TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ đề CƯƠNG ôn THI môn địa lý KINH tế SAU đại học - Pdf 43

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN ĐỊA LÝ KINH TẾ - SAU ĐẠI HỌC
Câu 1. đặc điểm giới hạn lãnh thổ, VTĐL, ý nghĩa
1. Đặc điểm phạm vi lãnh thổ
- Toạ độ địa lý trên đất liền: Điểm cực Bắc 23023'B (xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà
Giang). Điểm cực Nam 8034'B (Xóm Mũi, xã Đất Mũi, Ngọc Hiển, Cà Mau). Điểm cực
Tây 102010'Đ (dãy Khoan La San, xã Sìn Thầu, Mường Nhé, Điện Biên). Điểm cực
Đông 109024'Đ (trên bán đảo Hòn Gốm thuộc xã Vạn Thạnh, Vạn Ninh - Khánh Hòa).
Lãnh thổ nước ta hẹp ngang, trải dài trên nhiều vĩ độ
Diện tích tự nhiên 331.212,1 km2
+Đất liền: Biên giới Việt-Trung dài > 1.400km, phần lớn dựa theo núi, sông tự nhiên
và những hẻm núi hiểm trở. Tất cả đã cắm mốc, phân định và đi vào lịch sử (hoàn thiện
mốc biên giới 02/2009).
Biên giới với CHDCND Lào > 2.067km, phần lớn dọc theo đỉnh của các dãy núi, đã
được cắm mốc biên giới (cùng các Văn bản, Nghị định kèm theo). Dãy Trường Sơn
(Phuluông-theo tiếng Lào), biên giới giữa 2 nước như là một xương sống chung, được
chia ra nhiều đoạn với những đèo thấp như Nabẹ (có QL8), Lao Bảo (có QL9) cắt
ngang,.v.v. Tất cả đều không gây trở ngại cho sự giao lưu giữa 2 nước, mà trái lại còn
mở ra những tuyến giao thông quan trọng nối liền thung lũng sông Mê Công ở phía
trong với biển Đông ở phía ngoài.
Biên giới với Cămpuchia dài > 1.080km, phần lớn xuyên qua các vùng đồi thoải, đổ từ
cao sơn nguyên Tây Nguyên Việt Nam xuống miền Đông Cămpuchia, từ phía Tây Nam
thị xã Tây Ninh trở đi nó chạy qua vùng đồng bằng hạ lưu sông Mê Công.
+ Trên biển.
Việt Nam có vùng thềm lục địa rộng khoảng 1,0 triệu km 2 cùng hệ thống các đảo quần đảo. Các đảo ven bờ (cách bờ ~100 km) có 2.773 đảo, diện tích 1720 km 2. Các đảo
xa bờ gồm 2 quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng) và Trường Sa (Khánh Hòa). Vùng biển nước
ta bao gồm vùng nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng
thềm lục địa.
Căn cứ vào Công ước Quốc tế về luật biển và Tuyên bố của Chính phủ nước
CHXHCNVN ngày 12/11/1982, có thể khẳng định một số điểm sau:
- Đường cơ sở (để xác định vùng nội thủy; lãnh hải; tiếp giáp lãnh hải). Được xác
định dựa trên cơ sở các điểm chuẩn của các mũi đất và các đảo ven bờ. Bên trong đường

a. Đối với việc hình thành lãnh thổ tự nhiên. Vị trí địa lí đã qui định đặc điểm cơ
bản của thiên nhiên nước ta mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa:
Do nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến Bắc Bán Cầu nóng ẩm, ở giữa vùng gió
mùa châu Á (khu vực gió điển hình nhất trên thế giới) khí hậu nước ta có 2 mùa rõ rệt:
mùa Đông bớt nóng và khô và mùa Hạ nóng và mưa nhiều.
Do ở vị trí tiếp giáp với Biển Đông, đây là nguồn dự trữ rất dồi dào về nhiệt và ẩm,
đồng thời cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, vì thế thảm thực vật ở nước ta quanh
năm xanh tốt, giàu sức sống khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ (Tây Nam Á và châu
Phi)
Do nằm ở vị trí tiếp giáp giữa lục địa và đại dương trên vành đai sinh khoáng châu Á –
Thái Bình Dương cùng các hoạt động mác ma ứng cho nên tài nguyên khoáng sản của
Việt Nam khá đa dạng.
Do nằm ở nơi giao thoa của các luồng thực-động vật thuộc các khu hệ Hymalaya,
Malaixia-Inđônêxia và Ấn Độ-Mianma, các luồng di cư này diễn ra chủ yếu vào thời kỳ
Tân kiến tạo làm cho khu hệ thực-động vật của nước ta càng thêm phong phú.
Do vị trí và hình dáng lãnh thổ cũng đã tạo nên sự phân hóa đa dạng của tự nhiên ,
hình thành các vùng tự nhiên khác nhau, bổ sung cho nhau trong sự phát triển kinh tế xã hội (giữa M.Bắc -Nam; giữa miền núi-đồng bằng, ven biển, hải đảo)
Hạn chế: Nước ta nằm trong vùng có nhiều thiên tai trên thế giới (bão, lũ lụt, hạn hán)
thường xuyên xảy ra, vì vậy cần phải có biện pháp phòng chống tích cực và chủ động.
b. Đối với phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội
- Do nằm trên đường vành đai sinh khoáng đo đó, có các nguồn tài nguyên phong phú
đa dạng, tạo điều kiện để phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp và các ngành
kinh tế biên
- Việt Nam nằm ở ngã tư đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng cùng với
các cảng biển (Cái Lân, Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn); Các sân bay quốc tế (Nội Bài,
Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng); Các tuyến đường bộ, đường sắt Xuyên Á... đã tạo điều kiện
thuận lợi để trao đổi, giao lưu với các nước xung quanh. Việt Nam còn là cửa ngõ thông
ra biển của Lào, Thái Lan, Đông Bắc CPC và khu vực Tây Nam Trung Quốc.
- Vị trí địa lí và hình dáng lãnh thổ nước ta đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành
các đặc điểm của tự nhiên; Từ đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức khai thác tài

tế, an ninh – quốc phòng.
Vấn đề tranh chấp trên biển đông hiện nay….
Như vậy, nét khá độc đáo của vị trí địa lý nước ta là: Nằm ở nơi gặp gỡ, giao thoa
của nhiều hệ thống tự nhiên, của nhiều nền văn hoá lớn trên thế giới và các luồng di cư
trong lịch sử; Ở vị trí cầu nối giữa Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo. Cũng
chính vì thế, đã làm cho thiên nhiên nước ta trở nên đa dạng và phong phú mà nhiều nơi
trên thế giới không có được; Cũng tại khu vực này trong chiến tranh (nóng - lạnh) còn là
nơi tập trung nhiều mâu thuẫn lớn, trong xây dựng lại là nơi hội tụ nhiều cơ hội phát
triển.
Câu 2: Chứng minh việt nam có nguồn tài nguyên nước phong phú. Ý nghĩa của
nguồn tài nguyên nước mặt. Vấn đề sử dụng tài nguyên nước hiện nay?
1. việt nam có nguồn tài nguyên nước phong phú
Theo Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, Việt Nam có khoảng
2.372 con sông lớn nhỏ có chiều dài từ 10km trở lên, trong đó ở miền bắc có Hệ thống
sông Hồng và hệ thống sông TháI Bình. Sông ngòi miền Trung gồm những sông chính
sau: sông Mã; sông Cả, sông Gianh, sông Bến HảI, sông Cam Lộ, sông Hương, sôngThu
Bồn, sông Trà Khúc, sông Đà Rằng...; ở Nam Bộ cũng gồm 2 hệ thống sông chính là:
sông Đồng Nai, sông CửuLong.


Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước ta bằng khoảng 847
km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km3 chiếm 60% và dòng chảy nội
địa là 340 km3, chiếm 40%.
Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối phong phú,
chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện
tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới. Tuy nhiên, một đặc điểm
quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi mạnh mẽ theo thời gian và còn
phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng.
Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3, chiếm tới 59%
tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đó đến hệ thống sông Hồng

bồi đắp cho đồng bằng càng thêmmàu mỡ. Đồng thời phù sa sông ngòi còn có giá trị bồi
đắp cho đồng bằng làm cho đồng bằng ngày càng mở rộng thêm về phía biển. Nhờvậy
mà nhân dân ta có thể tiến hành quai đê lấn biển mở rộng thêm S trồng trọt.


Sông ngòi còn là địa bàn rất tốt với nuôI trồng thuỷ sản nước ngọt, lợ: tôm,cá và trồng
rong câu. Đồng thời cũng là nơI để vớt cá giống phục vụ cho mục đích nuôI thuỷ sản
trong các hộ kinh tế gia đình.
Đối với phát triển N2 thì sông ngòi cũng gây không ít khó khăn khi gây lụt, phá hoạI
mùa màng.
- Giá trị với phát triển công nghiệp:
vì chảy qua những vùng có độ dốc lớn nên hệ thống sông ngòi tạo ra trữlượng thuỷ
điện rất lớn với tổng công suất thuỷđIện của cả nước từ 20 - 30 triệukW tương đương
260 – 270 tỉ kWh. Trong đó nguyên hệ thống sông Hồng đãchiếm 11 tr kW,sông Đà 6 tr
kW (sông Hồng chiếm 37% tổng trữ năng thuỷ đIện của cả nước sông Đồng Nai chiếm
19%). Nhờ vậy mà sông ngòinước ta cho phép xây dựng được nhiều nhà máy thuỷ đIện
cỡ lớn như đã nêu ở trên mà lớn nhất là thuỷ điện Hoà Bình.
Nước sông ngòi còn là 1 loạI nguyên liệu đặc biệt để phát triển công nghiệp cho nên
các nhà máy xínghiệp đều phảI được xây dựng ở gần sông.
Sông ngòi hiện nay còn là địa bàn duy nhất để chứa chất thảI công nghiệp.Do đó, Cần
phảI xử lý chất thảI công nghiệp trước khithảI vào sông.
Đối với phát triển công nghiệp sông ngòi cũng gây không ít khó khăn là:chuyển động
nước diễn biến thất thường theomùa trong đó mùa cạn thường thiếu nước chạy máy thuỷ
điện. Đồng thời cấu trúc địa chất dưới lòng sông phần lớn là bởi các đá bazơ (đá vôi...)
rất dễ bị phong hoá đồng thời lạIcó nhiều hang động ngầm... nên khi xây dựng các nhà
máy thuỷ điện, cầu cống thì phải đầu tư lớn để xử lý nền móng để chống lún, sụt, rò rỉ.
- Đối với phát triển giao thông:
Trước hết sông ngòi nước ta không đóng băng nên ta có thể phát triển giao thông
đường thuỷ quanh năm.
Vì hầu hết các sông lớn của ta đều chảy qua miền núi, trung du, đồng bằngvà đổ ra

tế và đang đứng trước thách thức về an ninh nguồn nước do các quốc gia thượng nguồn
tăng cường khai thác nguồn nước. Phần lớn các hệ thống sông lớn của Việt Nam đều là
các sông có liên quan đến nước ngoài. Phần diện tích nằm ngoài lãnh thổ của các lưu
vực sông quốc tế chiếm hơn 70% tổng diện tích của toàn bộ các lưu vực sông.
- Hai là, tài nguyên nước phân bố không đều theo cả không gian và thời gian đã dẫn
đến xuất hiện các vấn đề khan hiếm và thiếu nước nước trong mùa khô.Theo không gian,
khoảng 60% nước mặt Việt Nam thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, hơn 20% thuộc sông
Hồng và Đồng Nai và lượng nước tập trung chủ yếu vào mùa mưa.
- Ba là, việc khai thác sử dụng tài nguyên nước chưa hợp lý và thiếu bền vững dẫn đến
tình trạng suy giảm tài nguyên nước trong khi hiệu quả sử dụng nước còn thấp. Việc
khai thác các hồ chứa thủy lợi cho tưới nông nghiệp, thủy điện cho năng lượng đang gây
ra nhiều vấn đề về chia sẻ nước trên lưu vực, cấp nước và duy trì dòng chảy môi trường
hạ du. Việc khai thác nước dưới đất thiếu quy hoạch, khai thác quá mức là một trong
những nguyên nhân gây ra hiện tượng sụt lún nền đất cục bộ ở một số đô thị như Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Bốn là, nhu cầu sử dụng nước gia tăng trong khi nguồn nước có nguy cơ bị ô nhiễm,
suy thoái, khan hiếm, cạn kiệt. Nguồn nước mặt ở nhiều khu vực đô thị, khu công
nghiệp, làng nghề đều đã có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ, nhiều nơi ô nhiễm nghiêm trọng,
như lưu vực sông Nhuệ Đáy, sông Cầu và sông Đồng Nai - Sài Gòn. Nhiễm bẩn, ô
nhiễm nguồn nước dưới đất từ ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm đất; nhiễm mặn, cạn kiệt
nguồn nước dưới đất do khai thác nước có xu hướng gia tăng nhất là tại các khu vực đô
thị, khu dân cư, làng nghề, ven biển của đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ, ven biển miền
Trung.
- Năm là, biến đổi khí hậu gia tăng đang gây ra những tác động sâu sắc đến tài
nguyên nước. Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của
biến đổi khí hậu, có khả năng tác động mạnh lên tài nguyên nước và làm cho những vấn
đề vốn rất nghiêm trọng nêu trên đây càng nghiêm trọng hơn, nhiều vấn đề về tài nguyên
nước hiện chỉ tiềm ẩn ở dạng các nguy cơ thì có thể trở thành hiện thực nay mai.
Câu 3: Đặc điểm tài nguyên khoáng sản ảnh hưởng đến cơ cấu ngành ks ở nước
ta.

+ Thiếc - von/ram: Vùng Cao Bằng có mỏ Pia oắc là kiểu mỏ gốc và mỏ Tĩnh Túc là mỏ
sa khoáng. Vùng Tam Đảo — Tuyên Quang cũng có các mỏ gốc và mỏ sa khoáng. Ở
Tây Nghệ An có vùng mỏ Quỳ Hợp - Anh Sơn.
+ Bôxit: Tổng trữ lượng dự báo khoảng 6,6 tỉ tấn, trữ lượng đã thăm dò chắc chấn là 4 tỉ
tấn. Mỏ bôxit nội sinh có ở vùng Đông Bắc và Tây Nghệ An, Quảng Bình. Mỏ ngoại
sinh tập trung ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
+ Ti tan: Có cả mỏ gốc và mỏ sa khoáng. Mỏ gốc ở khu vực Núi Chúa (Thái Nguyên),
trữ lượng đã thăm dò đạt 180 triệu tấn.
+ Vàng: Đến nay đã phát hiện được 284 điểm quặng và mò quặng vàng, trong đó đã
thăm dò khảo sát, đánh được 45 điểm và mỏ quặng, đã khai thác khoảng 30 điêm mỏ
nhỏ. Nói chung, các mò vàng ở nước ta đều nhỏ.
Trữ lượng vàng dự báo là 280 tấn vàng, ở cấp tin cậy là 49 tấn, ở cấp chắc chắn là gần
18 tấn.
- Khoáng sản không kim loại: Khoáng sản không kim loại được phân thành một số
nhóm: nguyên liệu cho công nghiệp hoá chất và phân bón, nguyên liệu kĩ thuật và mĩ
nghệ, nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa - gốm sứ - thuỷ tinh, vật liệu xây dựng.
+Apatit: Mỏ ngoại sinh, phân bố tập trung ờ vùng Cam Đường (Lào Cai), trữ lượng dự
báo là 2 tỉ tấn, trữ lượng đã thăm dò đánh giá là 908 triệu tấn. Đây là nguồn nguyên liệu
để sản xuất phân lân.
+Photpho rít: Ít, chỉ có mỏ Hữu Lũng (Lạng Sơn) là có giá trị công nghiệp.
+Pyrit: Là nguyên liệu để sản xuất axit sunfuric, tổng trữ lượng cả nước khoảng 10 triệu
tấn, có rải rác ờ nhiêu nơi. Hiện nay mới khai thác mỏ Thanh Sơn (Phú Thọ) để cung cấp
nguyên liệu cho nhà máy hoá chất Lâm Thao.


+Đá quý: Tập trung ở đới Sông Hồng, hiện đã khai thác mỏ Tần Hương, Lục Yên (Yên
Bái). Vùng mỏ Quỳ Hợp (Nghệ An) chủ yếu có rubi, saphia.
+Cát thủy tinh; Chủ yếu ở duyên hải miền Trung (khoảng 1,1 tỉ tấn). Ở đây có 6 mỏ lớn
là Cửa Tùng (Quảng Trị), Quảng Ngãi, Tuy Hoà, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết. Cát
ở Cam Ranh nổi tiếng có chất lượng tốt để sản xuất phalê.

đất, điều kiện khai thác cực kỳ khó khăn và phức tạp cả về công nghệ, cả về an sinh xã
hội và môi trường. Tiềm năng urani và địa nhiệt không đáng kể và chưa được thăm dò
đánh giá trữ lượng.
- Việt Nam có nhiều khoáng sản kim loại nhưng trữ lượng không nhiều. Rất nhiều
khoáng sản kim loại (vàng, bạc, đồng, chì , kẽm, thiếc v.v..) thế giới rất cần trong khi trữ
lượng không có nhiều, chỉ khai thác mấy chục năm nữa sẽ cạn kiệt. thì Việt Nam cũng
có ít, không đảm bảo tiêu dùng trong nước. Một số ít khoáng sản kim loại như bauxit,
đất hiếm, ilmenit ta có nhiều, thế giới cũng có nhiều, song nhu cầu hàng năm không lớn,
hàng trăm năm nữa mới cạn kiệt, nên chúng không là những khoáng sản "nóng", khoáng
sản cạnh tranh để phát triển, lại càng không thể xem là cứu cánh của nền kinh tế Việt
Nam.


- Việt Nam có nhiều loại khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng phục vụ tốt cho
phát triển kinh tế của đất nước và có thể xuất khẩu. Tuy nhiên chúng không phải là
khoáng sản có giá trị kinh tế cao và trên thế giới cũng có nhiều đủ dùng trong nhiều năm
nữa.
- Việt Nam chưa phát hiện được kim cương - loại khoáng sản quý có giá trị kinh tế kỹ
thuật cao. Các nhà địa chất đã phát hiện ở Việt Nam có Ruby chất lượng cao, nhưng trữ
lượng chưa rõ, các loại đá qúy khác cũng chưa được phát hiện nhiều. Thực tế nhóm đá
quý được phát hiện ở Việt Nam chưa đóng góp gì đáng kể cho phát triển kinh tế đất
nước.
- Đặc điểm chung của các mỏ kim loại màu là mỏ đa kim, phần lớn là các mỏ nhỏ, phân
bố phân tán, lại ở vùng núi, điều kiện khai thác khó khăn (về cơ sở hạ tầng, trình độ lao
động kém; địa hình khó khai thác (dầu khí)).
+ Chủ quan: Trình độ quản lý, công nghệ khai thác kém dẫn đến tình trạng khai thác bừa
bãi, thiếu quy hoach gây lãng phí tài nguyên và pha huỷ các khu rừng chắn cát ven biển
gây hậu quả to lớn…ví dụ
Phân tích sâu về đặc điểm tiềm năng tài nguyên khoáng sản của Việt Nam trong bối
cảnh chung về tài nguyên khoáng sản của khu vực và thế giới cho ta thấy rõ tuy Việt


xuống còn khoảng 0,96% trong những năm gần đây (UNDP, 2013). Năm 2013 Việt Nam
xếp hạng thứ 121 trong 187 quốc gia và lãnh thổ về sự phát triển con người - thứ hạng
này được đánh giá ở mức trung bình trên thế giới.. Tỷ lệ này thấp so với nhiều nước khu
vực và thế giới. Đây là một thách thức to lớn đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện
nay.
Theo báo cáo của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGÐ), chất
lượng dân số về thể chất của người Việt Nam đã được cải thiện song vẫn còn rất thấp.
Kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy, có 1,5% dân số Việt Nam bị
thiểu năng về thể lực và trí tuệ. Trong đó, số trẻ mới sinh bị dị tật bẩm sinh do di truyền
chiếm khoảng từ 1,5 đến 3% và có xu hướng tiếp tục gia tăng do điều kiện sống, môi
trường độc hại, chưa được phát hiện và điều trị sớm. Bên cạnh đó, số lượng người bị tàn
tật, khuyết tật trong cả nước rất lớn, khoảng 5,3 triệu người (chiếm 6,3% số dân)... Tầm
vóc, thể lực cân nặng, sức bền của người Việt Nam so với nhiều nước trong khu vực vẫn
còn hạn chế.
Chiều cao trung bình của ngườiViệt Nam là 164,4 cm (đối với nam) và 153 cm (nữ),
tăng trung bình 4 cm sau 35 năm. Nghĩa là cứ khoảng 10 năm, người Việt Nam mới tăng
1 cm chiều cao. Trong cùng khoảng thời gian đó, chiều cao của người dân Thái-lan và
Trung Quốc đã tăng được 2 cm. Với chiều cao hiện tại, nam thanh niên Việt Nam vẫn
thấp hơn chuẩn quốc tế 13,1 cm và nữ thấp hơn 10,7 cm. Không chỉ thua kém về chiều
cao, thanh niên Việt Nam còn thua kém cả về sức bền, sức mạnh (cơ bắp), cân nặng so
với chuẩn quốc tế khá nhiều.
Tuổi thọ bình quân của người dân Việt Nam đạt mức khá cao là 73 tuổi, tuy nhiên, tuổi
thọ bình quân khỏe mạnh lại chỉ đạt 66 tuổi và xếp thứ 116/182 nước trên thế giới. Trong
khi đó, với tốc độ già hóa dân số đang tăng khá nhanh, Việt Nam vẫn chưa kịp chuẩn bị
cho việc thích ứng với việc chăm sóc người cao tuổi, nhất là chế độ an sinh xã hội.
, chất lượng nguồn nhân lực lại rất thấp. Tỷ lệ nguồn nhân lực, người lao động qua đào
tạo mới đạt gần 30%, tỷ lệ có bằng cấp chỉ chiếm khoảng 8%. Trong nền kinh tế thị
trường toàn cầu hóa, với chất lượng nguồn nhân lực thấp, chúng ta sẽ rất khó cạnh tranh
với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nếu giải quyết tốt vấn đề việc làm, nâng cao

phát triển kinh tế; tạo cơ hội cho tích lũy nguồn lực để tăng đầu tư cho an sinh xã hội, y
tế, giáo dục, việc làm trong tương lai.
Mặt khác, dân số dưới 15 tuổi giảm mạnh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thông
qua việc giảm tỷ số giữa học sinh và giáo viên, qua đó nâng cao chất lượng chăm sóc y
tế cho trẻ em, cải thiện chất lượng sức khỏe dân số tương lai.
Đồng thời, dân số trong độ tuổi lao động lớn, cùng với sự phát triển của khu vực công
nghiệp và dịch vụ tạo nhu cầu lớn về đào tạo nghề. Chi tiêu y tế trong độ tuổi lao động
giảm sẽ tiết kiệm được y tế. Lực lượng lao động trẻ, dồi dào và tiếp tục tăng sẽ là nguồn
lực quan trọng cho việc phát triển kinh tế trong điều kiện đảm bảo việc làm và cải thiện
được năng suất lao động.
Cơ cấu “dân số vàng” cũng là cơ hội dịch chuyển lao động thông qua di cư, tạo động
lực phát triển kinh tế xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững.
Nhiều thách thức phải đối mặt
song bên cạnh đó, Cơ cấu “dân số vàng” cũng đặt ra không ít những khó khăn thách
thức cần phải giải quyết.
Tốc độ tăng nhanh của dân số trong độ tuổi lao động sẽ là nguồn lực quan trọng cho
phát triển kinh tế nhưng sẽ trở thành gánh nặng nếu quốc gia đó có tỷ lệ thất nghiệp cao
và năng suất lao động thấp.
Thực trạng ở Việt Nam cho thấy, số người lực lượng lao động đông về số lượng nhưng
chất lượng chưa cao do thiếu lao động có tay nghề cao, sức bền còn hạn chế, kỹ năng
quản lý còn nhiều bất cập. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê năm 2009, chỉ
có 13,4% dân số 15 tuổi trở lên được đào tạo chuyên môn kỹ thuật (con số này ở thành
thị là 25,4% và nông thôn là 8%). Trong nhóm dân số từ 25 tuổi trở lên thì chỉ 18,9% đạt
được trình độ học vấn bậc trung và chưa đầy 5,5% dân số trong độ tuổi trên đạt trình độ
học vấn bậc cao.
Hơn nữa, chất lượng giáo dục, đào tạo nghề chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu thị
trường lao động. Tỷ lệ lao động nông nghiệp cao trong khi diện tích đất nông nghiệp
ngày càng thu hẹp do quá trình đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng. Từ đó, dẫn
đến tình trạng thiếu việc làm của thanh niên gia tăng trong điều kiện thị tường lao động


- Người nông dân VN gắn bó với đất đai, có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp,
có tính cần cù, chịu khó, sáng tạo
- Trong điều kiện hiện nay, Đảng, Nhà nước đang tích cực hỗ trợ cho hoạt động
khuyến nông, khuyên ngư bằng các chương trình khác nhau, tạo điều kiện cho nông dân
yên tâm sản xuất và phát huy trong kinh tế thị trường.
* Chính sách phát triển nông nghiệp
- Từ năm 1986 đến nay Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách khuyến
khích phát triển nông nghiệp. Đường lối đổi mới trong nông nghiệp là nguyên nhân
quan trọng nhất của những thành tựu to lớn mà nông nghiệp đã được trong những năm
qua. Đại hội VI của Đảng 1986 đã vạch ra đường lối đổi mới ,xác định hộ gia đình là
đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp, các hộ gia đình có quyền tự quyết trong hoạt
động sản xuất của họ. Nhờ vậy nông dân phấn khởi đầu tư nâng cao năng xuất của họ.
- Từ năm 2000 chính phủ có nghị quyết về trang trại tạo ra giai đoạn mới trong phát
triển kinh tế trang trại ở nước ta, chính sách nông nghiệp gồm các chính sách giá, chính
sách đất đai, chính sách tín dụng nông thôn, chính sách đầu tư.
* Sự tăng trưởng thị trường trong nước và mở rộng thị trường nước ngoài
- Dân số tăng nhanh, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, tốc độ đô thị hóa và các ngành phi
nông nghiệp tănh nhanh tạo điều kiện thị trường trong nước phát triển, thúc đẩy nông
nghiệp phát triển.
- Nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế hướng ra xuất khẩu, hàng nông sản có vị trí quan
trọng trong danh mục các mặt hàng XK chủ yếu, một số mặt hàng đã vào được những thị
trường khó tính (EU, Nhật bản, Hoa kỳ), nhất là khi ta tham gia vào các tổ chức kinh tế
thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nông nghiệp phát triển.
* Công nghiệp chế biến và cơ sở hạ tầng nông thôn
- Công nghiệp chế biến có vị trí quan trọng trong việc tăng thêm giá trị và bảo đảm
đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp hàng hóa. Phát triển công nghiệp chế biến còn góp
phần thu hẹp tình trạng xuất khẩu sản phẩm thô và tạo ổn định cho phát triển nông
nghiệp.
- CSHT nông thôn tuy còn thiếu và chất lượng hạn chế nhưng đã tạo được những điều
kiện cần thiết cho phát triển kinh tế nông thôn

cạnh tranh, tăng sản lượng và giá trị hàng hóa tiêu thụ trong nước và xuất khẩu để thu
nhập và đời sống nông dân ngày một cao hơn.
Ba là, đẩy nhanh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại trong
sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ hàng hóa; ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để
tạo ra và chủ động được nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình sản xuất đạt năng
suất, chất lượng, hiệu quả cao, tăng nhanh giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị diện tích canh
tác.
Bốn là, phát huy vai trò của Nhà nước trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông
thôn... Cần khẳng định tư tưởng chủ đạo về chính sách nông nghiệp, nông dân, nông
thôn là hỗ trợ, thông qua hoạt động bảo hiểm và tài trợ. Có chính sách đặc thù khuyến
khích cho vùng trồng lúa và người trồng lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia...


5b. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
1.chuyển dịch cơ cấu ngành
- Xu hướng chuyển dịch chung
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông – lâm – thủy sản theo xu hướng giảm dần tỷ trọng nông
nghiệp, tăng dần tỷ trọng lâm nghiệp và ngư nghiệp nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng
đất đai trung du, miền núi, diện tích mặt nước, ao hồ, sông, suối, biển. Đồng thời kết hợp
chặt chẽ với nông – lâm – thủy sản để hỗ trợ nhau cùng phát triển và bảo vệ môi trường
sinh thái.Trong nông nghiệp xu hướng phát triển làm giảm dần độc canh lúa, tăng dần tỷ


trọng cây công nghiệp, rau, quả, cây đặc sản, chăn nuôi để sản xuất ra nhiều nông sản
hàng hóa và xuất khẩu có giá trị cao.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt và chăn nuôi
Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chủ yếu của nông nghiệp. Trồng trọt cung cấp
lương thực, thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp, thức ăn cho chăn nuôi,
sản phẩm cho xuất khẩu. Chăn nuôi cung cấp những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao
như trứng, thịt, sữa… Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, cung cấp nguyên, vật

như ngựa, dê, ngan, ngỗng… tuy còn nhỏ bé nhưng cũng góp phần đa dạng hóa sản
phẩm. Đặc điểm của việc phát triển chăn nuôi phản ánh điều kiện và thế mạnh của từng
vùng. Ở Việt Nam, vùng đồng hằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, đàn lợn
chiếm tỷ trọng cao nhất trong đàn gia súc (trên 85%). Tây Nguyên và Duyên Hải Trung
bộ có tỷ trọng đàn bò cao (30%), vùng Trung du, miền núi có tỷ trọng đàn trâu cao nhất
so với các vùng trên (26%). Đối với chăn nuôi gia cầm ở tất cả các vùng, nuôi gà vẫn là
chủ yếu, riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long đàn vịt chiếm tỷ trọng lớn (trên 43%).


Cơ cấu các loại gia súc , gia cầm có sự chuyển dịch theo hướng tăng các loại vật nuôi có
giá trị phục vụ tiêu dùng với chất lượng cao và xuất khẩu. Cụ thể thời gian qua ở Việt
Nam là giảm tỷ trọng đàn lợn, tăng tỷ trọng đàn bò và gia cầm, nhưng sự dịch chuyển
này rất chậm. Xu hướng tới đưa chăn nuôi lên ngành sản xuất chính.
* Xu hướng chuyển dịch ngành thủy sản:
- Ngành khai thác trước đây có xu hướng tăng, sau có giai đoạn có xu hướng giảm, trong
giai đoạn hiện nay lại có xu hướng tăng lên: vì chính sách phát triển ngành thủy sản của
Đảng và Nhà nước, chính sách phát triển kinh tế biển, tăng cường đầu tư cho khai thác
đánh bắt xa bờ, chính sách bảo vệ vùng biển đảo...
- Ngành nuôi trồng thủy sản vẫn có xu hướng tăng trong giai đoạn hiện nay, do điều kiện
nuôi trồng thủy sản thuận lợi, nguồn lợi đem lại cao.
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thường kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động trong
khu vực nông thôn, nhưng trên thực tế cơ cấu lao động chuyển dịch không đáng kể. Lao
động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã
hội (năm 2000 chiếm 68,2%, năm 2005 chiếm 62,5%). Tỷ lệ thời gian có việc làm của
lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn còn thấp. Theo số liệu thống kê, năm 2000
là 74,16%, năm 2005 tăng lên 80,65% (1). Việc di chuyển lao động giữa các vùng và việc
di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị mang tính tự phát, thời vụ đã có xu hướng
gia tăng, góp phần giải quyết một phần lao động thiếu việc làm và thu nhập thấp. Lực
lượng lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn tăng nhanh, dẫn đến tình trạng dư
thừa lao động, thiếu việc làm nghiêm trọng. Trong khi đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Chính sách đầu tư cho nông nghiệp
* Nhân tố phát triển doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh trong ngành nông nghiệp
- Phát triển doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp.
- Về đổi mới, sắp xếp lại các DN Nhà nước trong ngành nông nghiệp
* Nhân tố lao động nông nghiệp
* Tín dụng nông nghiệp
* Nhân tố hợp tác công-tư (PPP) trong nông nghiệp
* Nhân tố năng lực cạnh tranh sản phẩm nông sản
Câu đa
6a:dạng.
Chứng minh nước ta có đủ điều kiện phát triển cơ cấu ngành công
nghiệp
Trên
thức
tế,lượng,
Hiệnnay
chúng
có hóa
một chất,
cơ cấu
ngành
côngkhai
nhiệp
rất đacông
dạngnghiệp
với công
nghiệp
năng
công
nghiệp

nghiệp
đa
dạng
như
vậy



đây
hội
đủ
những
điều
kiện
vềphát
mặt triển
vj trícác
dịangành
lý, tàicông
nguyên
thiên nhiên lẫn những điều kiện về
mặt kinh
tế xã
hộicảcho
nghiệp
a) Vị trí địa lý
Nằm
trên vành
đaigió
sinh khoáng,

thể
các
khoáng
sản nhiên
liệuđã
- năng
khoáng
kim
sảncủa
phihơn
kimloại:
loại,
nước
khoáng.
Đến nay
phát
hiện
được
hơn
3.500
mỏ

điểm
quặng
80
loại
khoáng
sản,
nhưng
mới

khí1ởtriệu
nướckm.
ta đã
được
định
8các
bể
trầm
tích

triển
vọng
dầu
khí
với
tổng
diện
Mặc
dù xác
chưa

con
số
chính
xác
về
trữ
lượng
dầu
khí,

cho
công
nghiệp
luyện
kim.
Các
mỏ
nâu
có lâu
trữ được
lượngkhai
côngthác
nghiệp
làcông
Na
Dương
(Lạng
Sơn),
trữ
lượng
khoảng
100
triệu
tấn,
đã
từ
cho
sản
măng.
- nghiệp

(Thanh
Hoá)
trữ
lượng
đã trên
thăm46%.
dò là 3,2 triệu tấn, trữ
lượng
dự
báo
22,8
triệu
Hàm
lượng
crôm
trong
quặng
-+Kim
loạiTrữ
màu,
kim đã
loạixác
nhẹ,
kimkhoảng
loại quý
vànghìn
hiếm tấn đồng, 120 nghìn tấn niken, 29 tấn
Đồng:
lượng
định

sa
khoáng.
Vùng
Tam
Đảo
—Bằng
Tuyên
cácmỏ
mỏgốc
gốcvàvàmỏ
mỏTĩnh
sa khoáng.

Tây
Nghệ
An

vùng
mỏ
Quỳ
Hợp
Anh
Sơn.
+
Bôxit:
Tổng nội
trữ lượng
dựởbáo
khoảng
6,6

Tilượng
tan: Có
cả mỏdògốc

mỏ
sa khoáng.
Mỏ gốc ở khu vực Núi Chúa (Thái Nguyên),
trữ
đã
thăm
đạt
180
triệu
tấn.
+
Vàng:
Đến nay
đã
phát
hiện45được
284
điểmquặng,
quặngđãvàkhai
mò thác
quặng
vàng, 30
trong
đómỏ
đã
thăm

không
kimbón,
loạinguyên
được phân
thành
một
số
nguyên
liệu
cho
công
nghiệp
hoá
chất

phân
liệu

thuật


nghệ,
liệu sản xuất
gạch chịu
lửa Cát
- gốm
sứ tinh;
- thuỷSét
tinh,
vật liệu xâylanh;Đá

xây
dựng,
công
nghiệp
hóa
chất…
* Tài nguyên nước(nước mặt, nước ngầm)
Tài nguyên
nước
ở Việtngầm
Namởđược
đánhvực
giá tự
là nhiên
rất đavà
dạng
vàtạo
phong
phú,
bao
gồm
cả
nguồn
nước
mặt

nước
các
thủy
nhân

sông
TháI
Sông
ngòi
gồm
những
sông sôngThu
chính sau:
sông
Mã;Trà
sông
Cả,sông
sôngĐà
Gianh,
sông
Bến HảI,
sônggồm
Cam
Lộ,
sông
Hương,
Bồn,
sông
Khúc,
Rằng...;
ở Nam
Bộ cũng
2
hệ
thống

vùng
chảycóvào
là 507
chiếm
60%
dòng
34026
km3,
chiếm
40%.Việt
Nam còn
hàng
ngànkm3
hồ đập
nhân
tạovàvới
tổngchảy
sức nội
chứađịa
lênlàđến
tỷ m3
nước
Giá
trị với
phát
triểnvùng
công có
nghiệp:
vì rất
chảy

sông
Hồng
đãchiếm
11
tr
kW,sông
6 tr
kW
(sông
Hồng
chiếm
37%
tổng
trữ
năng
thuỷ
đIện
của
cả
nước
sông
Đồng
Nai
chiếm
19%).
vậynhất
mà là
sông
ngòinước
taBình.

- khí
sôi
nảyhậu
nở.,mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa tạo điều kiện cho các loài sinh vật sinh
-vật
sinh
vất:triển
ViệtvàNam

gia nằm
ở của
vùngnhiều
nhiệtloài
đới, động
có nhiều
điều
kiện
cho các
sinh
phát
tạo thống
ra quốc
sự kê
phong
phú
thực
vật
và vật
nhiều
hệ

12.000
loài
thực
vật
hạt
kín;
loàikhác.
nấm; Động
2.176 vật:
loài 300
tảo; loài
481 thú;
loài 830
rêu; loài
368 chim;
loài vi260
khuẩn
691158
loàiloài
dương
xỉ
và2.200
100
loài
loàilam;

sát;
ếch
nhái;
5.300

chiếm
từ
10-11
gần
70%
đất
nông
nghiệp
hiện
có,
số
còn
lại
hầu

đất
xấu
,
đất
Việt
nam
phân
13
nhóm:
Cồn
cát

cát biển : 502.045 ; Ðất mặn :991.202 ; Ðất phèn:2.140.306 ;Ðất phù sa : 2.936.413 ; Ðất
lầy


núi
cao:280.714
Ðất
thung
lũng
do
sản
phẩm
dốc
tụ:330.814
Ðất xói mòn trơ sỏi đá:5505.298; Các loại đất khác và đất chưa điều tra:3.651.586 .
Điều
kiệnnguyên
về khí hậu,
đai,
sinh
vật…
thuậnđặc
lợibiêtj
để phát
triểnnghiệp
nông- lâmthủybiến
sản
cung
liệu đất
cho
sảntiêu
xuất
công tạo
nghiệp,

lợi dày,
cho
các
ngành
sử
dụng
nhiều
lao
động
(LTTP,HTD,
hàng
xuất
khẩu
như
may
mặc,
da
công nghiệp chế biến)
-kiện
Chấtđểlượng:
Tỷ lệphát
lao triển
động các
đã qua
đàocó
tạohàm
ngày
càngkhoa
tăng(học
21,9%

thuận
lợi cho phát triển các ngành kinh tế, nhất là công nghiệp.
*công
Chính
sách:phát
Nước
ta đang
đẩy
mạnh
conhân
nhiều
sách
nhăm
thúc
nghiệp
triển:
Chính
sách
phátCNH,HĐH
triển
nguồn
lực,chính
Chính
sách
phát
triểnđẩy

sở
hạ
tầng,

quy

vừa

nhỏlýnhư
điều kiện cho tiếp cận vốn vay, đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong
quản
nhà tạo
nước
*cho
Hệviệc
thống
pháp
không
ngừng
được
bổ hành
sung,rahoàn
tạo điều
rấtvàthuận
lợi
phát
triểnluật
ngành
công
nghiệp.
Tiến
soát,thiện,
điều chỉnh,
bổkiện

lớn với
hơn
92nay
triệuchúng
dân tạo
sứcquan
mua hệ
lớnngoại
thúc
ngành
nghiệp
triển.
thời
hiện
ta

giao
với thế
hơngiới.
185 quốc
gia,tham
có quan
thương
vớikinh
hơntế200
gia và
lãnh
thổ
trên
Vớ

TPP,
AFTA...
chúng
ta
đã
tạo
điều
kiện
để
mở
rộng
thị
trường,
tăng
sức
mua,
tạo
điềukhó
kiện
để Các
xuấtmặt
khẩu
cácđó
mặt
hàng công
nghiệp
ra may
thị trường
thế gia,
giưới,

vào các
khu
công
nghiệp,
nhàlực
máy,
xí1988,
nghiệp
ngày
càng
khilực

Luật đầu
tưtrong
trực
tiếp
nước
ngoài
có hiệu
năm
dòng
vốn
FDItăng.
luônKể

động
quan
trọng
quá
trình

Trong
25 năm
từthực
1988-2013,
vốn
FDI đăng

vào
Việtnghiệp
Nam đạt
khoảng
218,8
tỷ
USD,
tổng
vốn
hiện
đạttưtổng
106,3
tỷ
USD,
lĩnh
vực
công
chiếm
tới
gần
60%.
Theo
thống

13,7Nam
tỷ USD,
bằng
71,2%
so
với
kỳ
2013.
Như
vậy,
tỷ
lệ
đầu

nước
đang

chiều
hướng
so với thời điểm Việt Nam đạt kỷ lục về thu hút đầu tư nước
ngoài
(vượt
mốcgiảm
20 tỷ nhẹ
USD).
Vấn đề 7: Phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp ở Tây nguyên
1. Đặt vấn đề


Tây nguyên gồm 5 tỉnh Kom Tum, Gia lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng. đây

trung thành những mặt bằng rộng lớn thuận lợi cho việc thành lập các nông trường và
vùng chuyên canh có quy mô lớn. cụ thể:
Đất feralit đỏ vàng phân bố ở độ cao dưới 1000m gồm nhiều loại đất dỏ vàng trên
đá sét và đá biến chất, đất vàng đỏ trên đá macma axit, đất vàng nhạt trên đá cát, đất
vàng nâu trên phù sa cổ… Riêng đất vàng đỏ trên các đá macma axit phân bố rất rộng ở
Tây Nguyên (38% diện tích tự nhiên), đất này có tầng mùn dày, chua, dễ bị rửa trôi và
xói mòn trong mùa mưa, nên cần được bảo vệ.
Đất feralit nâu đỏ, hình thành trên các đá măcma, bazơ, trung tính (đất bazan) có
diện tích khoảng 1,4 triệu ha (gần 23% diện tích đất Tây Nguyên), đất nâu đỏ phân bố
rộng, tập trung tầng đất dày, phì nhiêu, tỷ lệ mùn cao, ít chua thích hợp trồng các cây
công nghiệp lâu năm có rễ ăn sâu như cao su, cafê, chè.
Đất feralit nâu vàng trên đá macma bazơ và trung tính phân bố khá tập trung ở cao
nguyên bảo lộc, ở độ cao 900m và lượng mưa tới 280mm/năm. Đất có độ phì khá cao,
độ ẩm điều hòa, thích hợp trồng các loại cây chè, dâu tằm, cây ăn quả, cà phê và các cây
lương thực khác.


Đất mùn vàng đỏ trên núi và đất mùn trên núi cao phân bố ở các khối núi cao
thượng Kom Tum và rìa đông nam của Trường Sơn Nam. Đất mùn vàng đỏ trên núi
phân bố ở độ cao 1000-2000m. Đất này khá phì nhiêu, có thể dùng để phát triển các loại
cây rau giống và cây ăn quả ôn đới, một số cây thuốc quý như sâm Ngọc Linh…
Đất đen (khoảng 115.000ha) phát triển trên đá bọt, tro núi lửa và sản phẩm bồi tụ
của bazan, phân bố ở rìa phía nam, đông nam cao nguyên Plây cu và rìa phía tây cao
nguyên Đắc Lắc. Tầng lớp đất mỏng, lẫn nhiều mảnh đá bột chưa phong hóa thích hợp
với trồng họ đậu, Ngô…
* Khí hậu
Tây Nguyên có khí hậu cận xích đạo nóng ẩm quanh năm, có 1 mùa khô kéo dài
tạo điều kiện để phơi sấy và bảo quản sản phẩm. Khí hậu có sự phân hóa theo độ cao
400-500m, khí hậu khô nóng thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp nhiệt đới
như cà phê, các cao nguyên có độ cao trên 1000 m thích hợp phát triển cây công nghiệp

nhân lực ở đây lại có sức khỏe tốt, có nhiều kinh nghiệm trong trồng các loại cây công
nghiệp nhất là cà phê. Hiện nay, tỉ lệ lao động qua đào tạo ở Tây Nguyên cũng đang


được cải thiện dần dần. Cùng với chính sách thu hút lao động từ các vùng khác, nguồn
lao động ở Tây Nguyên đang đân được cải thiện.
* Cơ sở vật chất kỹ thuật.
- Về hệ thống công nghiệp năng lượng: Với hệ thống sông ngòi có tiềm năng thủy
điện lớn, hiện tại có các công trình thủy điện như Yali (720MW), thủy điện Xê Xan 3
(273MW), Xê Xan 4 (330MW); trên hệ thống Xrêpôk, nhà máy thủy điện Đrây Hling
(12MW), Buôn Kuôp (280MW)… Trên hệ thống sông Đông Nai có thủy điện Đa Nhim
(160), Đa Ninh (300MW), Đồng Nai 3 (180MW), Đồng Nai 4 (340 MW) … cơ sở năng
lượng được đảm bảo tốt hơn cho phát triển kinh tế của vùng nói chung và cho phát triển
các ngành công nghiệp chế biến cây công nghiệp, phục vụ tưới tiêu cho vùng trông cây
công nghiệp của vùng
- Về hệ thống công nghiệp chế biến nông, lâm sản: Đây là ngành công nghiệp
đóng vai trò quan trọng và được ưu tiên phát triển. Hệ thống công nghiệp chế biến cà
phê tập trung ở Buôn Ma Thuột, Kom Tum, Plây cu, Bảo lộc… công nghiệp chế biến
cao su ở Gia Lai, Công nghiệp chế biến chè ở Bảo Lộc. Các cơ sở xay sát gạo, Ngô, sắn
có ở các địa phương. Nhà máy đường quy mô nhỏ, chế biến điều, dầu thực vật, sản xuất
bánh kẹo được xây dựng và từng bước đổi mới công nghệ. Hệ thống công nghệ máy
móc kỹ thuật hiện đại ngày càng được đầu tư thích đáng, tạo điều kiện nâng cao năng
suất lao động, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của vùng đối với sản phẩm của
vùng khác và đối với thế giới.
- Hệ thống giao thông vận tải, ở Tây Nguyên có hai hệ thống giao thông vận tải
chính là hệ thống đường bộ và hệ thống đường hàng không. Mạng lưới giao thông có ý
nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của vùng. Tây Nguyên có hệ thống giao
thông như: Quốc lộ 14 xuyên Tây Nguyên, nhiều đoạn được nâng cấp cải tạo, quốc lộ 14
B, 14C , quốc lộ 24 từ thạch trụ đến thị xã Kom Tum dài 168 km, quốc lộ 19 từ cảng
Quy Nhơn qua thị xã an Khê, đến thành phố Plâycu đến cửa khẩu Lệ Thanh, tỉnh Gia Lai

Trong đó quy hoạch một cách cụ thể tránh hiện tượng phát triển một cách tràn nan, được mùa
rớt giá, được giá mất mùa, làm ảnh hưởng đến các nguồn tài nguyên khác của vùng.
Hai là, cần đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, đẩy mạnh ứng dụng
khoa học kỹ thuật nâng cao chất lượng cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống
tưới tiêu vào mùa khô, đảm bảo nguồn nước ngầm cho tưới tiêu. Tích cực đấu tranh với
nạn phá rừng, khai thác các nguồn tài nguyên một cách tùy tiện. Thực hiện chuyển giao
công nghệ cho đồng bào các dân tộc ít người về trồng và chế biến các loại cây công
nghiệp nhất là về cà phê. Phát triển rộng rãi mô hình kinh tế vườn, nâng cao hiệu quả
sản xuất. Nâng cấp và phát triển mạng lưới giao thông đường bộ. Tăng cường cơ sở vật
chất kĩ thuật cho các vùng chuyên canh, xây dựng cơ sở chế biến gần các vùng chuyên
canh cây công nghiệp trong vùng. Đảm bảo cung cấp đầy đủ lương thực - thực phẩm cho
các vùng chuyên canh để ổn định diện tích các cây công nghiệp đã quy hoạch.
Ba là, xây dựng chính sách đãi đối với vùng sản xuất cây công nghiệp của vùng
nhất là các cây chủ lực như cà phê, cao su, hồ tiêu.. đồng thời mở rộng thị trường xuất
khẩu ra bên ngoài, xây dựng tốt thương hiệu.
Bốn là, cần thực hiện tốt chính sách di cư, tránh di cư dồn dập, tràn nan không có
kiểm soát, ổn định định canh, định cư cho đồng bào. Không ngừng nâng cao chất lượng
giao dục đào tạo tại vùng.

Câu 8: Vì sao vấn đề dân số được quan tâm gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
vùng ĐBSH
* Vấn đề dân số ở đồng bằng Sông Hồng:
- Vùng đồng bằng sông Hồng bao gồm 10 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh
Phúc, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình) với
diện tích gần 15 nghìn km2 (chiếm 4,5% diện tích tự nhiên toàn quốc) và số dân 18,2
triệu người (chiếm 21,6% số dân cả nước, năm 2006), là vùng có số dân đông nhất. Dân
số đông, cơ cấu dân số trẻ, nên vùng có nguồn lao động dồi dào.
- Đồng bằng sông Hồng là vùng có mật độ dân số đông đúc nhất cả nước, với mật độ là
1.225 nguời/ km2, gấp khoảng 4,8 lần mật độ trung bình của cả nước (năm 2006). Những
nơi dân cư đông nhất là Hà Nội (2883 người/km 2), Thái Bình (1183 người/km2), Hải

- Phát triển kinh tế - xã hội:
+ Do dân số đông, mật độ cao, tăng nhanh đã kìm hãm tốc độ tăng trưởng KT, kìm hãm
sự chuyển dịch cơ cấu KT của vùng., tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng còn
chậm.Cụ thể, từ năm 1986 đến năm 2005:
Khu vực: nông, lâm, ngư nghiệp : 49,5% - 25,1%;
Khu vực: công nghiệp – xây dựng : 21,5% - 29,9%;
Khu vực: dịch vụ : 29,0% - 45,0%.
Cơ cấu kinh tế năm 2008, nông nghiệp (chiếm 12,67%) – So với Đông Nam Bộ tỷ lệ cao
hơn nhiều.
+ Việc đáp ứng, giải quyết các nhu cầu xã hội gặp nhiều khó khăn; dân số đông, lực
lượng lao đông lớn, đặc biệt là lao động ở nông thôn, chính vì vậy dẫn đến tình trạng dư
thừa lao động ở nông thôn, tình trạng di dân ra các thành phố lớn tìm việc làm theo mùa
vụ…
+ Hàng loạt vấn đề xã hội như nhà ở, y tế, văn hóa, giáo dục vẫn còn là bức xúc.
+ Tiềm năng nhân văn chưa được khai thác: như việc khai thác tiềm năng du lịch tâm linh
ở nhiều địa phương; nguồn lao động chất lượng cao của vùng cũng đang bị “chảy máu
chất xám” sang các vùng khác (Đông Nam Bộ), ra nước ngoài…
- Sức ép đối với vấn đề tài nguyên, môi trường:
+ Tài nguyên : ĐBSH là vùng có bình quân đất nông nghiệp trên đầu người thấp nhất cả
nước (bình quân đất nông nghiệp trên đầu người thấp chỉ có 0,04 ha/người). Tài nguyên
sinh vật tự nhiên trên cạn hầu như không còn. Tài nguyên sinh vật dưới nước bị suy
giảm nghiêm trọng do tình trạng đánh bắt bừa bãi, ô nhiễm môi trường nước…
+ Môi trường: Do quá trình tăng dân số và sự phát triển kinh tế lâu đời, quá trình quy
hoạch hạn chế dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng; ô nhiễm
không khí, ô nhiễm nước ở các đô thị, ô nhiễm, suy thoái một số loại đất ở các vùng
nông thôn…


+ Không gian sống của vùng cũng chặt hẹp do quá trình tăng dân số, quá trình đô thị hóa
ồ ạt.

MB
1. Phải khẳng định rằng: Đông Nam Bộ luôn là vùng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ
cấu đóng góp công nghiệp của cả nước. vì vùng này hội đủ rất nhiều điều kiện cả về vị
trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, cũng như kinh tế xã hội để phát triển một cơ cấu công
nghiệp với sự đa dạng ngành nghề và luôn đạt chất lượng, hiệu quả cao. Cụ thể là:
a - Vị trí địa lý
Đông Nam Bộ Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố là: TP. Hồ Chí Minh, tỉnh
Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu. Phía bắc- tây bắc
giáp Campuchia, phía nam giáp biển Đông, phía tây-tây nam giáp Campuchia và Đồng
bằng sông Cửu Long, phía đông - đông nam giáp Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung
Bộ. Vùng có diện tích tự nhiên 23.605 km2, chiếm 7,1% diện tích cả nước.
Đây là vùng chuyển tiếp giữa vùng kinh tế Tây Nguyên, vùng Duyên Hải Nam Trung
Bô với vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Đây là vùng kinh tế phát triển nhất đất nước.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status