MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mỗi quốc gia đều có những nét văn hóa đặc sắc tạo dấu ấn riêng cho
quốc gia dân tộc đó. Ở Nhật Bản, văn hóa với bản sắc riêng rất đậm nét có vai
trò quan trọng trong lịch sử phát triển, điều đó được biểu hiện rất rõ qua ẩm
thực, trang phục, kiến trúc… Trong số đó yếu tố trang phục truyền thống luôn
có ý nghĩa quan trọng khi nó trở thành một niềm tự hào, trở thành một biểu
tượng không thể thiếu của đất nước mặt trời mọc. Cùng với thăng trầm của
lịch sử thì trang phục truyền thống của người Nhật – Kimono đã đứng vững
cùng thời gian để trở thành quốc phục của Nhật Bản, thể hiện văn hóa của cả
một quốc gia.
Kimono mang ý nghĩa khá đặc biệt bởi nó là đối tượng tạo tính thống
nhất về văn hóa Nhật Bản, nó là nhịp cầu duy hợp các sắc thái trong văn hóa
vì Kimono không theo kích cỡ cụ thể vậy nên nó xóa bỏ mọi khác biệt về hình
thể, về đẳng cấp..để hướng tới sự bình đẳng, ngoài ra nó còn thể hiện cách
sống đặc trưng của người Nhật – tỉ mỉ, thể hiện năng khiếu thẩm mỹ…
Kimono không đơn thuần chỉ là trang phục truyền thống mà còn được xem là
một tác phẩm nghệ thuật.
Qua quá trình lịch sử giao lưu tiếp biến bạn bè thế giới biết đến Kimono
– nét dặc trưng riêng của đất nước Nhật Bản. Trong quá trình đó yếu tố truyền
thống của nó luôn được lưu giữ, phát triển, song không phải bất biến bởi đó là
quy luật khách quan. Điều kiện kinh tế, chính trị-xã hội, giao lưu văn hóa,
phát triển khoa học-kỹ thuật và nhận thức của con người
đã dẫn đến những biến đổi theo dòng lịch sử. Vì vậy từ xuất phát ban đầu
chỉ mang nghĩa là quần áo qua thời gian người Nhật bắt đầu quan tâm đến
việc cải biến, phối hợp những bộ Kimono và họ đã phát triển một độ nhạy cao
1
hơn cho màu sắc. Điển hình, sự kết hợp màu sắc thể hiện màu theo mùa, từng
2
Trang phục truyền thống Nhật Bản với lịch sử hình thành và phát triển
của nó, sự ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa của họ.
3.2. Phạm vi
Phạm vi nghiên cứu là nét đặc trưng của trang phục truyền thống Nhật
Bản dưới góc nhìn văn hóa.
3.3. Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
…để giải quyết vấn đề của đề tài.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì mọi quốc gia đều có những thời
cơ nhất định nhưng bên cạnh đó cũng có không ít những thách thức, một
trong số đó là sự hòa tan, đồng hóa văn hóa. Nó có thể làm biến đổi những giá
trị truyền thống và những nếp sống văn hóa cũng diễn ra ngày một phức tạp.
Vì thế mà những giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia có khả năng sẽ
bị mai một, điển hình như trang phục truyền thống. Vậy nên Nhật Bản khá
quan tâm đến vấn đề nay.
Trong bối cảnh đó đòi hỏi mỗi quốc gia phải có sự nhìn nhận đúng đắn,
kịp thời để đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy giá trị tốt đẹp của
trang phục truyền thống, cũng như tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa
nhân loại, ở Nhật họ đưa ra những chích sách bảo tồn khá hay mà một số
nước châu Á có thể học hỏi. Đây cũng là mục đích mà đề tài nghiên cứu
hướng đến trong quá trình thực hiện.
4.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên đề tài có nhiệm vụ:
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
VĂN HÓA TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG
VÀ LỊCH SỬ CỦA KIMONO
1.1Một số khái niệm về văn hóa truyền thống
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một lĩnh vực rất rộng bao gồm nhiều yếu tố liên quan đến
hoạt động của con người, chính vì vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về
văn hóa. Trên Thế giới có đến hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Thuật ngữ văn hóa xuất hiện trong ngôn ngữ nhân loại từ rất sớm. Ngay
từ thời La Mã cổ đại trong tiếng Latinh đã xuất hiện từ “văn hóa” (cultura).
Từ “văn hóa” lúc đầu có nghĩa là vỡ đất, cày cấy, vun trồng trong nông
nghiệp, sau chuyển nghĩa sang vun trồng trí tuệ, vun trồng tinh thần, giáo dục
con người.
Theo định nghĩa của từ Hán – Việt “văn hóa” có nghĩa là “văn trị giáo
hóa”, tức là phải giáo dục cảm hóa con người để có thể quản lý, điều hành xã
hội bằng “văn”. Thông qua nhân nghĩa, nhân văn, coi trọng giáo dục để bình
ổn xã hội. Văn hóa trong từ nguyên của cả phương Tây và phương Đông đều
có chung một nghĩa là giáo hóa, vun trồng nhân cách con người, làm cho con
người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Trong từ điển triết học định nghĩa “văn hóa là toàn bộ những giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội – lịch
sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội.”.. Tuy
nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính tương đối bởi vì trong văn hóa vật
chất vẫn có văn hóa tinh thần và ngược lại.
Chúng ta cũng có thể hiểu “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo phát triển (ở đó con người vừa là chủ thể vừa
5
6
khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không
gian và được cố định hóa dưới dạng phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư
luận…”
Một khái niệm khác “Nền văn hóa được truyền lại gọi là văn hóa truyền
thống. Như vậy nó phản ánh được những thành tựu con người tích tập được
trong quá trình tìm hiểu, thực hiện và truyền bá ý nghĩa sâu lắng nhất của
cuộc sống. Đó chính là truyền thống theo nghĩa hài hòa của nó như là một
hiện thân của trí tuệ”
Như vậy có thể khái quát văn hóa truyền thống bằng những tính chất cơ
bản sau:
- Tính giá trị
- Tính lưu truyền
- Tính ổn định
1.1.3 Khái niệm trang phục truyền thống
- Trang phục:
Trang phục (y phục) là những đồ để mặc như quần, áo, váy... để đội như
mũ, khăn... để đi như giầy, dép, ủng... Ngoài ra trang phục có thể thêm thắt
lưng, găng tay, đồ trang sức…Chức năng của trang phục là để bảo vệ thân thể,
khiếu thẩm mỹ, làm đẹp cho con người.
- Trang phục truyền thống:
Trang phục truyền thống là quần áo đặc trưng riêng của một quốc gia,
một dân tộc, một địa phương hay có quan hệ gần gũi với các vùng địa lý
hoặc có khi là một thời kỳ lịch sử nào đó.
1.2 Lịch sử hình thành của Kimono
Mọi người hầu hết đều biết Kimono là trang phục truyền thống của Nhật
Bản, nhưng mấy ai biết rằng trang phục này bắt nguồn từ Trung Quốc từ
chiến trường sặc sỡ như một buổi trình diễn thời trang.
- Thời kỳ ở triều đại Edo (1603 – 1868):
Tộc chiến binh Tokugawa thống trị khắp Nhật Bản, đất nước bị chia cắt
thành các vùng đất phong kiến được các lãnh chúa thống trị. Các samurai của
mỗi vùng đất được nhận biết nhờ màu sắc và kiểu mẫu của đồng phục. Chúng
8
gồm có 3 phần: kimono, bộ y phục không tay mặc ngoài kimono (kamishimo)
và quần giống váy xẻ (hakama). Kamishimo làm bằng vải lanh, được hồ cứng
để làm nổi bật phần vai. Do làm nhiều y phục samurai nên tay nghề các nghệ
nhân Kimono càng ngày càng cao và biến Kimono dần trở thành một hình
thức nghệ thuật. Kimono trở nên có giá trị hơn và các bậc cha mẹ truyền lại
cho con cái họ như một vật gia truyền. Một biến đổi đáng kể đối với Kimono
thời kỳ này đó là ống tay áo được may gọn lại và sự ra đời của Obi (một khăn
rộng thắt ngang bụng), nhằm làm cho trang phục phù hợp hơn với các hoạt
động của phụ nữ Nhật.
- Thời kỳ triều đại Meiji (1868 – 1912):
Ở thời kỳ này Nhật Bản bị ảnh hưởng mạnh từ văn hóa nước ngoài.
Chính phủ khuyến khích người dân chấp nhận trang phục và tập quán
phương Tây. Nhân viên chính phủ và quân đội bị bắt buộc phải mặc trang
phục phương Tây cho các sự kiện quan trọng của chính quyền (luật này không
còn hiệu lực). Đối với công dân bình thường, khi mặc Kimono đến các sự
kiện sang trọng, Kimono phải được gắn thêm huy hiệu gia tộc để nhận biết
gia tộc người mặc. Ở thời kỳ này phụ nữ Nhật cũng bắt đầu ra ngoài làm việc
không đơn thuần chỉ ở nhà làm nội trợ nữa, vì thế trang phục của họ cũng nhẹ
nhàng hơn để thuận tiện cho công việc.
- Thời kỳ Showa (1926 – 1989):
Từ thời kỳ này thiết kế của Kimono cũng trở nên ít phức tạp hơn. Sau
thế chiến thứ II khi nền kinh tế Nhật dần được khôi phục thì Kimono bắt đầu
cho trẻ trung, màu sắc cho sinh động, tươi mới.
Cách may Kimono nữ khá đơn giản với một phương pháp duy nhất:
- Một miếng vải dài 12-13cm và rộng 36-40cm được cắt làm 8 mảnh (5
mảnh đối với Kimono nam). Những mảnh này sau đó được khâu thủ công lại
với nhau để tạo ra hình dáng cơ bản cho Kimono. Mọi đường may đều dựa
trên đường thẳng, tất cả các mảnh vải đều được dùng không có phần nào bị bỏ
đi. Vì vậy trước khi may họ cần xác định vị trí của đường chỉ may bằng các
nếp gấp dài và góc cạnh. Ngoài ra, người thợ rất chú ý đến việc thể hiện vẻ
đẹp hài hòa của hoa văn trên từng mảnh vải khi phối hợp chúng lại. Một chiếc
áo Kimono hoàn chỉnh là cả một quá trình lao động thủ công của nhiều người.
Thông thường loại vải được dùng là lụa yukata (trang phục mùa hè) làm bằng
vải cotton. Công dụng của việc may bằng 8 mảnh vải làm cho việc tách
Kimono để thay thế, sửa chữa nếu bị cũ, bạc màu, vải bị hỏng…dễ dàng
- Kimono có màu được dựa trên 2 cách:
Vải dệt từ các sợi chỉ có màu sắc khác nhau hoặc vải được nhuộm màu.
Điển hình là Oshima-tsumugi, nó được sản xuất trên đảo Amami-Oshima
ở phía nam Kyushu, đây là loại vải khỏe và bóng. Ngoài ra, còn phải kể đến
11
Yuki-tsumugi sản xuất tại thành phố Yuki, quận Irabaki, nó bền đến mức có
thể tồn tại 300 năm.
Việc nhuộm Kimono bắt đầu với vải dệt trắng mà sau đó được vẽ hoa
hay thêu họa tiết lên đó, kỹ thuật này sản xuất những loại vải đầy màu sắc.
Điển hình như Kyo-yuzen được làm ra tại thủ phủ cũ Kyoto và được nhận biết
dựa vào sự tỉ mỉ và màu sắc phóng khoáng. Ví dụ khác nữa là Kaga-yuzen
được sản xuất tại thành phố Kanazawa, nó được nhận biết bởi những hình
ảnh thiên nhiên thực tế. Lợi thế của vải dệt bằng chỉ màu là nó có màu
đều 2 mặt nên nếu mặt trước của vải bị bạc màu có thể lật sang mặt kia để
được quấn hai vòng quanh thắt lưng rồi được nhét vào phía trong. Phần nơ có
một cái móc gắn để gắn vào Obi.
Kaku và Heko bi dành cho Kimono của nam. Kaku là obi dành cho các
bộ Kimono nam thông thường, được may bằng vải cotton cứng, có chiều dài
3,5 inch, rộng khoảng 9cm. Heko là Obi làm từ các chất liệu mềm hơn và
thường sử dụng vải lụa nhuộm. Nó được dành cho các bộ Yutaka.
- Taiko-musubi: Một dạng thắt lưng khác được phát minh từ thời Edo
cũng được sử dụng như Obi và rất được ưa chuộng.
- Dây cài lưng: Vào thời đại Meiji người Nhật chế tạo ra 1 vật gọi là dây
cài lưng (obi-jime và obi-age).
Việc sử dụng những dây cài này với nhiều loại kiểu dáng và màu sắc
khác nhau đã trở thành một cách để chứng tỏ gu thời trang của người Nhật.
- Trâm cài đầu: Vật này dành riêng cho phụ nữ. Thời xưa mỗi khi
mặc áo Kimono phụ nữ Nhật thường tô điểm cho mái tóc của mình bằng
những chiếc trâm này. Ngày nay bạn có thể thay thế chiếc trâm bằng nơ,
dây buộc tóc…
- Guốc gỗ: Guốc gỗ được sử dụng rất phổ biến tại Nhật cách đây
một thế kỷ, guốc của đàn ông thường to, có góc cạnh và thấp, guốc của
phụ nữ thì ngược lại, tức là nhỏ nhắn và tròn. Thời xưa, người Nhật
không đóng guốc mà họ “đẽo” guốc tức là họ sử dụng những khúc gỗ to
để gọt đẽo thành guốc mộc.
13
Những vật dụng cần thiết khác dùng với Kimono gồm Han’eri và Tabi
(tất xỏ ngón đi với dép zori). Những vật dụng này có màu trắng hoàn toàn để
tôn lên màu sắc của Kimono. Phụ nữ mặc kimono thường cầm theo cây
dù trúc truyền thống.
2.1.3 Chi phí
chẳng thể thiếu yếu tố nào.
2.2 Những sự kiện mặc Kimono và các loại Kimono phổ biến
2.2.1 Những sự kiện mặc Kimono
Người dân Nhật vốn rất nặng về văn hóa truyền thống cũng như coi
trọng các phong tục lễ nghi. Với họ Kimono là loại tran phục quan trọng và
không thể thiếu số một. Họ diện Kimono với niềm yêu thích, trên hết là tự
hào, lòng tôn kính. Ngày nay họ ít mặc Kimono trong hàng ngày nhưng một
số dịp lễ quan trọng thì Kimono là sự lựa chọn ưu tiên hàng đầu. Thường
trong những sự kiện đặc biệt được tổ chức để đánh dấu các cột mốc trong
cuộc đời của mỗi người dân Nhật từ khi sinh ra đến khi trưởng thành rồi đến
khi về cõi vĩnh hằng, người ta luôn thay đổi những bộ Kimono cho phù hợp
với từng sự kiện và cả thời tiết bởi họ cực kỳ nhạy bén với thời tiết 4 mùa.
- Các sự kiện mặc Kimono của một đứa trẻ :
Trong khoảng 30-100 ngày sau khi đứa trẻ được sinh ra ông bà, cha mẹ,
anh chị em đến miếu thờ cùng nhau để báo cáo về sự ra đời của đứa trẻ. Đứa
trẻ được mặc một bộ Kimono trắng bên trong, bên ngoài bộ Kimono đó đứa
trẻ mặc một bộ Kimono được nhuộm yuzen nếu đó là con gái hoặc một bộ
Kimono đen được đính huy hiệu gia tộc nếu đó là con trai.
Một dịp khác mà trẻ em Nhật không thể không mặc Kimono là lễ hội
Shichigosan – nghĩa là “bảy, năm, ba” được tổ chức vào ngày 15/11 hàng
năm. Lễ hội này là dành cho những trẻ em tuổi ba, năm, bảy; vào dịp này trẻ
em Nhật ở tuổi này sẽ mặc Kimono và được bố mẹ đưa đi cầu nguyện ở các
nhà thờ đạo Shinto để cám ơn chúa đã giữ cho con họ khỏe mạnh và chóng
lớn. Bé gái mặc Kimono màu mè, tóc buộc cao, trong khi các bé trai chỉ mặc
kuro-montsuki.
15
- Khi ở tuổi trưởng thành:
tùy theo thời tiết, mùa, theo hình dạng cánh áo, theo sự trưởng thành về độ
tuổi, tình trạng hôn nhân, theo tính chất buổi lễ tham dự và cả sự phân hóa
giàu nghèo kinh tế…mà người ta có thể nhận diện được Kimono cho đúng
hoàn cảnh, đúng tính tương xứng.
- Furisode:
Là loại Kimono chỉ dành cho các cô gái độc thân, thường có màu sắc
tươi sáng và làm bằng loại lụa tốt. Điểm đặc biệt của Furisode là tay áo rất dài
và rộng, thời xưa các cô gái thường bày tỏ tình yêu với các chàng trai bằng
cách vẫy vẫy ống tay áo. Ngày nay, Furisode thường được mặc trong các ngày
lễ lớn như mừng năm mới, lễ trưởng thành, dự đám cưới hay tham gia một
buổi tiệc trà.
Khi một cô gái Nhật bước sang tuổi 20 cô ấy sẽ được công nhận là một
người trưởng thành. Rất nhiều cha mẹ mua Furisode cho con gái họ để kỉ
niệm bước ngoặt trọng đại này. Trong xã hội của Nhật mặc Furisode là một
tuyên bố rõ ràng rằng đó là một cô gái độc thân đã sẵn sàng để kết hôn. Giá
của một Furisode tùy vào chất liệu vải, kiểu dáng và tay nghề người may. Một
chiếc này thường có giá là 15.000 USD.
- Yukata:
Là loại Kimono làm bằng cotton bình thường, dùng để mặc mùa hè,
thường mang màu sắc cực kỳ sáng. Cách thiết kế đơn giản để các cô gái Nhật
có thể mặc mà không cần sự giúp đỡ (sau vài lần tập). Ngày nay Yukata
thường được mặc trong ngày Bon-Odori (ngày hội nhảy truyền thống của
Nhật) và các cuộc hội hè. Yukata được ưa chuộng bởi chất vải cotton nhẹ
nhàng, vải đã được cách điệu đi từ mẫu vải có kẻ sọc ngang truyền thống.
Chiếc thắt lưng cotton của Yukata cũng tiện cho ngày thường và đồ mặc ban
đêm. Thông thường Yukata được mặc với một thắt lưng Obi (thắt lưng thêu)
đi cùng với đôi xăng đan gỗ và một chiếc ví.
17
trong các buổi tiệc tùng trà đạo, cắm hoa và đám cưới của bạn bè.
18
- Tsumugi:
Dành cho tầng lớp nông dân và thường dân, mặc trong những dịp bình
thường được trang trí bởi các họa tiết sáng và rõ ràng.
2.3 Những điều thú vị xoay quanh Kimono
Trải qua chiều dài lịch sử xuất hiện và tồn tại cho đến ngày nay Kimono
đã trở thành một biểu tượng không thể thiếu của xứ sở Phù Tang. Từ già tới
trẻ, cả nam lẫn nữ đều tự hào khi nói về Kimono.
Câu hỏi đặt ra là tại sao người Nhật lại mê mẩn Kimono đến vậy? Liệu
nó có sức hút gì bên trong để chúng ta khám phá. Mà đó cũng là những lý do
tạo nên đặc trưng riêng cho Kimono:
- Điểm đầu tiên khiến trang phục Kimono trở nên đặc biệt đó là ở đó có
sự giao thoa hài hòa của vạn vật trời đất. Trên vải may Kimono người ta thấy
rất nhiều các họa tiết hoa lá, cây cối và một số biểu tượng thiên nhiên, điều đó
phản ánh tình yêu thiên nhiên mãnh liệt của con người xứ Phù Tang.
- Màu sắc, họa tiết trên mỗi chiếc Kimono đều được dệt từ các sợi chỉ
có màu sắc khác nhau hoặc vải dệt được nhuộm màu. Có những chiếc kimono
bền đến nỗi nó vẫn có thể tồn tại sau hơn 300 năm.
- Mỗi bộ Kimono đều được làm thủ công và mang tính đơn chiếc. Nó
được coi như một tác phẩm nghệ thuật công phu, tỉ mẩn từ khâu chọn vải, kết
hợp màu sắc, trang trí hoa văn, lựa chọn các phụ kiện đi cùng.
- Thiết kế của bộ Kimono cũng hết sức đặc biệt và độc đáo chỉ có một
cỡ duy nhất, gồm 8 mảnh vải ghép lại với nhau cho phép điều chỉnh kích cỡ
phù hợp với người mặc.
- Kimono được đanh cho cả nữ và nam, Kimono của nam có vành khăn
đơn giản và hẹp hơn. Áo của nữ thường có nhiều hoa văn họa tiết màu sắc
thuần chỉ là trang phục đối với người dân Nhật Bản nữa mà còn là nét đẹp
truyền thống đáng tự hào, là một yếu tố tinh hoa trân quý của dân tộc, có tầm
ảnh hưởng quan trọng trong đời sống văn hóa của xứ sở Phù Tang.
20
CHƯƠNG III:CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN
TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG Ở NHẬT BẢN,
KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
3.1 Chính sách bảo tồn, phát triển trang phục truyền thống
3.1.1 Những biến đổi về trang phục
Những thay đổi về kinh tế - xã hội và văn hóa mà cụ thể là nguồn
nguyên liệu (từ sợi dây leo đến sợi bông, tơ tằm rồi sợi nhân tạo), kỹ thuật (từ
dệt thủ công đến dệt máy bán tự động rồi tự động), quá trình giao lưu, ảnh
hưởng trong và nước ngoài v.v... là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự
thay đổi của trang phục nói chung.
Những thay đổi về trang phục như kiểu dáng, chất liệu, kỹ thuật may
cắt... cũng tác động đến các khía cạnh khác như đồ đội đầu, kiểu tóc và bảo
quản trang phục, nền công nghiệp máy móc phát triển tạo ra hệ thống dệt may
công nghiệp cũng làm mai một nghề dệt thủ công.
Sự phát triển kinh tế cũng làm phong phú, đa dạng đồ trang sức, đồ mỹ
phẩm cho trang điểm (son, phấn, kem dưỡng da, xà phòng thơm, dầu thực vật
bôi tóc, da v.v...) và bảo quản trang phục (các loại xà phòng giặt) đã tác động
không nhỏ đến sự biến đổi của trang phục nhất là từ sau năm 1945.
Nhưng nhìn chung trang phục truyền thống trong những dịp đặc biệt (lễ
hội, cưới xin, lễ chúc mừng, Tết), chỉ thay đổi về tiểu tiết còn hầu như vẫn
duy trì, bảo lưu yếu tố truyền thống từ xưa.
Cũng vì vậy, mà Nhật Bản đã đưa ra một số chính sách bảo tồn và phát
triển trang phục đặc biệt là trang phục truyền thống ở đất nước của họ.
phương đảm nhiệm.
Theo qui định, chính quyền địa phương (thị trưởng) cần bảo lãnh cho
sản phẩm ở giai đoạn xét duyệt. Căn cứ vào kế hoạch phát triển và chính sách
hỗ trợ, các chương trình trợ giúp cụ thể sẽ được áp dụng bằng nhiều biện pháp
như: hỗ trợ kinh phí, bảo đảm vốn và chính sách thuế... đối với quá trình đào
tạo thế hệ kế nghiệp và khai thác nhu cầu, đặc biệt là đối với những công việc
22
như: ghi chép, thu thập tài liệu, lưu giữ sản phẩm... về các kỹ thuật có tính thủ
công truyền thống.
Thực hiện nghiên cứu, điều tra cần thiết để bảo đảm nguồn nguyên liệu
cho sản xuất; công tác “công khai kỹ thuật thủ công”, khai thác nhu cầu như:
mở triển lãm, trưng bày, tham gia hội chợ, xây dựng trung tâm nghiên cứu,
thiết kế mẫu mã... và công việc phát triển những ý tưởng mới. Song song với
đó là việc trợ giúp cho hoạt động của các cơ sở có liên quan đến nghề dệt,
nhuộm trang phục truyền thống như các hội, trung tâm giao lưu đào tạo nguồn
nhân lực. Đây là những địa điểm liên lạc mật thiết giữa các nghệ nhân và
những người làm công tác nghiên cứu, một mặt hỗ trợ cho việc trau dồi kỹ
thuật, mặt khác là nơi truyền dạy nghề, hoạch định kế hoạch bảo tồn, sử dụng
và phát triển nghề thủ công truyền thống, góp phần phát triển văn hóa, kinh tế
- xã hội.
Việc công khai hóa các kỹ thuật bí quyết trong nghề dệt, nhuộm trang
phục truyền thống ở Nhật đang được xúc tiến một cách tích cực trong bối
cảnh hiện nay. Ở nhiều nơi, việc công khai được thực hiện chủ yếu qua hình
thức trưng bày, triển lãm sản phẩm truyền thống, kinh phí từ nguồn vốn tài trợ
của Nhà nước và địa phương. Phạm vi hẹp hơn là các nhà trưng bày của tư
nhân, nghệ nhân, hội yêu thích nghề dệt, nhuộm trang phục truyền thống.
Công khai hóa là phương thức bảo tồn quan trọng ở chỗ nó gắn liền với việc
sản phẩm dệt, may ra thị trường quốc tế càng tốt, mà còn thiếu một số chính
sách khai thác thị trường trong nước, khai thác nhu cầu của chính người dân
Việt Nam.
Việt Nam cần học hỏi Nhật Bản từ bài học kinh nghiệm tăng cường
công tác nghiên cứu, liên kết cộng tác giữa các trường đại học, cơ quan
nghiên cứu với khu vực sản xuất để cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng...
qua đó, những nghệ nhân, người làm nghề dệt, nhuộm, trang phục truyền
thống có thể sống được, làm giầu bằng chính nghề của mình. Trong tình hình
qui mô sản xuất sản phẩm dệt, trang phục truyền thống tại các địa phương ở
Việt Nam còn nhỏ hẹp, manh mún như hiện nay, từ những bài học kinh
nghiệm của Nhật Bản thì trước hết, Nhà nước cần đánh giá lại một cách toàn
diện môi trường thể chế cho những khu vực sản xuất hay làng nghề liên quan
24
đến nghề dệt, nhuộm của các dân tộc ở Việt Nam hiện nay. Việc đánh giá cần
thành lập Hội đồng thẩm định nghề và sản phẩm dệt, nhuộm, trang phục
truyền thống, đồng thời khuyến khích hoạt động của các hiệp hội, nhà sưu
tầm tư nhân về nghề truyền thống này.
Nghề dệt, nhuộm và trang phục truyền thống còn ít được quan tâm
dẫn đến ở một số vùng miền, dân tộc đang bị mai một dần như hiện nay
là do Nhà nước ta chưa có luật và chính sách về việc giáo dục ý thức coi
trọng nghề và sản phẩm truyền thống. Nghề dệt và trang phục truyền
thống chưa được nhìn nhận đúng với giá trị vốn có của nó là di sản văn
hóa thể hiện cốt cách, tâm hồn dân tộc. Giải pháp cần tiến hành là đưa
nội dung giáo dục lòng tự hào và yêu mến nghề dệt, nhuộm, sản phẩm
dệt, trang phục truyền thống vào chương trình giáo dục phổ thông Việt
Nam, tuyên truyền để người dân tin dùng sản phẩm liên quan để chính
những nghệ nhân, người thợ thêm yêu mến nghề của họ.