LUẬN văn tốt NGHIỆP PHÁT TRIỂN các KHU CÔNG NGHIỆP tập TRUNG gắn với TĂNG CƯỜNG sức MẠNH QUỐC PHÒNG AN NINH TRÊN địa bàn TỈNH BÌNH DƯƠNG - Pdf 40

BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT
Tên viết đầy đủ
Ban chỉ huy quân sự
Bộ chỉ huy quân sự
Chủ nghĩa xã hội
Chính trị quốc gia
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Cơ sở vật chất kỹ thuật
Khu công nghiệp tập trung
Khu công nghiệp
Khu công nghệ cao
Khu chế xuất
Khu vực phòng thủ
Nghị quyết Trung ương
Tiềm lực kinh tế quân sự

Tên viết tắt
Ban CHQS
BCHQS
CNXH
CTQG
CNH, HĐH
CSVCKT
KCNTT
KCN
KCNC
KCX
KVPT
NQTW
TLKTQS


hướng đi và giải pháp thích hợp.
2


Bình Dương là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ có
vị trí chiến lược cả về kinh tế và quốc phòng. Từ khi tái thành lập 1997 đến nay
GDP của tỉnh gia tăng đều đặn trung bình 14% giai đoạn 1997-2005. Cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH. Tiền đề cho sự phát triển đó, ngoài
yếu tố khách quan về lợi thế so sánh chung thì chủ trương xây dựng phát triển
các KCNTT của tỉnh mang tính chất đột phá đã tạo ra bước ngoặt tác động đến
sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh trên con đường CNH-HĐH. Mặc dù vậy
quá trình phát triển các KCNTT ở Bình Dương cũng đã và đang nảy sinh nhiều
vấn đề mới đặc biệt trong mối quan hệ giữa phát triển KCNTT với tăng cường
sức mạnh QP-AN
Xuất phát từ lý do đó nên tác giả chọn đề tài: “ Phát triển các khu công
nghiệp tập trung gắn với tăng cường sức mạnh quốc phòng-an ninh trên địa
bàn tỉnh Bình Dương” làm đối tượng nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Có thể nói phát triển các KCNTT là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan
tâm vì sự mới mẻ và hiệu quả tích cực của nó. Mỗi đề tài nghiên cứu đề cập
dưới một góc độ khác nhau, giải quyết những vấn đề đặt ra khác nhau, đưa ra
những kiến nghị và giải pháp khác nhau. Song cũng chỉ mới dừng lại ở dạng
phát hiện, đánh giá tổng kết về thu hút đầu tư, chuyển dịch cơ cấu lao động, quy
hoạch…Những công trình mang tính khái quát cả về lý luận và thực tiễn chưa
nhiều.
Vấn đề đặt ra ở trên chỉ mới giải quyết được một khía cạnh đó là sự phát
triển kinh tế, nửa còn lại của vấn đề phát triển KCNTT đó là củng cố quốc
phòng, tăng cường sức mạnh QP-AN ở một địa phương năng động, phát triển
nhanh như Bình Dương thì lại là vấn đề còn rất mới. Chưa có một công trình
khoa học nào đề cập đến vấn đề này.

cố quốc phòng nói chung và phát triển các KCNTT gắn với tăng cường sức
mạnh QPAN ở tỉnh Bình Dương.

4


Kết quả của đề tài đề cập tới những quan điểm và giải pháp của vấn đề
này qua đó góp phần xây dựng các chính sách, đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hoá ở Bình Dương.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo
luận văn gồm 2 chương (4 tiết).
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TẬP TRUNG GẮN VỚI TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH QUỐC PHÒNG – AN
NINH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

1.1. Phát triển khu công nghiệp tập trung- mô hình kinh tế trong tiến
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước .
Mác và Ăngghen đă giành nhiều thời gian nhgiên cứu quá trình công
nghiệp hoá dưới CNTB.Các nhà kinh tế chính trị Mác xít đă đi đến kết luận:
Máy móc và nền đại công nghiệp cơ khí là bước nhảy vọt của nền sản xuất xã hội
nó có tác dụng vô cùng to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất và xã hội hóa
lao động. Máy móc và nền đại công nghiệp làm cho tính chất xã hội hoá của lực
lượng sản xuất cao lên và thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển. Dưới góc độ văn
hoá xã hội nó xoá dần phong tục tập quán của sản xuất nhỏ, xoá bỏ quan hệ sản
xuất gia đình, hình thành tác phong và kỷ luật mới- tác phong công nghiệp.
Trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta, dưới ánh sáng của đường
lối đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển sang phát triển theo hướng hình thành
một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có

công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa
lý xác định, không có dân cư sinh sống do Chính phủ hoặc thủ tướng chính
phủ quyết định thành lập, trong KCN có thẻ có doanh nghiệp chế xuất (xuất
khẩu 100%).
Khu chế xuất: Là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất,
chuyên sản xuất hàng hoá xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có

6


dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành
lập.
Khu công nghệ cao: Là khu tập trung các doanh nghiệp kỹ thuật cao và
các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghiệp cao gồm: Nghiên cứu
phát triển khoa học công nghệ đào tạo dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác
định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết
định thành lập, trong khu công nghệ cao có doanh nghiệp chế xuất (xuất khẩu
100%)
Từ các khái niệm KCN, KCX, KCNC của quy chế KCN ban hành kèm
theo nghị định 36/CP của chính phủ có thể rút ra một số vấn đề chung tạm gọi là
dấu hiệu chung của KCN đó là:
- Khu tập trung các doanh nghiệp
- Có ranh giới địa lý xác định
- Không có dân cư sinh sống
- Do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập
KCN, KCX, KCNC là ba loại hình của khu kinh tế đặc biệt. Đặc biệt ở
chỗ đó là một khu vực không gian kinh tế mà ở đó bằng các chính sách vĩ mô
người ta thiết lập một chế độ ưu tiên riêng như được miễn giảm các loại thuế,
nới lỏng quy tắc thuế quan và ngoại hối, nhằm thúc đẩy các hoạt động sản xuất
kinh doanh hoặc nghiên cứu khoa học trong khu vực.

cường sức mạnh QP-AN lại là vấn đề mới trong thực tiễn mới nên cần có những
dữ liệu, những tổng kết mang tính khái quát chung. Đây là những vấn đề chưa
hội tụ đủ các yếu tố chín muồi vì vậy các nhà nghiên cứu cũng chưa kịp khái
quát.
Tác giả Nguyễn Đức Phượng trong luận văn thạc sĩ năm 1999, Học viện
Chính trị- Quân sự đã đưa ra một khái niệm khá đầy đủ như sau: “ KCNTT là
một thuật ngữ dùng để chỉ một không gian kinh tế lãnh thổ. Theo đó các loại
hình tổ chức công nghiệp như KCN, KCX, KCNC hay một tổ chức mà bao gồm
cả ba dạng cụ thể nói trên, được thành lập nhằm mục đích phát triển công nghiệp
trong quá trình CNH-HĐH với điều kiện kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập
được ưu đãi về chính sách kinh tế, tài chính, khoa học-công nghệ, được đảm bảo
8


các điều kiện tốt về kết cấu hạ tầng và các điều kiện khác, được tổ chức ở các
địa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế- xã hội, QP-AN. Mục đích giải quyết tối
ưu về vốn, về khoa học- công nghệ, về bảo vệ môi trường sống thuận tiền cho
quản lý vĩ mô cả về mặt kinh tế- xã hội, QP-AN trong quá trình CNH-HĐH đất
nước” [22.Tr15}
Khái niệm trên đưa ra khi KCN đầu tiên ở nước ta được thành lập gần 8
năm (25/1/1991 chính phủ ra quyết định thành lập KCX Tân Thuận – Thành phố
Hồ Chí Minh) đến nay đã có nhiều vấn đề mới nảy sinh đặc biệt cả về cơ chế, hệ
thống các chính sách đã là hành lang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành
công nghiệp ở nước ta nói chung và các KCN nói riêng. Dưới góc độ QP-AN,
vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng, tư duy quân sự mới về nhiệm vụ bảo vệ
Tổ quốc trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường, định hướng XHCN …đang
đòi hỏi chúng ta phải khẩn trương nhanh chóng có những chính sách về kinh tế,
về QP-AN với tính chất vừa là chính sách tổng thể, bao quát vừa là đối sách đối
với sự phát triển của tình hình trong sự hiện diện của các tổ chức công nghiệp
mang tính chất không gian lãnh thổ ưu tiên.

chính phủ áp dụng một cơ chế quản lý ưu đãi để động viên khuyến khích các
nhà đầu tư sản xuất trong KCNTT. Mục đích là tập trung các điều kiện thuận lợi
về mọi mặt (cơ sở hạ tầng, cơ chế quản lý…) nhằm bảo vệ môi trường sinh thái,
nâng cao hiệu quả hoạt động công nghiệp và thương mại, bảo đảm an toàn cho
nhà đầu tư yên tâm sản xuất.
Với đặc điểm và mục đích việc thành lập các KCNTT như trên, trong thời
gian qua (từ năm 1991 đến nay) ở nước ta đã thành lập các loại hình KCNTT có
những đặc điểm mà có thể khái quát thành các loại hình như sau:
- Các KCNTT được thành lập trên một phạm vi khuôn viên có sẵn một số
doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động. Nghĩa là khu công nghiệp hình thành
từ các cụm công nghiệp có sẵn.
- Các KCNTT hình thành do yêu cầu di dời các nhà máy, các xí nghiệp
đang hoạt động ở các nội thành, nội thị, vùng đông dân cư sinh sống gây ảnh
hưởng đên hoạt động của đời sống xã hội, làm mất vẻ mỹ quan, ô nhiễm môi
trường, hoặc do yêu cầu di dời giải toả để xây dựng các công trình xã hội khác.
10


Mặt khác một số công ty, xí nghiệp do yêu cầu mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới
công nghệ phải chọn giải pháp di dời.
- Các KCNTT hiện đại, có quy mô lớn được xây dựng mới, loại hình này
có đặc điểm tập trung vốn ban đầu tương đối lớn nên tốc độ xây dựng nhanh,
chất lượng các công trình hạ tầng đạt tiêu chuẩn quốc tế, có các hệ thống hạ tầng
đồng bộ, hệ thống xử lý các chất thải tiên tiến, một số khu có nhà máy điện riêng
bảo đảm tốt cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp trong KCNTT.
Trên đây là một số loại hình KCNTT ở nước ta mà thực tiễn đã diễn ra
trong những năm vừa qua. Đây cũng chính là đối tượng mà đề tài nghiên cứu
nhìn từ dưới góc độ phát triển các KCNTT gắn với tăng cường sức mạnh QPAN trong chiến lược BVTQ thời kỳ tiến hành CNH,HĐH đất nước.
1.1.2. Thực tiên phát triển KCNTT ở các nước và Việt Nam trong quá
trình CNH,HĐH đất nước.

doanh số hàng hoá và dịch vụ của kho đạt 10,94 tỉ USD chiếm 3,6% GDP của
Đài Loan, Đài Loan cũng là nơi đầu tiên sử dụng thể chế khu chế xuất được
sáng lập từ năm 1966, khu chế xuất Cao Hùng là KCX đầu tiên trên thế giới.
Cho đến năm 1992 thế giới đã có tới 280 KCX được xây dựng ở 40 quốc gia
trong đó có khoảng 60 khu hoạt động và mang lại hiệu quả rất cao.
- Về giải quyết việc làm: Năm 1990 tổng số người làm việc trong các
KCX từ các nước đang phát triển đạt tới 530.000 người.
- Về xuất khẩu: Tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm chế biến của các
nước đang phát triển năm 1988 là 258 tỷ USD khoảng 80% xuất khẩu là của các
KCX. Các nước Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan giá trị xuất khẩu được tính trên
một người công nhân là hơn 30.000 USD ở Malaysia, 50.500 USD ở Đài Loan
và 67.800 USD ở Hàn Quốc.
Các KCX đã thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài phần lớn từ các
ngành điện tử như ở Hàn Quốc, Malaixia, Đài Loan…Rõ ràng việc phát triển
KCN, KCX, KCNC cao ở các nước đang phát triển đóng một vai trò quan trọng
trong việc phát triển các ngành công nghiệp và thu nhập kinh tế quốc dân. Qua
việc phát triển của các KCN, KCX, KCNC đã đẩy mạnh việc xuất khẩu và thu
ngoại tệ của các quốc gia.
12


Đẩy mạnh sự nghiệp CNH,HĐH chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp- nông nghiệp hiện đại và dịch vụ, mở rộng và nâng cao hiệu quả
của quá trình phát triển kinh tế. Năm 1991 chính phủ Việt Nam đã ban hành quy
chế KCX kèm theo Nghị định 322/HĐBT, đă tạo cơ sở pháp lý năm 1994 chính
phủ ban hành quy chế KCN kèm theo nghị định 192/CPđă tạo cơ sở pháp lý cho
sự phát triển KCN, KCX ở nứoc ta .Năm 1997 chính phủ ban hành nghị định
36/CP thống nhất các quy chế KCN, KCX, KCNC là bước phát triển mới trong
quá trình hoàn thiện hệ thống pháp lý cho sự phát triển KCN, KCX, KCNC
trong sự nghiệp CNH,HĐH trước nhưng thách thức cạnh tranh quyết liệt trong

là điều kiện rất thích hợp để xây dựng các công trình kiến trúc giảm được chi phí
trong xây dựng. Đất xây dựng công nghiệp, cơ sở hạ tầng và quy hoạch đô thị
trên 40.000ha trong đó đang sử dụng là 20.000ha, dự kiến quy hoạch để mở rộng
các KCN tập trung là 6.000ha.
14


Bình Dương có mạng lưới sông ngòi khá dày, trong đó có 2 con sông lớn
là sông Sài gòn hướng Tây Nam và Sông Đồng Nai hướng Đông Bắc. Đây là 2
con sông cung cấp nguồn nước đồng thời là đường giao thông rất thuận lợi cho
việc giao thông mua bán. Bình Dương có 86 điểm khai thác mỏ, khoáng sản chủ
yếu là đất cao lanh, đá xây dựng có trữ lượng lớn và chất lượng tốt, đây là tiềm
năng thế mạnh của tỉnh để phát triển những ngành nghề gốm sứ, xây dựng các
ngành nghề khác.
Các KCN Bình Dương được quy hoạch và xây dựng chủ yếu tập trung ở
hai huyện Thuận An và Dĩ An thuộc các huyện phía Nam tỉnh nơi có nền đất lý
tưởng cho việc xây dựng các công trình. Ngoài ra tỉnh dự kiến thêm một số
lượng thuộc phía Bắc thị xã Thủ Dầu Một và huyện Bến Cát. Nơi có những điều
kiện địa lý, thổ nhưỡng thích hợp việc thành lập các KCNTT.
Bình Dương là một tỉnh nằm trong vị trí thuận lợi của khu vực kinh tế
trọng điểm phía Nam, sát cạnh thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế văn
hoá khoa học kỹ thuật lớn, là một thành phố công nghiệp, giữ vai trò quan trọng
đi đầu trong khu vực và trong cả nước. Bên cạnh đó Bình Dương lại nằm cạnh
tỉnh Đồng Nai, một tỉnh có các vùng công nghiệp tập trung được xem là điểm
sáng của cả nước về phát triển công nghiệp. Chính nhờ điều kiện địa lý, xã hội
mà Bình Dương thừa hưởng những lợi thế của khu vực công nghiệp. Tuy nhiên
Bình Dương cũng gặp không ít những khó khăn khi phát triển các KCNTT, Bình
Dương không có nhiều kinh nghiệm như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai…
Do đó đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bình Dương phải có những nỗ
lực rất lớn, tận dụng những điều kiện thuận lợi mà tự nhiên-xã hội đã ban cho,

phòng toàn dân.
Là một tỉnh có địa hình khá phong phú: Đồng bằng, trung du cấu trúc địa
chất và địa hình có nhiều thuận lợi cho việc xây dựng các công trình phòng thủ
trong kế hoạch tác chiến của lực lượng vũ trang. Có nhiều rừng và khu vực cây
trồng khá rộng lớn trong việc tập trung vũ khí trang bị, lương thực thực phẩm
thuận lợi cho việc cất giấu và xây dựng căn cứ hậu phương, củng cố nền QPAN, bảo đảm cho chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới giành được
thắng lợi.
16


Từ những đặc điểm về địa lý, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế-chính trị- xã
hội trên đây đặt ra yêu cầukhách quan cho Bình Dương trong quá trình xây dựng
phát triển kinh tế nói chung, phát triển KCNTT nói riêng phải gắn với tăng
cường sức mạnh QP-AN.
1.2.2. Vai trò của các khu công nghiệp tập trung đối với phát triển kinh
tế và củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
- Vai trò của các khu công nghiệp tập trung trong đối với phát triển kinh
tế trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Phát triển khu công nghiệp tập trung từ lâu đã được các nước trên thế giới
coi là công cụ của chính sách công nghiệp, nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá
hướng về xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp
thu công nghệ tiên tiến và học hỏi kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh.
Mặt khác sự hình thành các khu công nghiệp sẽ sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực tại chỗ như nguồn lao động, tài nguyên…Việc phát triển các KCNTT sẽ có
điều kiện thuận lợi trong việc quản lý môi trường sinh thái, giảm được chi phí
trong việc xử lý môi trường sinh thái, giảm được chi phí trong việc xử lý chất
thải công nghiệp (so với những nhà máy hoạt động riêng lẻ). Đồng thời khu
công nghiệp có vai trò đóng góp rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề
kinh tế- xã hội của quốc gia, nhất là đối với những nước chậm phát triển và
những vùng khó khăn góp phần rất lớn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng

theo như: nấu ăn, cung cấp nhiên liệu, văn phòng phẩm…
Hai là, thực hiện chính sách phát huy nội lực, tiềm năng của tỉnh nhà việc
tập trung phát triển các KCN có tác dụng lớn trong thực hiện phát triển kinh tế
hướng vào xuất khẩu, thay thế và làm chủ trong vấn đề nhập khẩu. Kim ngạch
xuất khẩu năm 2005 của các doanh nghiệp KCN là 602.180.000 USD chiếm
28% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh. So với năm 2002 tăng 35% trong
đó: Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 50%, khu vực kinh tế trong
nước tăng 48%.
Đạt được kết quả trên là do chính sách khuyến khích các doanh nghiệp
KCN tiến hành xuất khẩu và vai trò của các cơ quan chức năng trong hệ thống
các KCNTT trên địa bàn được phát huy một cách có hiệu quả, đồng thời đó
18


cũng chính là kết quả của việc ban hành, thiết lập các chính sách quản lý vĩ mô
kịp thời và đồng bộ.
Ba là, khu công nghiệp tập trung còn là một công cụ quan trọng để thu hút
đàu tư nước ngoài, đẩy mạnh sản xuất, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế của tỉnh.
Tính đến hết năm 2005 các KCN Bình Dương có 503 dự án, trong đó có
364 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư là 1.173.680.000
USD, 139 doanh nghiệp đầu tư trong nước với tổng số vốn điều lệ đăng ký là
839.337 tỷ đồng.
Về cơ cấu ngành nghề trong khu công nghiệp được chia thành 7 nhóm
chính trong đó chiếm nhiều nhất là công nghiệp chế biến gồm 57 doanh nghiệp
(25,22%), công nghiệp cơ khí, điện tử gồm 43 doanh nghiệp (19,03%), ít nhất là
dịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp KCN. Điều này do giá thuê đắt trong KCN cao
hơn do đó các doanh nghiệp dịch vụ thường xây dựng ngoài KCN sau đó đăng
ký dịch vụ ở Ban quản lý các KCN và được phép hoạt động tại KCN.
Qua phân bố trên cho thấy các ngành nghề sản xuất trong KCNTT đều có

nhân dân tỉnh Bình Dương có hiệu quả thì việc phát triển KCNTT đã là cầu nối
để cho phép chúng ta tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại. Nếu chúng ta có
đội ngũ cán bộ kỹ thuật giỏi, đội ngũ cán bộ quản lý có đủ bản lĩnh tham gia liên
doanh thì việc tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ hiẹn đại, học hỏi cách quản lý
tiên tiến và nâng cao trình độ dạy nghề cho đội ngũ công nhân là điều hoàn toàn
có thể thực hiện được.
Rõ ràng, phát triển các KCNTT là con đường, biện pháp thích hợp một xu
hướng phát triển đúng đắn của quá trình CNH,HĐH ở Việt Nam nói chung và ở
tỉnh Bình Dương nói riêng.
Sự đóng góp của các KCNTT đối với sự phát triển ngành công nghiệp
mới chỉ là một thời gian ngắn, nhưng kết quả đạt được đã khẳng định vai trò tất
yếu trong sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh Bình Dương .Đồng thời nó có ý
nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp củng cố tăng cường QP-AN trên địa bàn tỉnh
vững mạnh.

20


- Vai trò của khu công nghiệp tập trung đối với tăng cường sức mạnh quốc
phòng- an ninh trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Quá trình thực hiện chủ trương phát triển các KCNTT trong tiến trình
công nghiệp đất nước nằm trong bối cảnh Đảng ta đổi mới về tư duy quân sự và
chiến lược BVTQ. Đảng ta chỉ rõ “Củng cố quốc phòng giữ vững an ninh quốc
gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, toàn dân và toàn
quân. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị để tăng cường tiềm lực
QP-AN. Xây dựng lực lượng quân đội và công an nhân dân cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng vững chắc thé trận quốc phòng
toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân; quán triệt tư tưởng
cách mạng, tiến công tích cực chủ động, sẵn sàng đánh bại âm mưu và hoạt
động chống phá của kẻ thù “ [7.Tr119]”. Thực hiện nghị quyết 02/NQ của Bộ

trọng góp phần củng cố tiềm lực quốc phòng là cơ sở vật chất để xây dựng, tăng
cường sức mạnh QP-AN.
Hai là: phát triển KCNTT, đẩy nhanh quá trìnhCNH,HĐH xây dựng kết
cấu hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng.
Chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và đã được Đảng và Nhà nước ta xác
định. Trong xây dựng về kinh tế phải xây dựng về mặt lực lượng sản xuất và cả
xây dựng về quan hệ sản xuất mới. KCNTT phát triển cũng sẽ là phản ứng dây
chuyền kéo theo các hệ thống văn bản, hệ thống công trình, công sự, các trận
địa, hệ thống đường xá, thông tin…nhất là tạo được cơ sở hạ tầng, phương tiện
cơ động thông tin vững chắc có thể đáp ứng yêu cầu chiến tranh lớn xảy ra.
Tính đến tháng 12/2005 các KCN Bình Dương đã thực hiện được 980,39
tỷ đồng chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đạt 66,31% tổng vốn đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng KCN. Nhận thấy rằng các chủ đầu tư cơ sở hạ tầng Bình
Dương đã rất chú trọng đến công tác đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Đảm bảo
cho các doanh nghiệp KCN được hoạt động trong điều kiện tốt nhất. Qua đó góp
phần cung cấp, hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ theo sự nghiệp củng
cố quốc phòng, BVTQ.

22


Ba là: Phát triển KCNTT góp phần thực hiện thắng lợi quá trình CNHHĐH nông nghiệp, nông thôn tạo nguồn lương thực, thực phẩm dồi dào cho lực
lượng vũ trang và nguồn nguyên liệu cho công nghiệp quốc phòng.
Trong phát triển các KCNTT, bên cạnh các xí nghiệp công nghiệp mà sản
phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho các ngành công nghiệp, kết cấu hạ tầng còn
có các xí nghiệp mà sản phẩm của nó liên quan trực tiếp đến phát triển các
ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Đó là các xí nghiệp sản xuất ra các máy móc phục
vụ nông, lâm, ngư nghiệp, các chế phẩm hoá chất, vi sinh phục vụ bảo vệ, tăng
trưởng cây trồng vật nuôi, các sản phẩm chế biến và bảo quản sản phẩm nông

thuật quân sự cho KVPT nói riêng và tăng cường sức mạnh QP-AN nói
chung.
Như đã trình bày mỗi KCNTT có hàng trăm xí nghiệp thuộc các lĩnh vực
khác nhau: cơ khí, điện, điện tử…sản xuất có, chế biến có, sửa chữa khi được tổ
chức, bố trí sắp xếp hợp lý thực sự chúng sẽ thành các cơ sở hậu cần-kỹ thuật
quân sự cho các khu vực phòng thủ khi có tác chiến.
Hiện nay ở Bình Dương diện tích đất công nghiệp trong các KCN là
128,48 ha trong đó đã cho thuê được 648,41ha chiếm 69,31% diện tích. Theo
đánh giá của thế giới và nhiều nhà chuyên môn, các KCN thành công khi đã cho
thuê được trên 30% diện tích đất. Bình Dương cá biệt có KCN Việt Nam,
Singapo đã cho thuê trên 90% diện tích KCN ** đã cho thuê được 90,47%…
Điều này chứng to các KCN Bình Dương có lợi thế so sánh rất lớn, điều đó cũng
có vai trò quan trọng trong việc hình thành các cụm hậu cần- kỹ thuật cho tăng
cường sức mạnh QP-AN. Mặt khác cơ cấu ngành nghề lĩnh vực cũng hết sức đa
dạng: cơ khí điện tử 17,98%, dệt may 18.26%, chế biến gỗ 11,52%, hoá chất, da
dày trên 10%…
Những số liệu trên cho thấy bên cạnh những tác động mang tính cụ thể còn
phải tính đến một khía cạnh khác liên quan đến tăng cường sức mạnh QP-AN đó là
các KCNTT thực sự sẽ trở thành các căn cứ hậu cần-kỹ thuật vững chắc khi chiến
sự xảy ra và có thể huy động được tiềm lực sức mạnh vật chất ấy.
Tóm lại, để đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị
trường mở cửa nhằm phát triển kinh tế, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu làm cho
Bình Dương mạnh cả về kinh tế lẫn QP-AN thì phát triển các KCNTT là một
24


trong những con đường và biện pháp thích hợp, cần thiết phù hợp với các điều
kiện về vốn, tài chính, kết cấu hạ tầng còn nhiều khó khăn và nhiều vấn đề phải
giải quyết như ở Bình Dương. Thực tiễn 30 năm đổi mới đă chứng minh điều
đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status