ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐÀO THÁI SƠN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ
MA TRƯỜNG NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐÀO THÁI SƠN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ
MA TRƯỜNG NGUYÊN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Tạ Văn Thông
THÁI NGUYÊN - 2016
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Tạ Văn Thông,
thầy đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn nhà thơ Ma Trường Nguyên đã cung cấp những
tư liệu trong quá trình thực hiện luận văn.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Đào Thái Sơn
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... ii
MỤC LỤC .........................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ..................................................................... vi
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 4
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 6
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 6
7. Bố cục của luận văn ......................................................................................... 7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI ........................................................................................................................ 8
1.1. Các khái niệm chung .................................................................................... 8
1.1.1. Ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật ....................... 8
3.1.4. Chiến tranh và không khí chiến đấu trong những ngày gian khổ. ............ 81
3.2. Một số biểu tượng ngôn ngữ học thường gặp ............................................... 84
iv
3.2.1. Khái quát về các biểu tượng ngôn ngữ học thường gặp trong thơ
Ma Trường Nguyên............................................................................................. 84
3.2.2. Biểu tượng “hoa” ..................................................................................... 85
3.2.3. Biểu tượng “núi”...................................................................................... 89
3.2.4. Biểu tượng “dòng sông” .......................................................................... 92
3.3. Tiểu kết ....................................................................................................... 95
KẾT LUẬN............................................................................................................... 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 100
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số lần xuất hiện các thể thơ .............................................................. 39
Bảng 2.2. Bảng phân loại thể thơ 7 chữ, 8 chữ ................................................. 46
Bảng 2.3. Vần trong các thể thơ ........................................................................ 48
Bảng 2.4. Các loại vần xét theo vị trí gieo vần và mức độ hoà âm ................... 49
Bảng 2.5. Các loại vần trong thơ Ma Trường Nguyên xét theo
thanh điệu........................................................................................................... 56
Bảng 2.6. Bảng thống kê một số loại nhịp thường gặp trong thơ
Ma Trường Nguyên ........................................................................................... 59
Bảng 2.7. Số lượng chữ trong tiêu đề thơ.......................................................... 63
Bảng 2.8. Số lượng dòng trong thơ ..................................................................... 64
sinh ra và lớn lên ở “thủ đô gió ngàn”- mảnh đất “địa linh nhân kiệt” trong cuộc
kháng chiến 9 năm trường kì anh dũng của dân tộc ta. Chính quê hương ATK
(Định Hóa, Thái Nguyên) với cảnh sắc nên thơ, trữ tình và những người dân
chân chất, mộc mạc, đằm thắm nhưng dũng cảm, kiên cường đã thổi vào tâm
hồn ông chất men say và cái nhìn sắc sảo trước hiện thực của văn chương. Để
rồi như các nhà văn đồng nghiệp cùng thời với ông nhận xét, thì “Ma Trường
Nguyên, cần mẫn viết như một chú ong thợ”. Ông đã cho ra đời 16 tập thơ,
trường ca, kí và tiểu thuyết, trong đó có nhiều tác phẩm viết về đề tài miền núi.
Đã có nhiều bài viết về tác giả Ma Trường Nguyên và các tác phẩm của ông
trên các báo Văn nghệ, tạp chí Văn học và một số bài viết trong sách, báo chí
Trung ương, địa phương..., song hầu hết mới đi vào một vài khía cạnh chung về
phương diện nội dung và chủ đề tư tưởng. Đặc điểm ngôn ngữ thơ của Ma
Trường Nguyên hầu như vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
Đó chính là những lí do để đề tài: “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Ma Trường
Nguyên" được chọn làm hướng nghiên cứu trong luận văn này.
1
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Ngôn ngữ từ xưa đến nay là chất liệu không thể thiếu của văn
chương, là một trong những yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến sự sáng tạo tác
phẩm văn chương nói chung. Bùi Minh Toán cho rằng: “Dường như mối quan
hệ giữa ngôn ngữ và văn chương như là hai lĩnh vực trong nền văn hoá dân
tộc, trong đó ngôn ngữ vừa là một thành tố của văn hoá, vừa là một phương
tiện (chất liệu) của văn hoá (bao gồm văn chương) nhưng chưa được quan tâm
đúng mức”[33; tr 56].
Từ đó, nghiên cứu văn học nhất thiết không thể bỏ qua mặt ngôn ngữ của
các tác phẩm, không chỉ bởi vì mọi yếu tố, mọi bình diện khác của văn học đều
chỉ có thể được biểu đạt qua ngôn ngữ, mà còn vì sáng tạo ngôn ngữ là một
trong những mục đích quan trọng, cũng là một phần không nhỏ trong sự đóng
hiện thực, văn xuôi làm việc trước hết bằng thao tác kết hợp” [2; tr 51] còn
trong thơ, “tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây
dựng các thông báo” [2; tr 52]. Vì thế, với văn xuôi “lặp lại là điều tối
kị”trong khi đó “chính cái điều văn xuôi rất kị ấy lại là thủ pháp làm việc của
thơ” [2; tr 52].
Lịch sử nghiên cứu văn học, xét về một phương diện cũng chính là lịch sử
của nghiên cứu ngôn ngữ văn học. Ngôn ngữ văn học vừa là điều kiện, lại vừa là
kết quả của quá trình vận động, biến đổi của văn học qua các thời kỳ, giai đoạn.
Sự thay đổi văn học cũng đi liền với sự thay đổi của ngôn ngữ văn học, và qua
đó phản ánh sự biến đổi của đời sống xã hội, của tư duy, của môi trường văn hóa
tinh thần và các giá trị của quan niệm thẩm mĩ.
2.2. Ma Trường Nguyên là một nghệ sĩ đa tài. Ông không chỉ làm thơ,
viết văn mà còn viết tiểu luận, phê bình. Ông bắt đầu bằng sáng tác thơ, rồi sau
viết văn xuôi. Tác giả tâm sự rất hồn nhiên: “Cái gì mà thơ không nói được thì
tôi nói trong tiểu thuyết; và ngược lại, cái gì không nói được trong tiểu thuyết
tôi nói trong thơ”.
3
Qua lời tự bạch trong cuốn “Nhà văn Việt Nam hiện đại” (Nxb Hội nhà
văn, 1997), Ma Trường Nguyên viết: “ Tôi sống thật như tôi. Tôi tự nhủ không
phải viết như thế nào? mà sống thế nào để viết”[19; tr 74]. Sống thật để viết thật.
Viết từ cái tâm hồn không có chút giả dối. Chỗ mạnh và cái hay của tác phẩm
Ma Trường Nguyên phần lớn là ở chỗ đó.
Đã có nhiều nhà văn, nhà thơ viết về Ma Trường Nguyên với những tâm
sự chân thật. Trung Trung Đỉnh cho đó là “Người đốt lửa bằng trái tim” với
“dáng vẻ chân tình đến thật thà và hiền lành”. Ngô Quang Miện sau khi đọc
xong thơ Ma Trường Nguyên đã cảm nhận: “Bắt gặp cái mộc mạc, hồn nhiên
của những con người sống giữa thiên nhiên. Những câu thơ không khắc họa,
Bắc cầu vồng thăm nhau (thơ) NXB Hội nhà văn, 2007;
Mở núi (thơ và trường ca), NXB Hội nhà văn, 2011.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm thơ
của Ma Trường Nguyên, nhưng chỉ tập trung nghiên cứu các tác phẩm thơ
được viết bằng tiếng Việt của ông.
Luận văn chủ yếu tập trung vào các đặc điểm hình thức (thể, vần, nhịp,
cách tổ chức bài thơ…) và các đặc điểm về ngữ nghĩa (một số trường từ vựng,
ngữ nghĩa và một số biểu tượng ngôn ngữ học thường gặp).
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu ngôn ngữ thơ Ma Trường Nguyên hướng tới mục đích là để chỉ ra
được những nét đặc sắc của ngôn ngữ trong thơ Ma Trường Nguyên, đồng thời
cho thấy được phần nào những đặc điểm phong cách nghệ thuật trong thơ ông.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài. Tìm hiểu về nhà thơ Ma
Trường Nguyên và sự nghiệp của ông.
5
- Tập hợp tư liệu, thực hiện khảo sát, thống kê và phân loại các tác phẩm
trong thơ Ma Trường Nguyên.
- Miêu tả những đặc điểm về mặt hình thức và từ vựng - ngữ nghĩa trong
các tác phẩm thơ Ma Trường Nguyên.
- Chỉ ra phong cách, những nét văn hóa, cái nhìn của tác giả trước hiện
thực được đề cập trong thơ của ông, được thể hiện qua chất liệu ngôn ngữ.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê – phân loại: Được sử dụng để thu thập và phân
loại, tìm ra các quy luật xuất hiện của các câu thơ, bài thơ chứa đựng hiện tượng
ngôn ngữ cần nghiên cứu trong ngôn ngữ nghệ thuật
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Các khái niệm chung
1.1.1. Ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì: “Ngôn ngữ mang tính nghệ thuật
được dùng trong văn học. Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này có ý nghĩa rộng
hơn nhằm chỉ một cách bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùng một cách
chuẩn mực trong các văn bản nhà nước, trên báo chí, đài phát thanh, trong văn
bản và khoa học”[16; tr 125].
Theo cuốn Lí luận văn học ( Phương Lựu chủ biên), Ngôn ngữ nghệ thuật
là: “...một hệ thống các phương thức, quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ
của một ngành, một sáng tác nghệ thuật. Người ta có thể nói “ngôn ngữ ba lê”,
“ngôn ngữ chèo”, “ngôn ngữ điện ảnh”. Cũng có thể nói đến ngôn ngữ nghệ
thuật của sáng tác văn học trên cấp độ đó”[24; tr 185]. Ngôn ngữ nghệ thuật
còn được gọi là ngôn ngữ văn học, chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn
chương. Ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học là ngôn ngữ toàn dân đã
được nghệ thuật hóa. Ngôn ngữ ấy đã được chọn lọc, gọt rũa, trau chuốt... và đặc
biệt ngôn ngữ ấy phải đem lại cho người đọc những cảm xúc thẩm mỹ, xúc cảm
được nhận biết thông qua những rung động tình cảm. Điều này khác hẳn với
những cảm xúc khoa học – những rung động thông qua suy lý và chứng minh.
Như vậy, ngôn ngữ nghệ thuật là một yếu tố quan trọng thể hiện cá tính
sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn. Và ngôn ngữ nghệ thuật chính là
ngôn ngữ nhân dân, ngôn ngữ dân tộc được tác giả vận dụng tổ chức trong tác
phẩm để tạo ra hiệu quả và giá trị thẩm mỹ
8
1.1.1.2. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Người nghệ sĩ tài năng là người nghệ sĩ
Trước tiên, phải khẳng định ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của
văn học. Vì vậy, văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ. M.Gorki
khẳng định: "ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học"[13; tr 178]. Từ đó có
thể hiểu: "ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học" (dẫn theo
Đái Xuân Ninh, [28, tr 149]). Thơ là một thể loại sáng tác của văn học nghệ
thuật. Do đó ngôn ngữ thơ trước hết là ngôn ngữ của văn học nghệ thuật.
Nếu xét về phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một đặc trưng về
ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hoá, khái quát hoá hiện thực khách
quan theo cách tổ chức riêng của thơ ca
Trên thế giới, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã chỉ ra sự khác
nhau giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi. Jacobson đã từng nói rằng:
“chức năng của thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu
trên trục kết hợp” [22; tr 83], ông nhấn mạnh cơ chế hoạt động của ngôn ngữ
thơ là cơ chế lựa chọn và cơ chế kết hợp. Bên cạnh đó, trên các nguyên lí của
F. de Saussure trong giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Jacobson còn chỉ ra
trong thơ hình thức ngữ âm là vô cùng quan trọng. Ông nhấn mạnh các yếu tố
âm thanh như âm vận, điệp âm, điệp vận, khổ thơ,… là những đơn vị thuộc
bình diện hình thức. Có thể nói, đây là những cơ sở xuất phát quan trọng trong
việc nhận diện ngôn ngữ thơ. Trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ
thơ, tác giả Nguyễn Phan Cảnh cũng đã dựa vào lí thuyết hệ hình để xem xét
thơ từ phương thức lựa chọn ngôn từ trong các hệ hình, để tạo ra hiệu quả biểu
đạt cao nhất. Ông còn nêu ra lí thuyết trường nét dư. Trong đó tác giả chỉ ra
rằng để thiết lập nên các tổ chức ngôn ngữ trên trục lựa chọn và trục kết hợp,
nhà thơ phải sử dụng đến thao tác loại bỏ trường nét dư, chính là quá trình
hình thành thể thơ. Nét dư được loại bỏ càng nhiều thì hàm lượng thông tin
11
càng cao và càng đòi hỏi ở người tiếp nhận năng lực tiếp nhận và kết cấu “lạ”
những đơn vị này tạo nên âm hưởng, tiết tấu và nhạc điệu trong thơ: khi du
dương, khi trầm bổng, khi dìu dặt ngân nga, khi dồn dập. Vì thế khi khai thác
tính nhạc trong thơ chúng ta cần chú ý những đối lập sau:
- Sự đối lập về trầm / bổng, khép/ mở của các nguyên âm làm đỉnh vần.
- Sự đối lập vang / ồn giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh
trong các phụ âm cuối.
- Sự đối lập về cao/ thấp, bằng /trắc giữa các thanh điệu.
Bên cạnh sự đối lập đó, cần phải chú ý đến vần và nhịp bởi hai yếu tố
này cũng góp phần quan trọng trong việc tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca.
Tính nhạc trong ngôn ngữ đưa thơ ca xích lại gần với âm nhạc. Vì vậy, mà từ
xa xưa, nhiều hình thức ca hát dân tộc đã lấy thơ ca dân gian làm chất liệu sáng
tác âm nhạc, và trong nền âm nhạc hiện đại, nhiều bài thơ được các nhạc sĩ phổ
nhạc thành công như: Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, Đợi của Vũ Quần
Phương, Em đi chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Biển nỗi nhớ và em của
Hữu Thỉnh
Nhạc thơ là thứ nhạc đặc trưng, nó khác với âm nhạc thông thường.
Nhạc thơ được tạo thành bởi các yếu tố vần điệu và nhịp điệu.
a1.Về vần điệu
Trong thơ vần có một vị trí quan trọng. Vần là yếu tố lặp lại của một bộ
phận âm tiết. Ở các khổ thơ, câu thơ, vần có chức năng tổ chức, chức năng liên
kết các câu thơ (dòng thơ) thành khổ thơ, các khổ thơ thành bài thơ. Có thể
hình dung: "Vần như sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau, do đó giúp
người đọc được thuận miệng, nghe thuận tai và làm cho người nghe dễ thuộc,
dễ nhớ" [5; tr. 215].
13
Vần còn là yếu tố quan trọng tạo nên sự hoà âm giữa các câu thơ. Đơn vị
biểu diễn vần trong thơ tiếng Việt là âm tiết, trong các vần thơ bao giờ cũng có
tạo ra từ sự ngắt nhịp. Nhịp điệu chỉ cách thức nhất định khi phát âm hay còn
gọi là sự ngắt nhịp. Cho đến nay, ngắt nhịp trong thơ có thể phân thành hai loại
là ngắt nhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm lí. Nhịp thơ gắn kết tình cảm, cảm xúc,
là những ngân vang trong tâm hồn nhà thơ. Các trạng thái xúc động, rung cảm,
cảm xúc... đều ảnh hưởng đến việc lựa chọn và tổ chức của câu thơ. Hai loại
nhịp này có khi hoà quyện vào nhau, có khi tách bạch tuỳ vào cấu trúc ngôn từ
của dòng thơ, thể thơ và cảm hứng của nhà thơ. Như vậy, nhịp thơ là cái được
nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chu kì, cánh quãng hoặc luân
phiên theo thời gian của những chỗ ngừng nghỉ, ngắt hơi trên những đơn vị cơ
bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, thậm chí cả đoạn thơ. Yếu tố tạo nên nhịp
điệu là những chỗ ngừng nghỉ trong sự phân bố mau thưa theo sự chuyển định
của thể thơ hoặc theo sự đa dạng của cảm xúc, thi hứng. Nhịp thơ khác với nhịp
văn xuôi. Nhịp thơ không hoàn toàn trùng với nhịp cú pháp. Trong một số thể
thơ cách luật, ngắt nhịp bị chi phối bởi yếu tố tâm lý và cấu trúc âm điệu. Cách
ngắt nhịp, tạo nhịp trong thơ hết sức đa dạng, muôn màu muôn vẻ, tùy vào từng
bài thơ cụ thể. Nhịp trong thơ thể hiện bản sắc của từng nhà thơ, bộc lộ cá tính
thi ca rõ nét.
Ví dụ: Trong thơ lục bát, sự ngắt nhịp trước hết diễn ra dưới áp lực của
vần lưng và xu hướng tăng song tiết hoá của tiếng Việt. Vì vậy, trong thể thơ
này lúc nào cũng chứa một loại nhịp đặc thù là nhịp tâm lý. Nhịp này xuất hiện
khi bối cảnh không đủ sức cho nhịp lẻ tồn tại. Nhịp tâm lý có nguồn gốc từ sự
đồng hóa nhịp lẻ bởi tính nhịp nhàng của nhịp đôi trong dòng thơ và giữa các
cặp 6/8 với nhau. Nhịp chẵn 2/2/2; 2/2/2/2 và tiết tấu nhịp đôi đã hình thành từ
lâu và trở thành nét đặc trưng của tiếng Việt. Loại nhịp này dễ dàng tương hợp
với mỗi dòng thơ lục bát vốn có số tiếng chẵn. Tuy nhiên, không loại trừ nhịp
lẻ mặc dù loại nhịp này không có tính ưu thế vì người Việt vốn ưa cân đối, hài
15