dựng
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, trong quá trình thực hiện đã bộc lộ những hạn chế, bất cập làm giảm
hiệu quả, thậm chí còn cản trở hoạt động thương mại hàng hóa ở nước ta. Vì
vậy, trong Kỳ họp thứ 7 - Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam Khóa XI (tháng 6 năm 2005) đã sửa đổi luật thương mại năm 1997 và
ban hành luật thương mại 2005.
Có thể nói, luật thương mại 2005, trong đó có các quy định về thương
mại hàng hóa đã thực sự tạo ra khuôn khổ pháp lý quan trọng cho hoạt động
thương mại phát triển. Song cũng như luật thương mại 1997, đến lượt nó, luật
thương mại 2005 cũng không tránh khỏi những hạn chế. Đặc biệt, trong bối
cảnh Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), hội nhập
ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới thì pháp luật thương
mại nói chung, thương mại hàng hóa nói riêng phải tiếp tục được hoàn thiện
cho phù hợp hơn với luật pháp thương mại quốc tế. Chính vì vậy, việc nghiên
cứu phương hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật thương mại hàng hóa của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập quốc
2
3
mại hàng hóa ngày càng trở nên phức tạp. Đối với hầu hết các nước trên thế giới,
nơi mà Bộ luật Dân sự được ra đời khá sớm, các nguyên tắc cơ bản trong giao
dịch dân sự trong đó có giao dịch trao đổi, mua bán hàng hóa được thiết lập.
Song sự xuất hiện của tầng lớp thương nhân và nghề nghiệp thương mại của họ
trong lưu thông hàng hóa đòi hỏi phải có luật lệ riêng nhằm xác định địa vị
pháp lý của các thương nhân và điều chỉnh hành vi thương mại hàng hóa. Ở
Pháp, bên cạnh Bộ luật Dân sự, có rất nhiều văn bản pháp luật riêng cho
thương nhân và thương vụ, ví dụ như: Dụ về thương mại tháng ba năm 1673;
Dụ về hàng hải tháng tám năm 1681 và sau đó là Bộ luật thương mại Pháp
được ban hành vào năm 1807. Ở Anh, Nghị viện đã ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại như Luật Công bằng,
Luật về thương phiếu (năm 1882) xuất phát từ các tập quán thương mại... Ở
Đức, Bộ luật Thương mại được ban hành gần như đồng thời với Bộ luật Dân sự
(Bộ luật Dân sự được ban hành ngày 18/08/1896, Bộ luật Thương mại được
ban hành ngày 10/05/1897). Ở một số nước tư bản khác như Thụy Sĩ, Ý...,
một Bộ luật Thương mại riêng không được xây dựng, mà các quy định về
hoạt động thương mại, trong đó có thương mại hàng hóa được coi như là một
bộ phận của luật dân sự, nghĩa là các quy định liên quan đến hoạt động thương
mại được quy định ngay trong Bộ luật Dân sự.
Những quy định pháp luật về thương mại hàng hóa được ra đời khá
sớm ở một số quốc gia có nền thương mại phát triển như Pháp, Đức. Có thể
nói, những quy phạm pháp luật đầu tiên về thương mại hàng hóa được xác lập
ở Pháp khi nhà vua Charle IX thành lập các tòa án thương mại vào năm 1565,
bao gồm đại diện của các thương nhân. Pháp luật thương mại hàng hóa ra đời
nhằm giải quyết được mối quan hệ giữa các thương nhân trong các giao dịch
mua bán hàng hóa với nhau, cũng như xác lập tính chất các giao dịch thương
mại này một cách mềm dẻo, trong khi các quy định của luật dân sự không đáp
5
nhẹ, tránh làm gián đoạn công việc kinh doanh. Do vậy, pháp luật thương mại
hàng hóa cần phải ra đời để xác lập một cơ quan tài phán chuyên trách thông
thạo công việc kinh doanh và xét xử theo một thủ tục riêng biệt. Trên thực tế,
một số nước có nền thương mại hàng hóa phát triển đã sớm thành lập tòa án
thương mại mà những thẩm phán là chính các thương nhân có kinh nghiệm
xét xử những vụ việc một cách nhanh chóng, đảm bảo tiến độ kinh doanh cho
các thương nhân. Bên cạnh đó, pháp luật thương mại hàng hóa cũng cần được
ra đời để đưa ra các quy định về thời hạn khiếu nại và thời hạn tố tụng theo
hướng rút ngắn hơn so với pháp luật dân sự nhằm đảm bảo cho hoạt động
thương mại được tiến hành nhanh chóng, tiện lợi.
Như vậy, pháp luật thương mại hàng hóa ra đời xuất phát từ tính tất yếu
khách quan của việc xuất hiện tầng lớp thương nhân và hoạt động thương mại
hàng hóa. Theo đó, việc xác lập địa vị pháp lý của thương nhân cũng như xác
lập về mặt pháp lý mối quan hệ giao dịch giữa các thương nhân với nhau, đặc
biệt là xây dựng các quy định pháp lý làm nền tảng cho hoạt động thương mại
hàng hóa phát triển được đặt ra như một yêu cầu khách quan.
Cùng với thời gian, thương mại hàng hóa không chỉ giới hạn trong
phạm vi một quốc gia mà nó được mở rộng ra phạm vi khu vực và quốc tế.
Trên cơ sở đó, pháp luật thương mại hàng hóa mỗi quốc gia tất yếu phải có sự
thích ứng với các các nguyên tắc và luật lệ quốc tế trong lĩnh vực này.
Cũng như các nước trên thế giới, pháp luật thương mại hàng hóa Việt
Nam cũng được ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của tầng lớp
thương nhân và hoạt động mua bán hàng hóa.
Đối với Việt Nam, cho đến giữa thế kỷ XIX, những tư tưởng tự do hóa
thương mại và thống nhất luật pháp điều chỉnh các hành vi thương mại của
thương nhân ở Châu Âu dường như không gây ảnh hưởng. Suốt một thời kỳ
dài trong lịch sử, nền sản xuất hàng hóa của Việt Nam bị khép kín, giao lưu
7
ngày với Bộ luật Dân sự.
Miền Bắc đi theo con đường XHCN, tiến hành xây dựng nền kinh tế
với hai thành phần chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Pháp luật
thương mại hàng hóa trong thời kỳ này chủ yếu phục vụ cơ chế kinh tế kế
hoạch hóa tập trung. Các giao dịch thương mại phát sinh chủ yếu giữa các xí
nghiệp quốc doanh, sau này gọi là doanh nghiệp nhà nước theo các chỉ tiêu
pháp lệnh Nhà nước, theo đó quan hệ cấp phát vật tư và giao nộp sản phẩm
giữa các Doanh nghiệp nhà nước theo kế hoạch do Nhà nước định trước.
Từ khi thực hiện chính sách đổi mới 1986 và sau đó là sự ra đời của Hiến
pháp mới (1992): phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng XHCN, có thể nói hoạt động thương mại hàng hóa đã được mở rộng,
không chỉ giới hạn là các giao dịch mua bán hàng hóa của các Doanh nghiệp nhà
nước theo cơ chế tập trung bao cấp mà được mở rộng ra các chủ thể có tư cách
pháp nhân khác với nhiều loại hình hoạt động đa dạng hơn như: môi giới thương
mại, ủy thác mua bán xuất khẩu, nhập khẩu ; đại lý mua bán hàng hóa...
Với nhu cầu phát triển hơn nữa nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
mở rộng giao lưu thương mại với nước ngoài, bên cạnh việc ban hành các đạo
luật như: Luật Công ty 1990 (Luật Doanh nghiệp 1999), Luật Doanh nghiệp
nhà nước 2003, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 2000…, Luật Thương
mại 1997 cũng được ra đời. Việc ban hành đạo luật này được coi là cơ sở
pháp lý quan trọng để xác định địa vị pháp lý của thương nhân, định hướng
hoạt động thương mại, trong đó có thương mại hàng hóa phát triển theo đúng
quy luật và góp phần tạo điều kiện, thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển
đặc biệt trong quá trình tự do hóa thương mại. Để đáp ứng sự phát triển của hoạt
động thương mại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng đến tháng sáu năm
2005 Quốc hội Khóa XI - Kỳ họp thứ 7 đã ban hành Luật Thương mại năm
2005.
9
Với mục đích tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa, nhìn ở tầm vĩ
mô, pháp luật thương mại hàng hóa là cơ sở pháp lý cho việc phát triển nền
kinh tế thị trường, đặc biệt có vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi các
nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường.
Thứ hai, pháp luật thương mại hàng hóa đã tạo ra hành lang pháp lý,
định hướng cho các quan hệ thương mại hàng hóa phát triển ổn định và đúng
quy luật
Có thể nói, hoạt động thương mại hàng hóa trong thời kỳ đầu đã phát
sinh và phát triển theo hướng tự phát, các thương nhân chủ yếu hướng hành vi
của mình vào lợi nhuận cá nhân. Khi hoạt động thương mại hàng hóa phát
triển thêm một bước nữa, các thương nhân đã mở rộng phạm vi hoạt động của
mình một cách đa dạng và phong phú, không chỉ giới hạn ở việc mua bán
hàng hóa thuần túy, mà nhiều loại hình trung gian thương mại hàng hóa đã
được ra đời như đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, đại lý mua
bán hàng hóa, ủy thác mua bán hàng hóa... nhằm hỗ trợ, thúc đẩy giao lưu
thương mại hàng hóa phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển của thương
mại hàng hóa, một số hiện tượng cũng đã nảy sinh trong xã hội làm đảo lộn
trật tự các quan hệ thương mại, chẳng hạn như hiện tượng đầu cơ hàng hóa,
cạnh tranh không lành mạnh, độc quyền, bán phá giá, buôn bán hàng giả, trốn
thuế... Trên thực tế, các hiện tượng này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi
không chỉ của các thương nhân tiến hành các giao dịch thương mại hàng hóa
mà còn làm ảnh hưởng đến hoạt động của một chuỗi các chủ thể khác, bao
gồm các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, người tiêu dùng và ở mức độ khái quát
đã gây ra ảnh hưởng xấu cho hoạt động thương mại hàng hóa nói riêng và nền
kinh tế nói chung. Trong bối cảnh đó, pháp luật thương mại hàng hóa đã có
vai trò tích cực nhằm điều chỉnh các quan hệ này theo một trật tự nhất định,
11
tính khách quan này, mỗi quốc gia phải sử dụng pháp luật thương mại hàng
hóa của mình, cùng với việc tham gia các điều ước thương mại quốc tế như là
công cụ pháp lý quan trọng thể hiện định hướng hội nhập.
Tóm lại, pháp luật thương mại hàng hóa đóng vai trò quan trọng trong
việc tạo ra hành lang pháp lý, định hướng cho các quan hệ thương mại hàng
hóa phát triển ổn định và đúng quy luật.
Thứ ba, pháp luật thương mại hàng hóa có vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy sự phát triển hoạt động thương mại hàng hóa nói riêng và nền
kinh tế nói chung
Phát triển thương mại hàng hóa là nhu cầu tất yếu của bất cứ xã hội
nào. Có thể nói, những nước phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường,
thương mại hàng hóa là yếu tố rất quan trọng. Pháp luật thương mại hàng hóa ở
những nước này đã được ra đời khá sớm không những là cơ sở pháp lý định
hướng cho hoạt động thương mại hàng hóa mà còn là nhân tố quan trọng thúc
đẩy sự phát triển. Đối với những nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, yêu cầu đặt ra đối với việc
phát triển thương mại hàng hóa cũng rất quan trọng, trong đó pháp luật
thương mại hàng hóa đã là nhân tố trọng yếu cho sự chuyển đổi này. Đặc biệt
ngày nay với sự giao lưu các nước trên thế giới ngày càng mở rộng theo xu
hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, sự hình thành, tồn tại
và phát triển của các tổ chức khu vực và các công ty đa quốc gia trong mấy
thập kỷ qua đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử phát triển của
nền kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh đó, các nước trên thế giới không chỉ bó
hẹp hoạt động thương mại hàng hóa của mình trong phạm vi quốc gia mà còn
phải tham gia vào khu vực và thế giới nhằm tận dụng mọi lợi thế so sánh. Sự
12
Việt Nam thông qua việc xem xét chúng ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh nền kinh tế
chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Đặc thù này đã chỉ ra mức độ cải cách của hệ thống pháp luật nói chung
cũng như yêu cầu, mức độ hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại nói riêng,
trong đó có thương mại hàng hóa nhằm đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế
quốc tế.
Quan điểm "đổi mới" của Đảng được khởi xướng từ những năm 1986,
theo đó nền kinh tế đã dần được chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang
cơ chế thị trường và chính sự chuyển đổi này đã tạo ra một thị trường thương
mại trong nước phát triển sống động từ trạng thái chia cắt, khép kín kiểu "tự
cung tự cấp" sang tự do lưu thông theo quy luật của nền kinh tế thị trường.
Tuy vậy, có thể nói trong những năm qua, dấu ấn của một nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung cao độ vẫn chưa hoàn toàn được xóa bỏ trong hệ thống pháp
luật thương mại, trong đó có thương mại hàng hóa và việc phát triển nền kinh
tế thị trường theo quy luật kinh tế thị trường vẫn chưa thực sự được xác lập ổn
định trong hệ thống pháp luật này. Từ đó đặt ra vấn đề: các chính sách, thể chế
pháp luật được xây dựng và ban hành cần phải quán triệt phương châm nhằm tự
do hóa thương mại thông qua việc xây dựng hàng loạt các chế định pháp lý về
đa dạng hóa các loại hình kinh doanh, mở rộng phạm vi các chủ thể trong hoạt
động kinh doanh và đảm bảo các quyền tự do kinh doanh. Đây là cơ sở pháp lý
quan trọng không chỉ phục vụ cho việc xây dựng một nền kinh tế theo quy luật
thị trường mà còn là cơ sở cho việc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong đó
thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Đặc thù này đã đặt ra yêu
cầu hoàn thiện pháp luật thương mại nói chung, pháp luật thương mại hàng
14
Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được tiến hành trong bối
cảnh hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật thương mại nói riêng còn nhiều
hạn chế, bất cập.
Những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật thương mại, trong đó có
thương mại hàng hóa được thể hiện ở các khía cạnh cơ bản sau:
- Về tính toàn diện: Hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, trong đó
có pháp luật thương mại chưa tạo ra sự đồng bộ, chưa phản ánh đầy đủ cơ sở
pháp lý cho việc phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập. Trên thực tế, rất
nhiều quan hệ thương mại đã phát sinh và tồn tại song không được điều chỉnh
trong các văn bản quy phạm pháp luật.
- Về tính đồng bộ: Hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật
thương mại nói riêng còn thiếu tính đồng bộ, thiếu tính hệ thống, dẫn tới việc
áp dụng pháp luật bị chia cắt. Đặc biệt là các quy định liên quan đến phát triển
nền kinh tế hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế còn tản mạn, chưa nhất quán.
- Về tính khả thi và hiệu lực thi hành: Nhiều quy định pháp luật, trong
đó có pháp luật thương mại còn thiếu tính rõ ràng; định hướng về hội nhập
khu vực và quốc tế chủ yếu chỉ dừng lại ở chủ trương, chính sách mà chưa
được thể chế hóa một cách đầy đủ trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Nhiều quy định của pháp luật thương mại, trong đó có thương mại hàng hóa
chưa phù hợp với các quy định và tập quán thương mại quốc tế.
- Về tính minh bạch: Nhiều quy định pháp luật, trong đó có pháp luật
thương mại được quy định trong các văn bản có tính hiệu lực pháp lý thấp.
Trong nhiều trường hợp các quy định này của pháp luật không rõ ràng dẫn
đến việc hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau.
Xuất phát từ những bất cập, yếu kém nói trên của hệ thống pháp
luật, trong đó có pháp luật thương mại, yêu cầu đặt ra là, việc hoàn thiện
pháp luật thương mại phải được đặt trong tổng thể mối quan hệ với việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, trong đó vai trò của pháp luật
17
b. Nhu cầu khách quan của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật
thương mại hàng hóa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Với tư cách là một bộ phận thuộc thượng tầng kiến trúc, bị quyết định
bởi các điều kiện vật chất của hạ tầng cơ sở và chịu sự chi phối của các điều
kiện xã hội khác, pháp luật luôn thực hiện vai trò là công cụ hữu hiệu của Nhà
nước trong việc quản lý và điều tiết các quan hệ xã hội. Mặt khác, cũng như
mọi hiện tượng của đời sống xã hội, pháp luật luôn được xây dựng và ban hành
trong khi các quan hệ xã hội ngày càng vận động và biến đổi, đặc biệt trong
điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế.
Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật thương mại nói riêng,
trong đó có pháp luật thương mại hàng hóa được xem như một quá trình tất yếu.
Ở Việt Nam, việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường
đã đánh dấu sự thay đổi lớn lao trong hoạt động lập pháp và nhờ đó hệ thống
pháp luật, trong đó có pháp luật thương mại đã ngày càng được đổi mới và hoàn
thiện. Ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, cùng với xu thế toàn cầu hóa trong lĩnh vực kinh tế thương mại, hợp tác
quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế lại đặt ra yêu cầu bức xúc hoàn thiện pháp
luật thương mại, trong đó có thương mại hàng hóa phù hợp với việc phát triển
nền kinh tế trong thời kỳ đổi mới và phù hợp với tiến trình của hội nhập.
Ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo ra những điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển các quan hệ thương mại. Xu thế các quan hệ thương
mại đang ngày càng trở nên sâu rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi một
nước mà được mở rộng trên phạm vi khu vực và quốc tế, điều đó cũng kéo
theo pháp luật thương mại của mỗi quốc gia phải tự hoàn thiện phù hợp với
xu thế hội nhập đó.
Nội hàm của hoạt động thương mại nói chung, thương mại hàng hóa
nói riêng cũng ngày càng được mở rộng theo xu hướng hội nhập này, nó
19
chủ thể kinh doanh nói riêng và nền kinh tế nói chung. Đơn cử như việc đầu cơ
hàng hóa, bán phá giá, cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế...
Nếu không có sự điều chỉnh của pháp luật, trong nhiều trường hợp có thể đẩy
mậu dịch thế giới vào tình trạng rối ren, gây thiệt hại cho người sản xuất và
người tiêu dùng, cho các nhà kinh doanh quốc tế, thậm chí cho cả các quốc gia.
Bên cạnh đó, những vướng mắc, tranh chấp phát sinh không được giải quyết
cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới các quan hệ thương mại quốc gia và thậm chí
cả quan hệ thương mại quốc tế, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc từ
ngày càng trở nên sâu rộng.
Hơn nữa, trong quan hệ thương mại, việc tạo ra "sân chơi" bình đẳng cho
các thương nhân là yếu tố rất quan trọng. Đặc biệt là khi tham gia vào quan hệ
thương mại quốc tế trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới, địa vị pháp
lý của các chủ thể tham gia là không hoàn toàn giống nhau. Đối với các quốc
gia, có các quốc gia phát triển, có quốc gia đang phát triển; đối với các thương
nhân, có các thương nhân nhiều tiềm lực, có những thương nhân ít tiềm lực. Do
vậy, vai trò của pháp luật là phải tạo ra sự bình đẳng cho tất cả các chủ thể tham
gia vào hoạt động thương mại, hạn chế những xung đột, tranh chấp phát sinh,
gây trở ngại đối với sự tồn tại và phát triển của các quan hệ thương mại quốc
tế..
Với ý nghĩa này, pháp luật thương mại nói chung, thương mại hàng hóa
nói riêng của mỗi quốc gia luôn luôn phải được hoàn thiện cùng với việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật trong nước, đồng thời phải được sửa đổi, bổ sung
thông qua việc tham gia, ký kết các điều ước thương mại quốc tế trong quá
trình hội nhập khu vực và thế giới.
Thứ hai, tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là nhu cầu tất
yếu khách quan của mỗi quốc gia.
Dưới góc độ pháp lý, hội nhập kinh tế quốc tế thực chất là quá trình tất
21
nội dung của tự do hóa thương mại, điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế
trong điều kiện tự do hóa thương mại . Trên cơ sở các điều ước quốc tế đó,
các quốc gia phải điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản
pháp luật thương mại trong nước nhằm đáp ứng xu thế tự do hóa thương mại,
tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, có thể nói, thực chất của hội nhập
kinh tế quốc tế, về mặt pháp lý, là việc gia nhập các điều ước quốc tế và tiếp
tục đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế mới.
Như vậy, hoàn thiện pháp luật thương mại, trong đó có thương mại
hàng hóa xuất phát từ bản thân sự phát triển của các quan hệ thương mại hàng
hóa và xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia.
2. Phương hướng cơ bản tiếp tục hoàn thiện pháp luật thương mại
hàng hóa trong bối cảnh Hội nhập kinh tế quốc tế
a. Quán triệt phương châm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời đường lối,
chính sách của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế
Công cuộc đổi mới được Đại hội lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng đã mở đường cho sự chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
XHCN. Song song với sự đổi mới về chiến lược kinh tế xã hội trong nước là
sự chuyển hướng chiến lược chính trị và kinh tế đối ngoại. Đặc biệt từ Đại hội
VII, đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ trương hội
nhập kinh tế quốc tế đã được xác định ở một bước phát triển mới. Nội dung
chủ yếu của hội nhập kinh tế quốc tế được Đại hội VII khẳng định ở việc "gắn
thị trường trong nước với thị trường thế giới, giải quyết tốt mối quan hệ giữa
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có chính sách bảo vệ sản xuất nội địa".
Cùng với sự phát triển của quá trình hội nhập nền kinh tế Việt Nam với kinh
tế khu vực và thế giới, chủ trương chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về hội nhập
23
đổi mới, nền kinh tế của Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc. Tuy vậy, cho
đến nay, cơ chế thị trường vẫn chưa hoàn toàn được vận hành trôi chảy, nhiều
dấu ấn của cơ chế tập trung bao cấp vẫn còn tồn tại, trong khi yêu cầu đặt ra ở
Việt Nam là, hội nhập kinh tế quốc tế đồng thời với việc xây dựng một nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do vậy, cả về chủ trương và thể chế
cần tạo ra những thiết chế pháp lý để xây dựng một hệ thống pháp luật thương
mại, trong đó pháp luật thương mại hàng hóa đáp ứng được sự phát triển của
nền kinh tế thị trường XHCN đồng thời thích ứng được với yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế.
Hai là, xây dựng pháp luật thương mại, trong đó có thương mại hàng
hóa phù hợp với thông lệ chung của quốc tế nhưng vẫn đảm bảo tính định
hướng XHCN của Việt Nam.
Định hướng XHCN nhằm đảm bảo thiết lập một môi trường pháp lý bình
đẳng trong hoạt động thương mại của các chủ thể kinh doanh nói chung, các
doanh nghiệp thương mại nói riêng, nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và hạn
chế tối đa tình trạng độc quyền của các Doanh nghiệp nhà nước trong hoạt
động thương mại.
Bình đẳng trong hoạt động thương mại hàng hóa là bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh do pháp luật quy định. Tuy nhiên,
xuất phát từ tính chất sở hữu, vị trí, vai trò của các chủ thể, tính chất nội dung
của ngành nghề kinh doanh, dẫn đến pháp luật có những quy định khác nhau
về địa vị pháp lý của các chủ thể đó. Bình đẳng giữa các thương nhân là Doanh
nghiệp nhà nước với các loại hình thương nhân khác được hiểu là sự bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định trong các điều kiện nhất định. Vấn
đề là, trong khi xác định vai trò chủ đạo của Doanh nghiệp nhà nước trong
hoạt động thương mại thì đồng thời cũng phải tạo ra một cơ chế pháp lý cho
24
25
Ba là, hoàn thiện pháp luật thương mại hàng hóa trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế song không vì lợi ích trước mắt, cục bộ mà bỏ qua lợi ích lâu
dài, chiến lược của đất nước.
Xuất phát từ đòi hỏi này, pháp luật thương mại hàng hóa cần có cách
tiếp cận theo hướng tạo ra cơ sở pháp lý đảm bảo môi trường hoạt động
thương mại một cách lành mạnh, nâng cao không ngừng khả năng cạnh
tranh của các chủ thể kinh doanh, mở rộng quyền kinh doanh hướng tới thị
trường ngoài nước.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống pháp luật nói chung,
pháp luật thương mại nói riêng, trong đó có thương mại hàng hóa cần thể chế
hóa chiến lược phát triển nền kinh tế trong từng giai đoạn, đối với từng thị
trường, từng tập đoàn kinh tế để khai thác những mặt lợi, tranh thủ những cơ
hội, thời cơ và hạn chế tối đa những mặt tiêu cực. Song bên cạnh đó, pháp
luật thương mại cũng cần được xây dựng và phản ánh lộ trình hội nhập, mở
cửa thị trường của Việt Nam và đặc biệt "hài hòa hóa" chính sách hội nhập
khu vực và hội nhập toàn cầu. Pháp luật thương mại, trong đó có thương mại
hàng hóa phải phản ánh được lộ trình mở cửa một cách đồng bộ và thể chế
hóa được tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và điều chỉnh cơ chế chính
sách trong từng giai đoạn đối với việc hội nhập ASEAN/AFTA, APEC, WTO.
Liên quan tới vấn đề này, hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật thương mại
nói riêng cần phải có biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc mở
rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, cơ chế tín dụng tài trợ các nhà xuất
khẩu, bảo hiểm xuất khẩu… cũng như áp dụng các biện pháp thuế quan nhằm
bảo hộ sản xuất trong nước theo lộ trình thích hợp với ý nghĩa là động lực cho
sự phát triển nền kinh tế.
b. Bảo đảm tính thống nhất và sự phù hợp giữa pháp luật thương mại,
trong đó có thương mại hàng hóa với hệ thống pháp luật nói chung