Tiêu luận tìm hiểu để hiểu biết hơn về văn hóa công sở tiểu luận cao học - Pdf 43

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Khi chọn đề tài này, tôi nhận thấy rằng Văn hóa công sở là vấn đề cần
được quan tâm và lưu ý. Để một xã hội văn minh, giàu đẹp văn hóa cần phải
được đề cao ở mọi lúc mọi nơi và khi con người chiếm số phần trăm rất lớn
tham gia những hoạt động nơi công sở thì văn hóa công sở lại càng khẳng
định tầm quan trọng của nó. Môi trường văn hóa công sở được các nhà khoa
học môi trường cũng như các nhà văn hóa rất quan tâm. Đặc biệt là trong giai
đoạn hiện nay và nhiều năm về sau khi mà trào lưu văn hóa ngoại nhập ào ạt
tấn công vào nước ta
Qua đây tôi cũng muốn tìm hiểu kĩ hơn về vai trò của văn hóa công sở
đặc biệt là văn hóa giao tiếp nơi công sở có ảnh hưởng như nào đối với nền
văn hóa Việt Nam nói chung.
Tìm hiểu để hiểu biết hơn về Văn hóa công sở cũng là cơ sở, nền tảng
cho quá trinh làm việc sau này của mình trong môi trường công sở.
2. Tình hình nghiên cứu
Do giới hạn về số tiết nên tập đề cương bài giảng môn Văn hóa cộng
đồng không thể đề cập, phân tích rõ hơn sâu hơn về Văn hóa công sở qua các
vấn đề, khía cạnh chuyên sâu vậy nên tôi quyết định chọn đề tài này để bổ
sung chi tiết và hoàn thiện hơn..
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp luận :
- Chủ nghĩa Mác- Lê nin
- Tư tưởng Hồ Chí Minh
3.2 Phương pháp cụ thế
- Chứng minh
- Phân tích
4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Văn hóa nói chung và đặc biệt là văn hóa công sở nói riêng. Những đặc
điểm, vai trò của văn hóa nơi công sở và tầm quan trọng của nó.
1

công sở, chặt chẽ hay lỏng lẻo, đoàn kết hay cục bộ.

3


Xây dựng văn hoá công sở là xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, có
kỉ cương và dân chủ. Nó đòi hỏi các nhà lãnh đạo, quản lý cũng như các thành
viên của cơ quan phải quan tâm đến hiệu quả hoạt động chung của cơ quan
mình. Muốn như thế cán bộ phải tôn trọng kĩ luật cơ quan, phải chú ý đến
danh dự của cơ quan trong cư xử với một người, đoàn kết và hợp tác trên
những nguyên tắc chung, chống lại bệnh quan liêu, hách dịch, cơ hội.

4


CHƯƠNG II: NỘI DUNG CỦA VĂN HÓA CÔNG SỞ
1. Các yếu tố cấu thành văn hóa công sở
1.1 Các yếu tố bên trong của văn hóa công sơ
Yếu tố đầu tiên cần kể đến đó là yếu tố con người. Văn hoá công sở giống
như bất cứ loại hình văn hoá nào khác, là một loạt hành vi và qui ước mà con
người dựa vào đó để điều khiển các mối quan hệ tương tác của mình với
những người khác. Yếu tố con người ở đây là đội ngũ cán bộ, công nhân viên
chức, công chức,… Mà xoay quanh các hoạt động về văn hóa công sở thì con
người là chủ thể, những hành vi, thái độ thể hiện trình độ văn hóa đều xoay
quanh chủ thể là con người.
Thực tế đã chứng minh không thể coi nhẹ nhân tố con người trong sự
phát triển của các cơ quan, công sở. Nói đến con người chính là nói đến văn
hóa, vì toàn bộ những giá trị văn hóa làm nên những phẩm chất, năng lực và
tinh thần của con người.
Yếu tố thứ hai là về thể chế của văn hóa công sở. Các thể chế này được

Hai là, văn hóa công sở biểu hiện thông qua mức độ của bầu không khí
cởi mở trong công sở, cụ thể là thông qua tâm lý của từng cán bộ, công chức,
viên chức trong công sở, trên thực tế cho thấy, khi làm việc, nếu tinh thần thoải
mái thì làm việc rất hiệu quả, và ngược lại. Do vậy tạo bầu không khí cởi mở là
vấn đề cần được chú ý khi xây dựng văn hóa công sở.
Ba là, các chuẩn mực được đề ra thích đáng và mức độ hoàn thành công
việc theo chuẩn mực cao hay thấp. Có những cơ quan đề ra chuẩn mực quá cao
trong khi chưa có đủ điều kiện để thực hiện các chuẩn mực đó, dẫn đến mức độ
hoàn thành công việc không cao. Cho nên khi đề ra các chuẩn mực cần chú ý
tới điều kiện, hoàn cảnh ở trong tổ chức đó sao cho đảm bảo tính khả thi.
Bốn là, các xung đột trong nội bộ công sở có được giải quyết tốt hay
không. Bất kỳ một cơ quan nào thì việc xung đột giữa các cán bộ, công chức,
viên chức trong cơ quan chắc chắn sẽ có nhưng ở mức độ lớn hay nhỏ. Tuy
nhiên nếu biết nắm bắt tình hình và tâm lý của từng người thì sẽ dễ dàng giải
quyết các xung đột đó.
6


Năm là, các biểu hiện hành vi của văn hoá công sở rất đa dạng và phong
phú, cần phải xem xét một cách tỉ mỉ mới có thể đánh giá hết được mức độ ảnh
hưởng của chúng tới năng suất lao động quản lý, tới hiệu quả của hoạt động tổ
chức công sở nói chung.
Sáu là, kỹ thuật điều hành tạo nên văn hoá tổ chức công sở. Đây là vấn đề
có liên quan tới nề nếp làm việc, kỷ cương trong bộ máy quản lý nhà nước.
Nếu những kỷ cưng này được xây dựng một cách chặt chẽ thì nền văn hóa
công sở sẽ được đề cao và tổ chức có điều kiện để phát triển. Thực tế cho thấy
công sở là nơi phải thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, các cơ quan hữu quan,
đồng nghiệp và các cơ quan cấp trên. Yếu tố cơ sở vật chất cũng quan trọng,
nhưng quan trọng hơn cả là yếu tố con người sẽ quyết định văn hoá công sở.
Ví dụ, quy định đặt ra là làm 8 giờ/ngày, nhưng cán bộ, công chức, viên

- Biết được giá trị trong văn hóa ứng xử thì cán bộ, công chức, viên chức
tránh được hành vi quan liêu, cửa quyền, hách dịch trong giao tiếp hành chính
với người dân.
- Các giá trị làm đơn giản hóa các thủ tục hành chính, các quy định
nhưng vẫn đảm bảo đúng chính sách của nhà nước, của pháp luật làm cho
hoạt động của công sở thuận lợi hơn.
Bốn là, Văn hóa công sơ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển con
người. Việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa công sở không chỉ là nhiệm vụ
của mỗi cơ quan, tổ chức mà còn là nhiệm vụ của mỗi cán bộ, công chức, viên
chức đối với công việc của mình ở các vị trí, cương vị khác nhau trong thực
thi công vụ và cung cấp dịch vụ công.
Trong hoạt động công sở, quan hệ ứng xử và môi trường chính trị - hành
chính mang đậm mà sắc văn hóa nhân bản (cái chân), nhân ái (cái thiện) và
nhân văn (cái mỹ) là sự kết nối những giá trị truyền thống đến hiện đại. Con
người không ngừng học tập, sáng tạo để tiếp thu những tri thức mới của nhân
loại - đó là những yếu tố cấu thành văn hóa công sở, đồng thời khẳng định vai
trò của văn hóa trong sự phát triển của mỗi cơ quan, công sở hiện nay.
Thực tế đã chứng minh không thể coi nhẹ nhân tố con người trong sự
phát triển của các cơ quan, công sở. Nói đến con người chính là nói đến văn
8


hóa, vì toàn bộ những giá trị văn hóa làm nên những phẩm chất, năng lực và
tinh thần của con người. Vận dụng các yếu tố văn hóa trong việc thúc đẩy mọi
hoạt động của công sở như xây dựng hệ thống thi đua - khen thưởng công
bằng, minh bạch, tạo ra bầu không khí làm việc phát huy tối đa sự sáng tạo,
cống hiến của cán bộ, công chức, viên chức, tạo động lực làm việc hăng say
… sẽ kích thích, loại bỏ được sức ỳ trong công việc.
Yếu tố văn hóa xuất hiện trong công sở xuất phát từ chính vai trò của
công sở trong đời sống xã hội và trong hoạt động của bộ máy hành chính. Một

Trong lời nói nơi công sở tuy yêu cầu đảm bảo tính khách quan, trang
trọng, song cũng tuỳ từng hoàn cảnh để chọn lựa cho phù hợp:
- Với đồng nghiệp buổi sáng đầu tuần, hay bắt đầu ngày làm việc mới
mở nụ cười chào, chúc nhau một ngày vui vẻ. Một cái bắt tay, một câu hỏi
10


thăm sau những ngày công tác dài trở về sẽ tạo nên một không khí thân thiện,
sôi nổi đầy sức sống trong cơ quan, đơn vị. Và có thể nói, chào hỏi ở công sở
trở thành công cụ thể hiện tình cảm, sự gần gũi, nuôi dưỡng mối đoàn kết
trong nội bộ tổ chức và mỗi cá nhân.
- Trong thực hiện công vụ, giao tiếp với công dân chào hỏi và thái độ
chào hỏi niềm nở thể hiện rất rõ trình độ, phẩm chất của người cán bộ; việc
chào hỏi thể hiện sự kính trọng, quan tâm và sẵn sàng phục vụ yêu cầu của
công dân, góp phần xây dựng hình ảnh người cán bộ, công chức, viên chức
gần dân và vì dân.
- Xưng hô đối với lãnh đạo: bạn không nên gọi giám đốc, người giám sát
bằng tên riêng trừ phi họ cho phép bạn gọi như thế. Bạn nên dùng thêm từ
xưng hô để gọi họ khi có khách (Giám đốc và người cấp trên cũng sẽ có thái
độ nhã nhặn giống như thế với bạn).
- Xưng hô với những người lớn tuổi hơn: việc những người lớn tuổi hơn
thích người kém tuổi hơn gọi họ bằng chức vụ là chuyện bình thường. Nếu
những người khác trong văn phòng gọi họ bằng tên riêng và bạn là người mới
đến thì tốt nhất hãy đợi trước khi bạn có tư cách gọi thân mật như thế.
- Trong quan hệ giữa các đồng nghiệp: không nên dùng cách xưng hô
kiểu “chú cháu” trong khi đang thi hành công việc. Tuỳ theo hoàn cảnh, tình
huống có thể sử dụng các từ khác thay thế như: ông, bà, ngài…
- Trong những trường hợp nhất định: ngày nay, hầu hết ở các văn phòng,
việc gọi tên riêng với nhau trở thành tập quán bình thường. Tuy nhiên có thể
dùng những từ xưng hô lịch sự như: ông, bà, bác, anh, chị, tiến sĩ… nhưng

2.1 Bắt tay
Bắt tay là một nghi thức lễ tân, xã giao, một nét văn hoá trong giao tiếp.
Bắt tay là một động tác xã giao thông thường khi người ta gặp nhau hoặc giã
từ nhau. Việc bắt tay không hề đơn giản chút nào và điều đó phải được tôn
trọng theo những quy ước sau:
+ Khi bắt tay cần biểu thị tình cảm đúng mức: nam giới với nhau nên
nắm cả bàn tay, siết chặt rồi giữ ít lâu.

12


+ Giữa nam và nữ thì người nữ chỉ nên nắm hờ, nam không nên siết chặt
hoặc nắm quá lâu làm bàn tay mềm yếu của người nữ bị đau, nhất là khi
người nữ đeo nhiều nhẫn trên các ngón tay.
+ Cần bắt tay với tư thế bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tư thế đứng thẳng
người, chỉ chìa tay phải ra; người đứng ở chỗ cao không được chìa tay ra để
bắt tay với người đứng ở chỗ thấp hơn (phụ nữ có thể ngồi để bắt tay).
+ Bắt bằng tay phải (trừ trường hợp không thể được). Không nên bắt
bằng tay trái vì như thế là vô lễ. Nhất là đối với phụ nữ cử chỉ đó có ý nghĩa
xấu xa, thể hiện tâm địa bất chính.
+ Khi phái nam gặp một đôi vợ chồng thì bắt tay người vợ trước, người
chồng sau.
+ Khi các bà gặp khách nam giới mà họ tỏ lời chào trước, nếu là đối
tượng đã quen lâu hoặc thân thì nên bắt tay đáp lễ, còn không thì chỉ cần
nghiêng mình chào là đủ.
Lưu ý:
Thứ tự bắt tay: người đến trước thì bắt tay trước, người đến sau bắt sau.
Đầu tiên phải bắt tay người đến trước mình, người cao tuổi, người có chức vụ,
địa vị. Lưu ý rằng phải chờ người đáng kính đưa tay ra mình mới nhận bắt
chứ không chìa tay ra trước. Nếu người trẻ tuổi là chủ nhân, có địa vị hoặc

Trang phục mang lại những ấn tượng đầu tiên khi tiếp xúc với đối tác
cũng như lần ra mắt đầu tiên trước nhà tuyển dụng, nó là một trong
những nhân tố quan trọng trong việc giao tiếp. Ngoài ra, trang phục đôi khi
còn là phương tiện để thể hiện phong cách ăn mặc, xu hướng thời trang, đẳng
cấp của mỗi người. Cũng đôi khi nó là cầu nối để dễ dàng thân thiết và bắt
chuyện với nhau khi cùng một sở thích.
Tuỳ theo điều kiện của từng doanh nghiệp có thể hướng dẫn quy định
các y phục trong giờ làm việc ở công sở, đón tiếp, gặp gỡ khách hàng, đối
tác… Doanh nghiệp có thể quy định mặc đồng phục theo một số ngày trong
tuần, trong từng bộ phận hoặc tiến đến mặc đồng phục hoàn toàn. Trong
trường hợp doanh nghiệp khó khăn hoặc chưa may được đồng phục cho cán
bộ nhân viên thì đối với nam có thể mặc quần âu sẫm màu, áo sơ mi trắng bỏ
14


trong quần, đi giày hoặc dép có quai hậu. Riêng với nữ thì có thể tự chọn
trang phục nhưng phải ăn mặc sao cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại cũng
như văn hoá của doanh nghiệp đó.
Mỗi cán bộ nhân viên khi đến nơi làm việc phải đeo thẻ ảnh có ghi rõ họ
tên, chức vụ; trước cửa các phòng ban và trên bàn làm việc phải có biển đề
tên, chức vụ (nếu có) để khách có thể dễ dàng tìm kiếm và thuận tiện trong
khi liên hệ công việc.
Một bộ quần áo sạch sẽ, ủi là thẳng nếp, giản dị, phù hợp với thân hình,
địa vị người mặc, hợp thời trang thể hiện sự tự trọng, thái độ nghiêm túc, lịch
sự trong giao tiếp sẽ gây ấn tượng tốt, dễ gần, thân thiện ngay khi mới tiếp
xúc lần đầu. Bởi lẽ, trước tiên mọi người nhìn thấy rồi sau mới nghe thấy
chúng ta, rồi nữa cách ăn mặc biểu hiện cách sử xự lịch thiệp của chúng ta mà
không cần chúng ta phải phát ngôn.
2.4 Tư thế, điệu bộ
Một thế đứng thẳng, bước chân nhanh nhẹn, nhẹ nhàng khiến mọi người

khiến chính bản thân có được sự khoan khoái, thanh thản.
Trái lại, cần cảnh giác cao độ với những nụ cười mỉa mai, giả tạo của
đồng nghiệp nhằm tránh xa các trò” chơi khăm” của “ma cũ” hay “đối thủ”.
Làm được điều này không những đã tránh được mối họa mà còn thể hiện sự
nhạy cảm trong chính năng lực phán đoán và cảm nhận của bạn.
2.8 Danh thiếp
Trao tặng danh thiếp cho nhau cũng là một nghệ thuật giao tiếp phi ngôn
ngữ, một nét văn hoá đời thường. Bởi vì qua danh thiếp người ta có thể biết
được phần nào về trình độ học thức, công việc và địa vị xã hội của nhau. Theo
thông lệ của Pháp thì việc trao danh thiếp thuộc về khách. Còn ở Anh thì
ngược lại, người chủ trao danh thiếp cho khách trước.
16


Ví dụ một số quy tắc sau về cách trình bày và trao tặng danh thiếp cho nhau:
- Danh thiếp được in hai mặt hay một mặt ? trình bày như thế nào ? nội
dung gì ?
- Danh thiếp được in bằng ngôn ngữ nào ? Nếu bạn sử dụng tiếng nước
ngoài thì cũng nên có thêm phần tiếng Việt, bởi vì đó là niềm tự hào, lòng tự
trọng của dân tộc Việt Nam với thế giới. Bạn hãy xem người Nhật Bản, Trung
Quốc, phần lớn họ in danh thiếp bằng ngôn ngữ chính của họ chứ ít sử dụng
tiếng nước ngoài.
- Lần đầu tiên đến liên hệ công tác với một cơ quan nào đó, bạn đưa danh
thiếp vào trước cho thư ký để xem người ta có đồng ý tiếp mình hay không.
- Khi tặng quà cho người quen nên kèm theo danh thiếp vào đó.
- Khi đến thăm người quen mà không gặp được, bạn có thể để lại danh
thiếp và ghi mấy chữ báo cho họ biết là bạn có đến thăm.
- Nếu gặp gỡ lần đầu tiên thì việc trao danh thiếp thuộc về người chủ.
Người vị trí thấp hơn trao danh thiếp trước cho người có vị trí cao hơn. Nói
chung là chúng ta nên dựa vào phép xã giao mang bản sắc dân tộc “Kính trên

Có người do sở thích cá nhân, vừa làm việc vừa mở nhạc, ảnh hưởng đến
những người xung quanh. Có người ngồi làm việc lúc vắng người gác cả hai
chân lên bàn cho “thoải mái”. Lại có người, đến cơ quan là tranh thủ dùng
điện thoại cơ quan gọi đi khắp nơi, hay làm những công việc cá nhân khác,…
Vẫn còn một bộ phận nhỏ cán bộ, Đảng viên, công nhân viên chức đến
công sở muộn, về sớm, chưa có tác phong làm việc đúng mực. Đối với công
sở hành chính thực hiện cơ chế một cửa, cán bộ tiếp dân cần có thái độ mềm
mỏng, nắm vững các quy chế, nguyên tắc, thủ tục, hướng dẫn cặn kẽ để khách
đỡ mất công sức và thời gian đi lại nhiều lần, nhất là cần làm việc đúng giờ
quy định.
Song, điều đáng buồn là ở nhiều nơi vẫn xảy ra tình trạng khách cứ phải
chờ đợi lâu, còn cán bộ đang bận… trà nước, tán gẫu. Có cơ quan, còn nửa tiếng
mới hết giờ làm việc, nhưng khi có khách đến liên hệ công việc, cán bộ tiếp dân
18


đã trả lời là hết giờ nhận giấy tờ, mai quay lại. Thái độ tuỳ tiện thiếu trách nhiệm
này làm ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh các “công bộc” của dân.
Ngoài ra một số ít công sở còn diễn ra cảnh tượng nơi làm việc nhếch
nhác, lộn xộn, thiếu biển chỉ dẫn lối đi, sơ đồ hướng dẫn các bộ phận giải
quyết công việc của cơ quan, không bố trí người giữ xe; ngay từ cổng vào của
các công sở vẫn là tấm biển khô cứng, thiếu thiện cảm đập vào mắt công dân.
“Xuống xe, xuất trình giấy tờ” là một trong những ví dụ điển hình.
Vẫn còn tồn tại một số cán bộ, nhân viên công sở chưa có được những
kỹ năng giao tiếp cần thiết với đồng nghiệp, với nhân dân. Văn hoá giao tiếp
ít được chú trọng. Với đồng nghiệp thì còn xảy ra ganh ghét, nói xấu hạ uy tín
của nhau, không tôn trọng nhau. Còn có chuyện môi trường văn hoá khó chấp
nhận nữa là một số nơi công sở xảy ra tình trạng gây mất đoàn kết. Tệ hơn,
trong công sở còn có nhiều người có hành vi bè phái, hại nhau, tranh đoạt
chức quyền...

phận cán bộ, công chức.
- Tác động từ dư âm của nền văn hoá tiểu nông, từ thói quen của cơ chế
bao cấp, từ những mặt trái của nền kinh tế thịtrường.
- Ngoài ra, công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục chưa thực hiện
thường xuyên, công tác kiểm tra, giám sát của các ngành, các cấp chưa thành
nề nếp, Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, nhất là trụ sở làm việc ở cấp xã
còn thiếu thốn, xuống cấp nhưng chưa được xây dựng, sửa chữa kịp thời….
3. Giải pháp :
3.1 Giải pháp chung:
Thứ nhất, làm tốt công tác tuyên truyền, nhằm mục đích nâng cao nhận
thức cho cán bộ đảng viên trong việc thực hiện nếp sống văn hóa trong gia
đình và thực hiện văn hóa nơi công sở: Gia đình và công sở là hai nơi chính
cán bộ công chức thực thi trách nhiệm của mình đối với gia đình và với xã hội
cho nên bắt buộc công chức phải thực hiện nếp sống văn hóa. Đây là vấn đề
nhạy cảm và tế nhị đối với mỗi người cho nên mọi người phải luôn luôn học
tập thông qua việc tuyên truyền của các cơ quan tuyên truyền hoặc thông qua

20


việc nhắc nhở nhau trong công sở thực hiện các hành vi văn hóa, hoặc ứng xử
một cách văn hóa. Từ đó phát huy vai trò nêu gương của từng cán bộ công
chức trong cơ quan, đơn vị. Hãy bằng công tác tuyên truyền, nâng cao nhận
thức để xóa đi những suy nghĩ lối mòn xưa cũ, hướng tới cái mới một cách
chân-thiện-mỹ, bằng tình cảm chân thực và bằng tình đoàn kết mọi người hãy
chia sẻ với nhau, cùng nhau thực hiện tốt văn hóa công sở.
Thứ hai, nhất thiết các cơ quan công sở cần ban hành bản quy chế văn
hóa với nội dung cụ thể, rõ ràng mang tính khả thi cao; có bản cam kết thực
hiện của mỗi phòng ban, đơn vị trực thuộc; của mỗi cá nhân, thường
xuyên kiểm tra, có sơ kết, tổng kết và đánh giá định kỳ.

công sở, khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên
và nhân dân, làm lành mạnh nền đạo đức xã hội, góp phần giữ vững sự ổn
định chính trị, xã hội, tạo động lực cho sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền
vững của đất nước. Vấn đề cơ bản nhất là mỗi người chúng ta phải nhận thức
đầy đủ vị trí văn hóa công sở, của vấn đề đạo đức, thường xuyên tự giác, nỗ
lực học tập, rèn luyện, tu dưỡng theo tấm gương đạo đức, tác phong, phong
cách của Hồ Chí Minh.
Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa thấm đậm tinh thần dân chủ, kỷ
cương, nhân văn trong toàn xã hội, đặc biệt là trong đội ngũ cán bộ công chức
trên cơ sở phát huy các giá trị văn hóa truyền thống kết hợp với tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại; vì rằng văn hóa với những ý nghĩa lŕ những giá trị
sáng tạo của con ngýời, đều lŕ nguồn lực nội sinh vô tận, tác động trực tiếp
hay gián tiếp đến con đýờng phát triển của một quốc gia, dân tộc.
3.2 Một số giải pháp cụ thể:
Thứ nhất, đến công sở làm việc ăn mặc phải gọn gàng, phù hợp, đi đứng
nhẹ nhàng, đặc biệt tránh đi giầy dép tạo ra tiếng ồn quá lớn làm ảnh hưởng
đến môi trường làm việc chung.
Thứ hai, luôn ý thức giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp
bàn làm việc, phòng làm việc, giữ vệ sinh công sở sạch như giữ vệ sinh ở
chính nhà mình.

22


Thứ ba, không lạm dụng máy tính cơ quan vào những trò tiêu khiển
trong giờ làm việc, vừa ảnh hưởng đến năng suất công việc, vừa tạo thói quen
xấu cho bản thân.
Thứ từ, điện thoại nên để ở chế độ rung hoặc im lặng, tránh gây tiếng ồn
ảnh hưởng đến đồng nghiệp và ảnh hưởng đến không khí làm việc yên tĩnh tại
cơ quan.

Văn hóa công sở không chỉ thể hiện phẩm chất, đạo đức của cán bộ,
công nhân viên chức trong khi thực hiện nhiệm vụ mà còn thể hiện trình độ
văn hóa của mỗi người. Để đảm bảo tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động
các cơ quan hành chính nhà nước. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành
Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước, có hiệu lực thi
hành từ ngày 5-9-2007. Tuy nhiên đế nay nhiều cơ quan vẫn chưa thực hiện
quy chế này một cách nghiêm tục.
Hiện nay, chúng ta đang phấn đấu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức có phong cách ứng xử chuẩn mực, trong hoạt động công vụ, có
phẩm chất đạo đức tốt, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Đặc biệt là trong điều kiện hội nhập, cạnh tranh văn hóa công sở càng trở nên
quan trọng, cần phải chú trọng nhiều hơn nữa ở các công sở, cơ quan hành
chính, doanh nhiệp.

24


MỤC LỤC

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status