Mở ĐầU
1. TíNH CấP THIếT CủA Đề TàI
Tình hình tội phạm hoạt động mại dâm (TP HĐMD) ở nớc ta
trong những năm gần đây có nhiều diễn biến hết sức phức tạp. TP
HĐMD đã gây ra hậu quả xấu trên nhiều mặt trong đời sống xã hội,
ảnh hởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, vi phạm nghiêm trọng
đạo đức, làm mất đi hạnh phúc của nhiều gia đình. Mại dâm là một
trong những nguyên nhân của đại dịch HIV/AIDS, các bệnh xã hội. Mại
dâm và TP HĐMD gắn liền với tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác,
làm mất ổn định trật tự xã hội. TP HĐMD tập trung hoạt động rất phức
tạp ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nớc, đặc biệt là các tỉnh, thành phố
có khu du lịch hoặc các địa phơng đang phát triển công nghiệp, có quá
trình đô thị hóa nhanh. Điển hình là tỉnh Bình Dơng.
TP HĐMD ở tỉnh Bình Dơng những năm trớc đây xuất hiện ít,
mang tính chất tự phát ở những khu trung tâm thị trấn, thị xã. Những
năm gần đây nhiều tổ chức TP HĐMD hình thành và hoạt động với thủ
đoạn tinh vi, xảo quyệt và len lỏi đến hầu hết địa bàn trong tỉnh, nhiều
vụ có dấu hiệu ngời nớc ngoài tham gia. Từ năm 2002 đến cuối tháng
06 năm 2007, lực lợng Công an tỉnh Bình Dơng đã phát hiện, triệt phá
151 vụ hoạt động mại dâm, trong đó đã làm rỏ xử lý hình sự 119 vụ
181 đối tợng; xử lý hành chính 33 vụ, đa 334 đối tợng đi trung tâm giáo
dục, dạy nghề, chữa bệnh, phạt tiền 686.200.000 đồng. Lực lợng Công
an toàn tỉnh, trong đó chủ công là lực lợng CSHS, CSĐT (nay là CSĐT
TP về TTXH) đã có nhiều nỗ lực, lập nhiều kế hoạch truy quét, phát
hiện, xử lý mại dâm và kiên quyết lập hồ sơ truy tố những vụ có dấu
1
hiệu tội phạm. Số vụ bị khởi tố hình sự hàng năm có lúc tăng, có lúc
giảm. Tuy nhiên loại tội phạm này chỉ tạm thời lắng xuống khi lực lợng
Công an tổ chức truy quét mạnh, sau một thời gian chúng lại tiếp tục
hoạt động, thậm chí bằng thủ đoạn tinh vi hơn, xảo quyệt và câu kết
chặt chẽ hơn. Thực tế cho thấy: TP HĐMD trên địa bàn Bình Dơng diễn
Học viện CSND -Năm 2006, luận văn Thạc sĩ luật học, "Thực trạng và
giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, điều tra khám phá tội phạm
về mại dâm trên địa bàn tỉnh Quảng Bình theo chức năng của lực lợng
CSND" của tác giả Hoàng Tiểu Phơng, Học viện CSND -Năm 2006 và
một số công trình là các đề tài nghiên cứu khoa học, chuyên đề của
các tác giả khác. Riêng trên địa bàn tỉnh Bình Dơng có đề tài tốt
nghiệp cử nhân kinh Tế: "Phòng chống tệ nạn x hội tỉnh Bình Dã ơng,
thực trạng và giải pháp (2000-2005)" của tác giả Bùi Công Khải cán
bộ Chi cục phòng chống TNXH thuộc Sở lao động-thơng binh xã hội
(LĐ-TBXH) Tỉnh Bình Dơng. Các công trình đó nghiên cứu trên các
khía cạnh khác nhau trong việc phòng, chống TP HĐMD. Tuy nhiên,
trên địa bàn tỉnh Bình Dơng, ngoài các báo cáo chuyên đề hàng năm
của Công an các huyện, thị và Công an tỉnh thì cha có công trình
nghiên cứu nào về vấn đề hoạt động NVTS trong điều tra TP HĐMD
một cách toàn diện, đề xuất đợc hệ thống giải pháp có thể vận dụng
vào thực tiễn lâu dài trong thời gian tới.
3. MụC TIÊU Và NHIệM Vụ NGHIÊN CứU
-Mục tiêu nghiên cứu : Làm rõ tình trạng, đặc điểm TP HĐMD
trên địa bàn tỉnh Bình Dơng, hoạt động điều tra nói chung, hoạt động
3
NVTS trong điều tra nói riêng đối với loại tội phạm này của lực lợng
CSĐT TP về TTXH Công an tỉnh Bình Dơng; tìm ra nguyên nhân của
tình trạng đó và những tồn tại, hạn chế trong công tác điều tra, đặc biệt
là hoạt động NVTS trong quá trình điều tra làm cơ sở đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong thời gian tới.
-Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt đợc mục tiêu, đề tài đi sâu giải
quyết các nhiệm vụ cơ bản sau :
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến hoạt động
NVTS trong điều tra TP HĐMD.
+ Nghiên cứu đặc điểm địa lý, dân c, kinh tế xã hội trên địa bàn
hình sự, tâm lý học và tội phạm học; các quan điểm của Đảng và Nhà
nớc ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm.
-Phơng pháp nghiên cứu cụ thể :
+ Phơng pháp nghiên cứu tài liệu.
+ Phơng pháp thống kê, tổng kết.
+ Phơng pháp điều tra điển hình.
+ Phơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp.
+ Phơng pháp tọa đàm, lấy ý kiến chuyên gia.
6. cơ sở lý luận và thực tiễn của việc NGHIÊN CứU
- Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống của các văn bản pháp luật
của nhà nớc, nghị quyết của Đảng, các hớng dẫn của Bộ và Thông t
liên Bộ, các tài liệu khoa học về phơng pháp và chiến thuật NVTS
trong hoạt động điều tra của các vụ án về mại dâm.
5
- Cơ sở thực tiễn của đề tài đợc đảm bảo bằng kết quả phân tích
nghiên cứu những vụ án mại dâm đợc phát hiện xử lý, những hoạt
động NVTS của lực lợng CSĐT TP về TTXH Công an tỉnh Bình Dơng.
Các báo cáo của Bộ Công an, Công an tỉnh Bình Dơng và các ngành
liên quan. Những cuộc tọa đàm đối với cán bộ chiến sĩ tham gia điều
tra các vụ án về mại dâm và thực tiễn công tác của bản thân trong thời
gian qua.
7. ý nghĩa thực tiễn và lý luận của việc NGHIÊN CứU
- Việc nghiên cứu đề tài nhằm đề xuất những giải pháp, kiến nghị
nâng cao hiệu quả tiến hành các hoạt động NVTS trong điều tra TP
HĐMD của lực lợng CSĐT TP về TTXH Công an tỉnh Bình Dơng.
Những đề xuất, kiến nghị của đề tài có thể đợc tham khảo, chọn lọc
vận dụng vào thực tiễn chỉ đạo và tổ chức hoạt động của lực lợng
CSĐT TP về TTXH Công an tỉnh Bình Dơng.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đợc dùng làm tài liệu phục vụ
cho quá trình nghiên cứu, tham khảo trong giảng dạy và học tập các
nghĩa ban đầu là bày ra để bán", chỉ việc bán thân một cách tùy tiện,
không thích thú. Mại dâm là một hiện tợng xã hội, biểu hiện các sự sai
lệch về chuẩn mực trong xã hội. Bởi vậy, theo nhà Bác học Pháp nổi
tiếng E.D.Kheim thì TNMD cũng giống nh "nạn tự sát", là dấu hiệu của
một xã hội rối loại kỷ cơng.
Mại dâm là một loại tệ nạn nguy hiểm, ảnh hởng xấu đến đạo
đức xã hội, hạnh phúc và phẩm giá con ngời, làm cho một bộ phận
quần chúng ngoài xã hội và trong các cơ quan nhà nớc bị sa đọa biến
chất. Hoạt động gái mại dâm thờng có quan hệ chặt chẽ với một số
loại tệ nạn khác nh: Cờ bạc, nghiện hút, dâm ô, trụy lạc, ngoại tình...
và kể cả với một số loại tội phạm hình sự. Đó là nguồn lây lan, là yếu
tố trực tiếp trực tiếp gieo rắc một số bệnh xã hội nguy hiểm nh: Lậu,
giang mai, AIDS.... làm suy thoái giống nòi và nguy hại đến
sức khoẻ con ngời.
TNMD là một hiện tợng tiêu cực trong đời sống xã hội, là một loại
tệ nạn xã hội, đang có xu hớng lây lan, phát triển nhanh và gây ra
những hậu quả tác hại về mọi mặt cho đời sống xã hội. Vì vậy, cần
phải đấu tranh và bài trừ. Tuy nhiên, cần phải có nhận thức đầy đủ về
loại tệ nạn này. Khi nói tới TNMD do các cách nghiên cứu và tiếp cận
nó khác nhau nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về TNXH:
8
+ Quan điểm của một số nhà tâm lý học cho rằng: "Mại dâm là
hành vi nhằm thực hiện các dịch vụ quan hệ tình dục có tính chất mua
bán trên cơ sở một giá trị vật chất nhất định ngoài phạm vi hôn nhân".
+ Các nhà xã hội học khi nghiên cứu về TNMD cho rằng: "Mại
dâm là một dịch vụ kinh doanh nhằm cung cấp sự thỏa m n tình dụcã
cho cá nhân trong những trờng hợp nhất định, nó cung cấp tình dục
mang tính đồi trụy và tạo ra không khí vô đạo đức đáng ngờ và nguy
hiểm, tác dụng nh thuốc kích thích đối với một số ngời nhất định, nó
cung cấp và đáp ứng nhu cầu tình dục cho những ngời không cần sự
động phòng chống TNMD giai đoạn 2001 2005; Pháp lệnh phòng
chống mại dâm ngày 31/3/2003; Chơng trình hành động phòng chống
TNMD giai đoạn 2006 2010 ... điều đó cho thấy Đảng và Nhà nớc ta
kiên quyết đấu tranh chống TNMD. Vì vậy, cần nắm vững các văn bản
pháp luật, các chỉ thị, nghị quyết và vận dụng tốt vào việc thực hiện
nhiệm vụ mình, quan hệ phối hợp giữa các lực lợng một cách hiệu quả.
Nh vậy mới nhanh chóng giải quyết đợc TNMD trên phạm vi toàn xã
hội.
Từ nhận thức trên có thể đa ra khái niệm: "Mại dâm là hành vi
thỏa m n nhu cầu tình dục của ngã ời khác ngoài quan hệ hôn nhân để
lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác". Mại dâm, là một loại TNXH cần
kiên quyết đấu tranh và loại trừ.
1.1.2. Qui định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay đối
với tội phạm về mại dâm
Điều 8 Bộ luật hình sự nớc CHXHCN Việt Nam năm 1999 qui
định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho x hội đã ợc qui định trong Bộ
10
luật hình sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn
vẹn l nh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nềnã
văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn x hội, quyền, lợi ích hợpã
pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân,
xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật x hội chủ nghĩaã .
Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định 03 tội danh liên quan tới
mại dâm tại các điều: Điều 254: Tội chứa mại dâm; Điều 255: Tội môi
giới mại dâm; Điều 256: Tội mua dâm ngời cha thành niên. Điểm mới
của Bộ luật hình sự năm 1999 là từ một tội chứa mại dâm, tội môi giới
mại dâm (Điều 202 -Bộ luật hình sự năm 1985) đã chuyển thành hai
tội: Tội chứa mại dâm (Điều 254); Tội môi giới mại dâm (Điều 255). Cụ
khác nhau để họ thực hiện mua bán dâm tại nơi khác nhau thì ngời đó
phải chịu trách nhiệm hình sự về tội chứa mại dâm và tội môi giới mại
dâm.
+ Mặt chủ quan của tội phạm: tội phạm này đợc thực hiện do lỗi
cố ý, động cơ mục đích vì vụ lợi.
+ Chủ thể của tội phạm: Bất kỳ ngời nào từ đủ 14 tuổi trở lên.
+ Hình phạt:
1) Ngời nào chứa mại dâm thì phạt tù từ 1 năm đến 7 năm.
2) Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây thì bị phạt tù
từ 5 năm đến 15 năm.
a) Có tổ chức.
12
b) Cỡng bức mại dâm.
c) Phạm tội nhiều lần.
d) Đối với ngời cha thành niên từ đủ 16 tuổi đến dới 18 tuổi.
đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3) Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây thì bị phạt tù
từ 12 năm đến 20 năm.
a) Đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dới 16 tuổi.
b) Gây hậu quả nghiêm trọng.
4) Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phát tù từ
20 năm hoặc tù chung thân.
5) Ngời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 100
triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; phạt quản chế từ 1
năm đến 5 năm..
Ngoài ra tại điểm 4 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày
12/05/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hớng dẫn về tình tiết
phạm tội nhiều lần qui định tại điểm C khoản 2 Điều 254 nh sau:
4.1 Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội nhiều lần" đối với ngời chứa
mại dâm khi thực hiện một trong các trờng hợp sau đây:
mại dâm đã có sự nhận lời, thỏa thuận.
+ Mặt chủ quan của tội phạm: tội phạm đợc thực hiện do lỗi cố ý,
động cơ, mục đích là vụ lợi.
+ Chủ thể của tội phạm: Bất kỳ ai từ đủ 14 tuổi trở lên.
+ Hình phạt :
14
1) Ngời nào dụ dỗ hoặc dẫn dắt ngời mại dâm thì bị phạt tù từ 6
tháng đến 5 năm.
2) Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây thì bị phạt tù
từ 3 năm đến 10 năm.
a) Đối với ngời cha thành niên từ đủ 16 tuổi đến dới 18 tuổi.
b) Có tổ chức.
c) Có tính chất chuyên nghiệp.
d) Phạm tội nhiều lần.
đ) Tái phạm nguy hiểm.
e) Đối với nhiều ngời.
g) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.
3) Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây thì bị phạt tù
từ 7 năm đến 15 năm.
a) Đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dới 16 tuổi.
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4) Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị
phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5) Ngời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 10 triệu
đồng.
-Điều 256: Tội mua dâm ngời cha thành niên.
Tại điểm 2 Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm có nêu:
Mua dâm là hành vi của ngời dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả
cho ngời bán dâm để đợc giao cấu. Ngời cha thành niên là ngời cha đủ
tròn 18 tuổi.
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.
16
c) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thơng tật từ 61% trở
lên.
4) Ngời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến dới 10 triệu
đồng.
Lực lợng CSĐT TP về TTXH của ngành Công an cần nhận thức
đúng đắn những yếu tố cấu thành tội phạm về mại dâm và tính nguy
hại của chúng để xác định đúng những biện pháp phòng ngừa, căn cứ
để khởi tố vụ án hình sự, những vấn đề cần phải chứng minh trong quá
trình điều tra khám phá các vụ án cụ thể. Từ đó hiểu rõ ý nghĩa, tầm
quan trọng của công tác phòng ngừa và điều tra khám phá tội phạm về
mại dâm, làm cho công tác này đạt hiệu quả tốt nhất.
1.2 Chủ thể, nội dung và những vấn đề phải chứng minh
trong điều tra tội phạm hoạt động mại dâm
1.2.1 Nhiệm vụ điều tra khám phá những vụ án về mại dâm
của lực lợng CSĐT TP về TTXH
Trong khoa học điều tra tội phạm, khái niệm về hoạt động điều
tra khám phá tội phạm (điều tra vụ án) đợc hiểu là: "Điều tra vụ án
hình sự là hoạt động điều tra của những cơ quan điều tra và những cơ
quan đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật
định đợc tiến hành theo trình tự tố tụng hình sự nhằm chứng minh sự
thật vụ án theo yêu cầu của pháp luật".
Từ khái niệm điều tra vụ án nói trên của khoa học điều tra tội
phạm cho thấy bản chất của quá trình điều tra cũng là: Quá trình thu
thập tài liệu, chứng cứ theo trình tự pháp luật của các cơ quan điều tra
và các cơ quan đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
để đi đến chứng minh sự thật của vụ án.
17
Điều 4-Luật Công an nhân dân - năm 2005 qui định: CAND là
đoạn hoạt động nh thế nào? Thành phần tham gia hoạt động phạm
tội? Thủ đoạn che giấu hoạt động phạm tội? Đối tợng phạm tội là ai?
Động cơ, mục đích phạm tội? Vai trò, vị trí của từng đối tợng trong "ổ",
"đờng dây" hoạt động mại dâm? Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của
các đối tợng thực hiện hành vi phạm tội. . .
-Tiến hành các hoạt động điều tra trinh sát, đặc biệt là chuyên án
trinh sát để làm rõ các tội phạm nghiêm trọng về mại dâm đã xảy ra.
-Tiến hành các hoạt động điều tra tố tụng để phát hiện thu thập
tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm, phục vụ xử lý tội phạm và giáo
dục cải tạo ngời phạm tội về mại dâm.
-Thu thập đầy đủ các thông tin, tài liệu nhằm làm rõ về quy luật,
thủ đoạn hoạt động của các ổ", "đờng dây", tổ chức, vị trí, vai trò từng
đối tợng trong quá trình tổ chức hoạt động mại dâm.
-Thu giữ, bảo quản đầy đủ vật chứng, tài liệu liên quan đến hoạt
động tội phạm của đối tợng phạm tội để khai thác phục vụ trong quá
trình điều tra khám phá và xử lý tội phạm về mại dâm.
-Truy bắt những đối tợng phạm tội về mại dâm lẫn trốn, truy tìm tung
tích nạn nhân, các vật chứng của vụ án về mại dâm để phục vụ yêu cầu điều
tra khám phá tội phạm.
-Điều tra thu thập tài liệu về những đối tợng có hành vi vi phạm
pháp luật về mại dâm cha đến mức xử lý về hình sự, nhng đủ cơ sở đa
vào cơ sở giáo dục, trờng giáo dỡng hoặc áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính khác.
19
- Chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức các biện pháp nhằm trấn
áp TP HĐMD, triệt phá các "ổ", "đờng dây", tổ chức tội phạm nguy hiểm, xóa
các tụ điểm về mại dâm, các tệ nạn về mại dâm và địa bàn trọng điểm về
mại dâm.
- Thông qua công tác điều tra khám phá tội phạm về mại dâm phát
hiện nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm về mại dâm để đề xuất,
các yếu tố tiếp theo. Chỉ trong trờng hợp xác định và chứng minh có tội
phạm về mại dâm đang xảy ra thì mới tiếp tục chứng minh các vấn đề
khác của vụ án.
- Việc chứng minh tội phạm về mại dâm phải dựa trên bốn yêu tố
cấu thành tội phạm :
+ Về khách thể của tội phạm: các loại tội phạm về mại dâm đều
xâm hại đến nền trật tự công cộng, gây ảnh hởng xấu đến sức khoẻ con ngời
và đạo đức xã hội.
+ Về mặt khách quan của tội phạm thể hiện bằng những hành vi
dới hình thức thủ đoạn đa dạng, phức tạp khác nhau nh: lôi kéo, dụ dỗ,
dẫn dắt, tổ chức ngời khác tham gia vào các hoạt động mại dâm.
+ Về mặt chủ quan: các loại tội phạm đề đợc thực hiện do cố ý
với mục đích vụ lợi cá nhân .
Chủ thể của tội phạm là bất cứ những ngời nào có năng lực trách
nhiệm hình sự tham gia vào các hoạt động tổ chức mại dâm. Tuy
nhiên, Pháp luật nớc ta cũng phân biệt rõ ràng ranh giới giữa những
ngời phạm tội trong lĩnh vực này với những ngời là nạn nhân của mại
dâm. Điều đó thể hiện ở chổ là chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
những ngời đứng ra tổ chức, lôi kéo, dụ dỗ, dẫn dắt ngời khác tham gia
21
vào hoạt động mại dâm hoặc những đối tợng cố ý tham gia vào các
hoạt động đó, còn đối với những ngời là nạn nhân bị lôi kéo, thì chủ
yếu dùng các biện pháp hành chính, xã hội để ngăn ngừa giúp họ trở
lại cuộc sống lành mạnh.
- Phơng thức thủ đoạn gây án: là cơ sở tin cậy để xác định đúng
bản chất và đặc điểm của tội phạm, những tình tiết của vụ án, phạm vi
những đối tợng có thể gây ra tội phạm đó. Vì thế, có thể chứng minh đ-
ợc thủ đoạn gây án thông qua việc nghiên cứu thói quen, kỹ năng, đặc
điểm và phẩm chất cá nhân của thủ phạm. Nghiên cứu thủ đoạn gây
án của đối tợng phạm tội về mại dâm giúp cho việc xác định mức độ
trinh sát ngoại tuyến, trinh sát mật phục, trinh sát kỹ thuật... Các chiến
thuật trinh sát nh: Kiểm tra bí mật, bắt bí mật, truy tìm theo dấu vết
nóng, dơng mồi sập bẫy . . . Đặc điểm việc sử dụng các biện pháp
nghiệp vụ trinh sát là nhằm đảm bảo yếu tố bí mật, chủ động, bất ngờ
tấn công tội phạm, đa bọn tội phạm vào thế bị động, lúng túng không
kịp đối phó. Việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ trinh sát trong điều
tra khám phá TP HĐMD là hết sức cần thiết.
- Nhóm biện pháp nghiệp vụ công khai: là toàn bộ những hoạt
động biểu hiện bằng hình thức công khai do lực lợng CSĐT TP về
TTXH tiến hành theo qui định của pháp luật.
Lực lợng CSĐT TP về TTXH là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức
các ngành CAND nói chung và CSND nói riêng, ngoài việc tiến hành
các biện pháp có tính đặc thù riêng thì lực lợng này còn trực tiếp tham
gia quản lý nhà nớc trên lĩnh vực TTATXH trong điều tra khám phá tội
23
phạm nói chung và tội phạm về mại dâm nói riêng. Nhóm biện pháp
nghiệp vụ công khai bao gồm các hoạt động nh : Phát động phong
trào quần chúng, tuần tra kiểm soát, kiểm tra hành chính, xử phạt hành
chính... hoạt động điều tra công khai theo qui định của pháp luật tố
tụng hình sự nh: Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lấy lời khai ngời
làm chứng, ngời bị hại, hỏi cung bị can, bắt, khám xét, thu giữ vật
chứng, đối chất, nhận dạng, khám nghiệm hiện trờng . . . và viết kết
luận điều tra vụ án.
Trong điều tra TP HĐMD không tách rời các hoạt động điều tra
trinh sát với điều tra công khai. Thông thờng các biện pháp điều tra
trinh sát đợc tiến hành bớc đầu, sau đó chuyển sang điều tra công khai
tiếp theo. Quá trình điều tra công khai, tiếp tục sử dụng các biện pháp
điều tra trinh sát để củng cố chứng cứ và mở rộng vụ án. Có khi sử
dụng biện pháp điều tra công khai làm bớc khởi đầu để tiến hành các
biện pháp điều tra trinh sát.
Với sự kế thừa và lĩnh hội các tri thức về hoạt động NVTS trong
hệ thống lý luận nghiệp vụ CAND, tác giả xây dựng lý luận về hoạt
động NVTS của lực lợng CSĐT TP về TTXH trong điều tra TP HĐMD
nh sau:
Hoạt động nghiệp vụ trinh sát trong điều tra tội phạm hoạt động
mại dâm là hoạt động điều tra bí mật, bao gồm hệ thống các biện
pháp, phơng pháp, chiến thuật và các phơng tiện, kỹ thuật nghiệp vụ
đặc biệt đợc tiến hành hỗ trợ cho hoạt động điều tra công khai với sự
phối hợp chặt chẽ giữa các lực lợng nghiệp vụ có liên quan do lực lợng
CSĐT TP về TTXH tiến hành, nhằm mục đích phát hiện, thu thập,
25