Header Page 1 of 116.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN MỘNG HOÀI
BIỆN PHÁP PHỐI HỢP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN THPT
CỦA BCH CÔNG ĐOÀN GIÁO DỤC QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 1 of 116.
Header Page 2 of 116.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN MỘNG HOÀI
BIỆN PHÁP PHỐI HỢP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN THPT
Trần Mộng Hoài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 3 of 116.
Header Page 4 of 116.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, mọi quốc gia trên thế giới đều nhận thức được vai trò then
chốt của giáo dục và đào tạo trong việc xây dựng chiến lược con người nhằm
củng cố an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế – xã hội, phát triển đất nước.
Ở Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH được thông
qua tại Đại hội VII của Đảng đã xác định: “Giáo dục và đào tạo cùng khoa học
và công nghệ, phải được xem là quốc sách hàng đầu”. Hội nghị lần thứ hai
Ban chấp hành trung ương khoá VIII đã khẳng định: Giáo dục và đào tạo, khoa
học và công nghệ là “ khâu đột phá” của thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ mục tiêu là "Đổi
mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao".
Để thực hiện được mục tiêu đó phải đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo,
chấn hưng nền giáo dục Việt Nam làm cho giáo dục và đào tạo cùng khoa học
và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu.
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, có sự biến đổi nhảy vọt về
trình độ khoa học công nghệ và cơ sở vật chất kỹ thuật. Giáo dục - Đào tạo
đội ngũ giáo viên cơ bản đạt chuẩn trình độ đào tạo song việc bồi dưỡng
nhằm nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ, đáp ứng yêu cầu đổi mới sự
nghiệp GD & ĐT ở tỉnh Quảng Ninh còn có hạn chế như: Quy trình quản lý
hoạt động bồi dưỡng giáo viên chưa thực hiện chặt chẽ, mang tính hình thức;
Chưa nắm hết nhu cầu của giáo viên trong việc bỗi dưỡng; Cách đánh giá kết
quả bồi dưỡng giáo viên chưa sát và chưa tạo động lực để thúc đẩy giáo viên
tích cực học tập nâng cao chất lượng bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; Giữa
cơ quan quản lý chuyên môn và các đoàn thể mà cụ thể là tổ chức Công đoàn
chưa có sự phối hợp chặt chẽ và còn nhiều bất cập vì vậy hiệu quả bồi dưỡng
giáo viên chưa cao.
Với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn Việt Nam được quy
định tại Điều 10- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, tại Luật Công đoàn
Việt Nam; với chức năng của tổ chức Công đoàn ngành nghề và với yêu cầu
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 5 of 116.
Header Page 6 of 116.
đối mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức Công đoàn Giáo dục,
Ban chấp hành Công đoàn ngành Giáo dục tỉnh Quảng Ninh thấy cần thiết
phải tham gia quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trên địa
bàn tỉnh góp phần thực hiện tốt Chỉ thị 40 CT/ TW của Ban Bí thư về "Xây
dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục"
của tỉnh Quảng Ninh.
Với lý do trên, tôi chọn đề tài "Biện pháp phối hợp quản lý hoạt
động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trung học phổ thông của BCH
Header Page 8 of 116.
- Đề xuất biện pháp của Công đoàn Giáo dục tỉnh Quảng Ninh phối hợp
quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông.
- Khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận : Tìm hiểu, phân tích các văn bản, tài liệu có liên
quan như: Văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản chỉ đạo của cấp trên, quy
định phối kết hợp hoạt động giữa Sở GD &ĐT và Công đoàn Giáo dục tỉnh
Quảng Ninh.
- Nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát, hỏi ý kiến chuyên gia, tổng
kết kinh nghiệm qua quá trình triển khai nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các nhà quản lý có kinh nghiệm,
các nhà nghiên cứu về nội dung luận văn.
- Sử dụng thống kê toán học xử lý kết quả điều tra.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc Công đoàn phối hợp quản lý hoạt
động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên trung học phổ thông.
- Chương 2: Thực trạng công đoàn phối hợp quản lý hoạt động bồi
dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên trung học phổ thông trong tỉnh
Quảng Ninh.
- Chương 3: Đề xuất các biện pháp của Ban Chấp hành công đoàn giáo
dục tỉnh phối hợp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo
viên trung học phổ thông.
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nghip v. u tiờn xõy dng cỏc trng s phm, cú chớnh sỏch thu hỳt ngi
gii vo ngnh s phm.[21,tr13]
Ngh quyt Hi ngh ln th chớn Ban chp hnh Trung ng ng
khúa IX ó cp vn ny nh sau: Tp trung ch o nõng cao rừ rt
6
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
Footer Page 9 of 116.
Header Page 10 of 116.
chất lượng giáo dục và đào tạo” mà “giải pháp then chốt là đổi mới và nâng
cao năng lực quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo”. [2,tr 35]
Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15.06.2004 Ban bí thư Trung ương Đảng
nhấn mạnh: “ Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
đặc biệt chủ trương nâng cao bản lĩnh chính trị phẩm chất, lối sống, lương
tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định
hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo
nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước….". [3] chính là tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng trong công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí,
vai trò của nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và trách nhiệm của các cấp các
ngành đối với công tác này để xây dựng đội ngũ nhà giáo làm trụ cột thực
hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất
nước.
Luật Giáo dục 2005 là văn bản pháp lý cao nhất của Việt Nam về giáo
lại về chuyên môn, nghiệp vụ, giúp cho người giáo viên có trình độ chuyên
môn sâu, rộng và trình độ sư phạm lành nghề. Công tác bồi dưỡng giáo viên
là một trong các nhiệm vụ trong tâm nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới.
Trong thời gian qua, nhiều nhà nghiên cứu lý luận đã nghiên cứu các
vấn đề về văn hoá-giáo dục, bồi dưỡng giáo viên. Nhiều tạp chí, chuyên san,
báo ngành.v.v có nhiều nội dung phong phú bàn về vấn đề nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên và chất lượng đào tao, bồi dưỡng giáo viên. Một số
tác giả như: Vũ Quốc Chung- Đại học sư phạm Hà nội, Nguyễn Quốc ChíVụ Giáo viên- Bộ GD&ĐT đã có bài viết về vấn đề tự học trong đào tạo và
bồi dưỡng giáo viên. Đề tài khoa học cấp Nhà nước có mã số KX 07-04 về:
"Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới" đã nghiên
cứu sâu về vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên hiện nay.
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 11 of 116.
Header Page 12 of 116.
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nước, Chính phủ, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Quảng Ninh có nhiều
biện pháp quan tâm xây dựng, bồi dưỡng khuyến khích nâng cao chất lượng
và thu hút đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên THPT. Trước thực trạng
chất lượng đội ngũ giáo viên, thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi
dưỡng chuyên môn, nhu cầu được bồi dưỡng của giáo viên THPT tỉnh Quảng
Ninh đã có nhiều đề án, đề tài nghiên cứu về các giải pháp nâng cao chất
lượng bồi dưỡng giáo viên THPT của tỉnh như: Đề án “xây dựng, nâng cao
Quản lí vĩ mô tương ứng với việc quản lý một hoặc một loạt đối tượng có
quy mô lớn, bao quát toàn bộ hệ thống, còn quản lý vi mô tương ứng với quản
đối tượng ở phạm vi nhỏ hẹp. Tuy nhiên việc phân định giữa quản lí vĩ mô và
quản lý vi mô chỉ mang tính tương đối vì khi quản lý một hệ thống nào đó thì
đó là quản lý vĩ mô nếu đặt trong phạm vi này nhưng lại là vi mô khi đặt trong
phạm vi khác.
Nếu xét theo đối tượng của quản lý thì sẽ có các cấp quản lý như: quản lý
một ngành học, bậc học, cấp học đó. Nếu xét theo phạm vi địa lý thì có quản lý
theo phạm vi cả nước, phạm vi tỉnh, phạm vi huyện, phạm vi xã.
Vì vậy trong quản lý, điều quan trọng là khi xem xét vấn đề quản lý phải
xác định chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mối quan hệ giữa chủ thể quản
lý và đối tượng quản lý.
1.2.2. Quản lí giáo dục
Có nhiều định nghĩa về “quản lí giáo dục”, nhưng theo tác giả Trần
Kiểm thì:
"Quản lí giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lí lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội/tính trồi của
hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống
nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm
sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động". [27, tr 10]
"Có thể định nghĩa quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể
quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,…một cách
hiệu quả nguồn lực giáo dục phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội". [27, tr 10]
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 13 of 116.
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 14 of 116.
Header Page 15 of 116.
Quản lí giáo dục gồm có quản lí vĩ mô và quản lí vi mô. Quản lí giáo dục
cấp vĩ mô là quản lí toàn bộ hệ thống giáo dục; còn quản lí giáo dục cấp vi
mô là quản lí trường học hay tổ chức giáo dục cơ sở. Trong quản lí giáo dục
thì quản lí nhà trường là quản lí vi mô so với quản lí từ cấp Sở GD&ĐT trở
lên.
Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường đều phải thực hiện đầy đủ các
chức năng quản lý là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đánh
giá, thông tin. Các chức năng này có mối liên hệ ràng buộc, bổ sung, hỗ trợ
cho nhau, tạo sự kết nối từ chu trình này sang chu trình sau theo hướng phát
triển, trong đó yếu tố thông tin là trung tâm, là nhân tố quan trọng trong việc
thực hiện các hoạt động của công tác quản lý giáo dục và quản lý nhà trường,
là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý. Các chức năng quản lý không phảỉ là
cái "nhất thành bất biến", trái lại nó luôn biến đổi cho phù hợp . Mối quan hệ
giữa các chức năng quản lý được thể hiện trong sơ sơ đồ sau đây:
Kế hoạch
Kiểm tra
Tổ chức
Hoạt động bồi dưỡng giáo viên bao gồm 3 loại hình :
- Hoạt động bồi dưỡng chuẩn hoá và nâng chuẩn.
- Hoạt động bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ (1,2,3) do Bộ chỉ đạo.
- Hoạt động bồi dưỡng tự bồi dưỡng cá nhân.
Mục tiêu bồi dưỡng giáo viên : Bất kỳ loại hình bồi dưỡng nào đều không
ngoài mục tiêu nâng cao trình độ hiện có của mỗi giáo viên, nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Tuỳ đối tượng, hoàn cảnh và
yêu cầu đặt ra mà công tác bồi dưỡng nhằm thực hiện mục tiêu sát thực. Nhìn
chung, công tác bồi dưỡng giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu sau :
+ Bồi dưỡng để chuẩn hoá trình độ đào tạo (Bồi dưỡng chuẩn hoá)
+ Bồi dưỡng để cập nhật kiến thức (Bồi dưỡng thường xuyên)
+ Bồi dưỡng để dạy theo chương trình và sách giáo khoa (SGK) mới (Bồi
dưỡng thay sách)
+ Bồi dưỡng để tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn sau chuẩn về đào
tạo.
- Nội dung của bồi dưỡng giáo viên : là tiếp nối những tri thức đã được
đào tạo ở trình độ ban đầu. Do đó, nội dung bồi dưỡng phải phong phú, phù
hợp với mục tiêu và hình thức của từng loại hình bồi dưỡng và nội dung bồi
dưỡng cần đáp ứng nhu cầu của giáo viên trên từng địa bàn bên cạnh những
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 17 of 116.
Header Page 18 of 116.
nội dung quy định chung của cả nước. Mức độ yêu cầu bồi dưỡng giáo viên
Header Page 19 of 116.
- Bồi dưỡng giáo viên phải đáp ứng nhu cầu của giáo viên, đáp ứng yêu
cầu nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, địa phương.
- Bồi dưỡng giáo viên phải gắn liền với hoạt động đào tạo, tự học của giáo
viên.
Bồi dưỡng giáo viên phải mang tính toàn diện (đồng bộ về phẩm chất nhà
giáo, chuyên môn, nghiệp vụ, cả về nội dung và phương pháp dạy học giáo
dục …)
Tóm lại. công tác bồi dưỡng giáo viên là bồi đắp những kiến thức, kỹ năng
còn thiếu hụt ở giáo viên để đáp ứng yêu cầu mới của đào tạo; Nuôi dưỡng,
làm cho những tri thức, kỹ năng, tinh thần thái độ nghề nghiệp thêm phát
triển, tạo điều kiện cho giáo viên phát triển năng lực dạy học, giáo dục của
mình. Vì thế, công tác bồi dưỡng giáo viên chỉ thực hiện trên cơ sở giáo viên
đã được đào tạo qua những lớp ngắn hạn và dài hạn nhất định.
1.3 Nhà trường THPT và đặc điểm hoạt động chuyên môn của giáo
viên.
1.3.1. Nhà trường THPT và hoạt động dạy và học.
1.3.1.1. Nhà trường - Thiết chế hiện thực hoá sứ mệnh của nền giáo dục
trong đời sống kinh tế- xã hội. Nhà trường là nơi tổ chức, thực hiện và quản lý
quá trình giáo dục. Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ thể: người được
giáo dục (người học) và người giáo dục (người dạy). Trong quá trình giáo
dục, hoạt động của người học (hoạt động học theo nghĩa rộng) và hoạt động
của người dạy (hoạt động dạy theo nghĩa rộng) luôn luôn gắn bó, tác động
qua lại nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau để cùng thực hiện mục tiêu giáo
dục.
Cũng có thể hiểu nhà trường là nơi diễn ra học tập của tất cả mọi người
Header Page 23 of 116.
Luật Giáo dục (2005), Điều 2 chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. [30, tr 2, 3]
Luật Giáo dục(2005) Điều 27 chỉ ra mục tiêu riêng của “Giáo dục
trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả
của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu
biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng
lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. [30, tr 18]
Tổ chức, hoạt động của trường THPT theo Điều lệ trường trung học cơ
sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học [6] .
Trường THPT là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục Quốc dân.
Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng, có những nhiệm vụ và
quyền hạn sau:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của
Chương trình giáo dục phổ thông.
- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều
động giáo viên, cán bộ, nhân viên.
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản
lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng.
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục.
Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
20
luồng để đi vào các cơ sở đào tạo nhân lực hoặc trực tiếp tham gia hoạt động
kinh tế – xã hội ở địa phương.
Luật giáo dục năm 2005 Điều 28 có ghi: “Giáo dục trung học phổ
thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn
thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài những nội dung chủ yếu nhằm đảm
21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 24 of 116.
Header Page 25 of 116.
bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản toàn diện và hướng nghiệp cho mọi
học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực,
đáp ứng nguyện vọng của học sinh” [30, tr 18, 19]. Giáo dục THPT nhằm góp
phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân
tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực
hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, có tinh thần yêu
nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn
diện và năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong
nền kinh tế nhiều thành phần, có khả năng làm việc hợp tác theo nhóm...
Theo tác giả Trần Kiểm tính đặc thù của quản lý trường THPT phụ
thuộc nhiều vào đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên, đó là:
- Lao động của giáo viên được chuyên môn hóa cao.
- Đối tượng chủ yếu của lao động sư phạm là học sinh phần lớn từ 15
đến 17 tuổi.
- Phương tiện lao động chủ yếu là tinh thần – là nhân cách người thầy.
- Phân biệt giữa lao động trên lớp và lao động bên ngoài không hoàn