ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ TAI BIẾN SẠT LỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
BÌNH ĐỊNH (TRỪ HUYỆN VÂN CANH) VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
PHÒNG CHỐNG, GIẢM THIỂU THIỆT HẠI VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI
CNĐT: PGS. TS. Đỗ Minh Đức
CQCT: Trung tâm triển khai công nghệ khoáng
chất, Trường ĐH Mỏ - Địa chất, Hà Nội
CBPH: Nguyễn Kim Long, Đỗ Văn Nhuận, Đỗ
Đình Toát, Nguyễn Ngọc Trực
TGTH: 3/2008-3/2010
MỞ ĐẦU
Tỉnh Bình Định có cấu trúc địa chất phức tạp, đặc biệt là các hoạt động tân kiến
tạo gây ra sự phân cắt địa hình mạnh mẽ, tăng độ dốc sườn, dẫn đến phát triển hiện
tượng sạt lở, đặc biệt là trong các đợt mưa lũ lớn. Trong điều kiện tự nhiên không
thuận lợi, các hoạt động nhân sinh đã làm phát sinh và cường hoá hiện tượng sạt lở,
gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng, là cản trở đáng kể cho sự phát triển bền vững. Mặt
khác, trong thời gian gần đây, do sự xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn của các
hình thế thời tiết bất lợi, hiện tượng sạt lở đã gây ra nhiều thảm hoạ tàn khốc ở nhiều
khu vực trên lãnh thổ Việt Nam. Là khu vực có nhiều đặc điểm tương tự về điều kiện
tự nhiên, nhất là địa hình dốc, khả năng diễn ra các đợt mưa với cường độ lớn, tỉnh
Bình Định cũng có nhiều khu vực chứa đựng ẩn hoạ về tai biến sạt lở đất. Thêm vào
đó hoạt động khai thác đá xây dựng, đá oplat ở các quy mô khác nhau trên sườn dốc
tạo ra rất nhiều ẩn họa về sạt lở mái dốc đá (đá đổ). Từ thực tế trên cho thấy, địa bàn
tỉnh Bình Định có nguy cơ cao về tai biến sạt lở. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có
các nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về các tai biến này.
I. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu
- Điều tra hiện trạng sạt lở và ảnh hưởng của chúng đến các hoạt động phát triển
kinh tế xã hội tại các khu vực đất dốc của tỉnh Bình Định, nhất là tại Lộ Diêu và Núi
Dung.
- Xác định các nguyên nhân, dự báo quy mô phát triển hiện tượng sạt lở, từ đó
- Phương pháp phân tích các loại mẫu xác định thành phần, cấu trúc của các
loại đất đá và đặc biệt là các tính chất cơ lý.
- Phương pháp thành lập các sơ đồ địa chất công trình
- Phương pháp mô hình toán học: Xây dựng mới và sử dụng các chương trình
thích hợp để xác định các nguyên nhân gây ra sạt lở; dự báo các khu vực có tiềm năng
phát sinh tai biến theo các mức độ khác nhau.
- Phương pháp thành lập sơ đồ phân vùng dự báo nguy cơ sạt lở theo các mức
độ từ rất cao đến thấp, từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu tai biến.
II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Hiện trạng và nguyên nhân sạt lở mái dốc ở tỉnh Bình Định
Kết quả khảo sát ở các khu vực đất dốc trong tỉnh Bình Định ở tỷ lệ 1: 50.000
đã xác định được các khu vực trọng điểm về sạt lở mái dốc (không kể huyện Vân
Canh) bao gồm:
- Khu vực thành phố Quy Nhơn, bao gồm cả tuyến đường Quy Nhơn - Sông
Cầu và quốc lộ 1A qua đèo Cù Mông
- Tuyến tỉnh lộ đi An Toàn, An Nghĩa huyện An Lão
- Tuyến tỉnh lộ ven biển huyện Hoài Nhơn
- Tuyến tỉnh lộ đi Đăk Mang huyện Hoài Ân
- Tuyến tỉnh lộ 637 qua huyện Vĩnh Thạnh
- Tuyến tỉnh lộ ven biển huyện Phù Cát
- Tuyến quốc lộ 19, đặc biệt là đèo An Khê, huyện Tây Sơn
- Các mỏ khai thác đá xây dựng và đá ốp lát
- Trong các khu vực kể trên, khu vực đèo Lộ Diêu (huyện Hoài Nhơn) và Núi
Dung (huyện An Nhơn) sẽ được tiến hành nghiên cứu chi tiết ở tỷ lệ 1: 10.000.
1.1. Hiện trạng sạt lở khu vực thành phố Quy Nhơn và phụ cận
* Tuyến đường Quy Nhơn - Sông Cầu: Các điểm khảo sát bao gồm điểm
B336 đến B352. Đây là tuyến tránh quốc lộ 1A đi qua thành phố Quy Nhơn, chạy dọc
theo ven biển các phường Nguyễn Văn Cừ và Ghềnh Ráng đến huyện Sông Cầu của
tỉnh Phú Yên. Tuyến đường có mật độ giao thông tương đối cao. Dọc theo tuyến
đường chủ yếu phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng ở ven biển. Theo hướng từ Quy
tuyến cắt qua các thành tạo địa chất thuộc hệ tầng Mang Yang, đoạn này có địa hình
tương đối dốc (trên 45o), ghi nhận một khối trượt nhỏ thể tích khoảng 120m3, bề dày
vỏ phong hóa 2m thành phần chủ yếu là sét pha có lẫn dăm sạn đá gốc. Các khối trượt
có quy mô tương đối lớn, khi xảy ra có thể san lấp một phần đường, gây nguy hiểm
cho người và phương tiện giao thông trên đường. Nguyên nhân chính dẫn đến hiện
tượng sạt lở ở đây là góc mái dốc lớn, chủ yếu từ 55-600. Bên cạnh đó tầng đất phong
hóa có độ rỗng và tính thấm lớn, sức chống cắt giảm mạnh khi bị tẩm ướt bởi nước
mưa.
1.2. Tuyến tỉnh lộ đi An Toàn, An Nghĩa huyện An Lão: Tuyến khảo sát
khoảng 7.5km bao gồm các điểm từ 26-34. Đây là tuyến ngắn, đi qua địa phận hai xã:
An Toàn và An Nghĩa có địa hình tương đối dốc. Toàn bộ tuyến khảo sát cắt qua các
thành tạo địa chất thuộc phức hệ Đèo Cả. Trên tuyến khảo sát này nhìn chung hiện
tượng sạt lở xảy ra khá phổ biến, đã ghi nhận được 8 điểm sạt lở xảy ra, chủ yếu là
hiện tượng trượt trong vỏ phong hóa dày từ 2-5m, tại một số điểm khảo sát có hiện
tượng các tảng lăn mài tròn tốt lẫn trong vỏ phong hóa, chính vì vậy khi xảy ra trượt
đất các khối đá này có thể lăn xa gây nguy hiểm cao. Điển hình tại điểm khảo sát 28
ghi nhận được một khối trượt cao 12m, dài 30m, góc dốc taluy 65o. Đặc biệt trên tuyến
khảo sát đã phát hiện một khối trượt lớn tại hai điểm khảo sát 30 và 31. Khối trượt
trong vỏ phong hóa dày chừng 5m, cao khoảng 25m, dài trên 100m, góc dốc taluy 60o.
1.3. Tuyến tỉnh lộ ven biển huyện Hoài Nhơn: Đây là tuyến khảo sát trên
đường tỉnh lộ ven biển có tổng chiều dài khoảng 16km gồm các điểm khảo sát từ B67B62 và đi qua các khu du lịch nổi tiếng của tỉnh Bình Định như: khu du lịch Lộ Diêu,
khu du lịch Tam Quan. Trong tuyến khảo sát không xuất hiệt trường hợp sạt lở nào,
chủ yếu tuyến cắt qua các thành tạo địa chất Đệ tứ, nguồn gốc biển và gió thành phần
chủ yếu là cát thạch anh màu trắng, hạt trung. Kết thúc tuyến khảo sát tại điểm B62
chân đèo Lộ Diêu phía Hoài Nhơn.
1.4. Tuyến tỉnh lộ đi Đăk Mang huyện Hoài Ân: Tuyến khảo sát bao gồm các
điểm từ B78-B99 đi qua địa phận hai xã Vĩnh Hòa và Vĩnh Kim dài khoảng 9.7km.
3
Đoạn thứ nhất từ điểm khảo sát B140-2 đến B138-2 có chiều dài khoảng 5.8km
đi qua địa phận xã Cát Hải có các điểm du lịch như: Tân Thanh, Vĩnh Hội, tuyến cắt
qua khu vực địa hình tương đối dốc (>60o) có các thành tạo địa chất thuộc phức hệ
Đèo Cả. Trên đoạn khảo sát thường xuất hiện các hiện tượng đá đổ, đá lăn do các khối
Granit nằm lẫn trong lớp vỏ phong hóa. Điển hình như tại điểm khảo sát B139 đèo Tân
Thanh, chiều cao mái dốc từ 12-15m, độ dốc 80o nguy cơ đá đổ từ trên xuống đường là
rất cao. Đoạn còn lại đi qua địa phận xã Cát Tiến có chiều dài khoảng 7.7km bao gồm
các điểm khảo sát từ B135-B138, B141-B144, tuyến đi qua các thành tạo địa chất
thuộc phức hệ Vân Canh chủ yếu là các đá Granit, Granosyenit hạt nhỏ. Trên tuyến
nghiên cứu, đi qua khu vực địa hình tương đối dốc, có nhiều hiện tượng khai thác đá
Granit nhỏ lẻ của tư nhân, chưa có các biện pháp khai thác an toàn chính vì vậy hiện
tượng đá lăn, đá đổ có nguy cơ rất cao.
1.7. Tuyến quốc lộ 19, đặc biệt là đèo An Khê, huyện Tây Sơn: Đây là tuyến
khảo sát tương đối ngắn, khoảng 4km, tập trung khảo sát chủ yếu khu vực đèo An Khê,
bao gồm các điểm khảo sát từ B72-B77. Đoạn khảo sát nằm hoàn toần trên các thành
tạo địa chất thuộc phức hệ Bến Giằng. Tuyến này nhìn chung có độ ổn định cao, một
số điểm xuất hiện các khối tượt quy mô nhỏ và một số điểm có nguy cơ đá đổ ở mức
độ trung bình. Ghi nhận được tại điểm khảo sát B72, B74 có các khối trượt 2-3m3, mái
4
dốc cao 8-10m, góc dốc 50o. Tại các điểm khảo sát B73, B75-B77 có thể xảy ra hiện
hiện tượng đá đổ với nguy cơ thấp, mái dốc cao chùng 10-15m, kích thước khối đá nhỏ
hơn 0.5m.
2. Các giải pháp phòng chống sạt lở mái dốc ở tỉnh Bình Định
Trên cơ sở các kết quả đã trình bày ở trên, các giải pháp phòng chống sạt lở
được đề tài đề xuất theo nguyên tắc đảm bảo sự an toàn cho các khu dân cư, phát triển
bền vững, sử dụng có hiệu quả các cơ sở hạ tầng và tiếp theo là chi phí thực hiện giải
pháp phải phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định nói chung, khu vực xảy
ra tai biến sạt lở nói riêng. Như vậy, trình tự ưu của các nhóm giải pháp là quy hoạch
nước mưa, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tháo khô đất đá nhờ quá trình thoát hơi nước
của cây. Ngoài ra, lớp phủ thực vật còn gia cố cơ học bằng hệ thống rễ của nó và bảo
vệ đất đá khỏi bị rửa xói và rửa trôi do nước mưa gây ra.
* Các giải pháp về quản lý:
- Không xây dựng nhà ở và các cơ sở hạ tầng khác quá gần mái dốc của các
tuyến đường giao thông. Hiện nay một hiện tượng khá phổ biến khi phát triển các
đường giao thông liên xã là đất đá khai đào ở taluy phần địa hình cao được đổ trực tiếp
về phía taluy âm, tạo ra nguồn vật liệu dẫn đến sự hình thành lũ bùn đá khi xảy ra mưa
lớn, gây mất an toàn cho người và tài sản ở phần địa hình thấp. Vì vậy, mỗi tuyến
5
đường phải khoanh định được các vành đai không an toàn, trong phạm vi vành đai này
nghiêm cấm việc xây dựng công trình và khai thác rừng. Cảnh báo các hộ dân có trong
danh sách nguy hiểm cần có biện pháp thích hợp để phòng ngừa.
- Quản lý nghiêm và có hiệu quả việc khai thác đá xây dựng và đá ốp lát, đặc
biệt là việc khai thác granit dạng tảng lăn trên các khu vực đất dốc ở quy mô nhỏ lẻ.
- Thường xuyên kiểm tra và đôn đốc việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về
an toàn lao động trong các khu mỏ đá xây dựng và đá ốp lát.
* Giải pháp về đầu tư thăm dò, khai thác và chế biến đá ốp lát
- Không cấp phép mới hoặc mở rộng các diện tích hoặc kéo dài thời hạn cho
các dự án chỉ khai thác đá ốp lát tảng lăn và phong hoá sót trên mặt. Chỉ cấp phép đầu
tư mới các xưởng chế biến đá ốp lát granit với điều kiện thăm dò và khai thác đá gốc.
Các dự án này có thể được khai thác đá lăn trên diện tích được cấp phép.
- Do hầu hết các doanh nghiệp khai thác, chế biến đá ốp lát đều là các doanh
nghiệp nhỏ, một số ít có quy mô vừa; nên không có điều kiện đầu tư tìm kiếm thăm dò
một cách bài bản đá ốp lát gốc có màu đẹp, độ nguyên khối tốt. Vì vậy, tỉnh có thể tạo
cơ chế huy động vốn để đầu tư tìm kiếm, thăm dò các mỏ đá ốp lát granít có chất
lượng tốt, quy mô lớn để đấu thầu khai thác.
- Các doanh nghiệp tham gia đấu thầu khai thác phải là những doanh nghiệp
6
khai đào phát triển hạ tầng và khai thác vật liệu xây dựng. Các hiện tượng mất ổn định
mái dốc gồm hai loại chính là trượt đất và đá đổ. Nguyên nhân là góc dốc lớn, đất, đá
có sức chống cắt giảm mạnh khi bị tẩm ướt bởi nước mưa, nước mặt.
- Để giảm thiểu rủi ro sạt lở ở các khu vực đất dốc tỉnh Bình Định cần kết hợp
hài hòa các giải pháp về quy hoạch khu dân cư, quản lý tốt việc khai thác khoáng sản
và các giải pháp công trình.
- Khu vực Lộ Diêu nằm trong vùng có cấu trúc địa chất phức tạp, các loại đá
gốc (chủ yếu là của hệ tầng Kim Sơn - A-PPks) bị uốn nếp, nứt nẻ rất mạnh. Sạt lở ở
đây liên quan đến phức hệ thạch học sườn-tàn tích và tầng đất đá thải của quá trình
làm đường. Sức chống cắt của đất sườn-tàn tích giảm tới 20-30% khi bão hòa nước.
- Hiện tượng sạt lở xảy ra mạnh mẽ ở tuyến đường qua đèo Lộ Diêu ở cả hai
phía taluy dương và âm, với 14 khối trượt lớn (có 2 khối ở phía taluy âm). Sạt lở xảy
ra do góc dốc mái quá lớn, đất đá có sức chống cắt suy giảm mạnh khi bị tẩm ướt bởi
nước mưa, nước mặt.
- Khu vực có nguy cơ sạt lở rất cao và cao ở Lộ Diêu chỉ tập trung ở đường giao
thông qua đèo. Tuy nhiên do chênh cao địa hình và khối lượng đất đá thải lớn nên
phạm vi tác động của các khối trượt phía taluy âm rất rộng. Để phòng chống sạt lở cần
áp dụng các giải pháp công trình gia cường mái dốc, đồng thời di chuyển các hộ dân
có nguy cơ rất cao chịu ảnh hưởng của sạt lở.
- Khu vực Núi Dung phân bố chủ yếu các đá của hệ tầng Mang Yang với cấu
trúc địa chất phức tạp, hình thành nhiều hệ thống khe nứt thuận lợi cho việc hình thành
các khối trượt. Các đá gốc ở đây bị phong hóa mạnh mẽ, tạo ra tầng đất sườn-tàn tích
và đá gốc phong hóa hoàn toàn có bề dày từ 2m đến hơn 10m, rất nhạy cảm với hiện
tượng sạt lở.
- Hiện tượng sạt lở xảy ra mạnh mẽ, chủ yếu liên quan đến các mỏ khai thác vật
liệu xây dựng, phần ít hơn là ở các taluy đường, khu vực tập trung dân cư ở thôn
Huỳnh Kim (xã Nhơn Hòa, An Nhơn). Sạt lở xảy ra do góc dốc mái quá lớn, độ bền