TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRẦN THỊ SÁU
BÀI GIẢNG
KỸ NĂNG MỀM
(Dành cho sinh viên ngành Luật)
Quảng Bình, năm 2017
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KỸ NĂNG MỀM (1LT2TL)
1.1. Khái niệm
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một
hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay
công việc phát sinh trong cuộc sống. Giáo dục không chỉ hướng vào mục
tiêu tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà còn
hướng tới mục tiêu phát triển đầy đủ giá trị của mỗi cá nhân giúp con người
có năng lực để cống hiến, đồng thời có năng lực để sống một cuộc sống có
chất lượng và hạnh phúc. Đó là cuộc sống tự do hành động trong hành lang
pháp lý, biết sử dụng kiến thức để bảo vệ mình và lựa chọn, quyết định cho
mình cách ứng xử tích cực trước muôn nẻo đường của cuộc sống.
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Kỹ năng sống là những kỹ năng
tâm lý xã hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân có thể có để tương tác với những
người khác một cách hiệu quả với giải pháp tích cực hoặc ứng phó với
những vấn đề hay những thách thức của cuộc sống hàng ngày.
Theo UNICEF, kỹ năng sống (KNS) là tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý xã
hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra nhưng quyết định có cơ
dụng ngôn ngữ, thói quen cá nhân, sự than thiện và sự lạc quan đặc trưng,…
Soft-skills bổ sung song song kỹ năng cứng (là một phần của chỉ số IQ của
một người) là sự cần thiết phải có trong yêu cầu nghề nghiệp và hầu hết các
hoạt động khác.
Kỹ năng mềm là năng lực cá nhân (bao gồm tổng hòa kiến thức, thái
độ, hành vi) và khả năng vận dụng những kiến thức đó để giải quyết những
vấn đề của cuộc sống đồng thời tương tác một cách hiệu quả với các thành
viên trong xã hội nhằm xây dựng cuộc sống hạnh phúc và có chất lượng. Nó
được thể hiện qua khả năng ứng xử đúng đắn, phù hợp khi giao tiếp với mọi
người hoặc trong những tình huống khác nhau.
1.2. Vai trò của kỹ năng mềm
Sở dĩ giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên là yêu cầu khách quan vì
những lý do sau:
Một là, giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên nhằm trang bị cho các
em những kiến thức quan trọng liên quan đến các kỹ năng trong đòi sống xã
hội, trong công việc. Bởi lẽ sinh viên là trụ cột, là nền tảng của một quốc
gia, không chỉ các em sẽ là chủ nhân của đất nước mà trước hết các em sẽ là
chủ nhân của gia đình. Các em mang trong mình nhiều ước mơ, hoài bão và
khát khao cuộc sống hạnh phúc đồng thời các em cũng có khả năng tư duy
phân tích và phê phán tốt. Do vậy, nếu quan tâm, giáo dục cho các em kỹ
năng mềm thì chúng ta sẽ có thế hệ tương lai biết trân trọng, bảo vệ gia đình
mình và biết đấu tranh chống lại các hành vi tự nhận thức trong xã hội, góp
phần xây dựng xã hội văn minh, phát triển.
Hai là, giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên giúp các em có kỹ năng
cần thiết tránh và chống lại các hành vi bạo lực ở hiện tại và tương lai, qua
đó tạo dựng cuộc sống hạnh phúc cho bản thân, gia đình và góp phần xây
dựng xã hội bình đẳng.
Ví dụ giáo dục kỹ năng kiểm soát cảm xúc, phòng chống bạo lực gia
cứu cho thấy trong một số ngành nghề, kỹ năng mềm quan trọng hơn so với
kỹ năng cứng. Ví dụ như, nghề luật là một nghề mà khả năng ứng phó của
luật sư đối với con người và các tình huống hiệu quả, hợp lý,… quyết định
sự thành công của luật sư đó nhiều hơn là các kỹ năng về nghề nghiệp.
Ngay cả một chuyên gia IT, có được kỹ năng mềm thì có được mối quan hệ
tốt hơn xây dựng giữa đơn vị kinh doanh IT với các đơn vị doanh nghiệp
khác trong bồi dưỡng và cũng cố các mối quan hệ doanh nghiệp.
Kỹ năng mềm là các năng lực hành vi. Nó cũng được biết như kỹ năng quan
hệ con người, hay kỹ năng cộng đồng, chúng bao gồm sự thành thạo trong
các kỹ năng giao tiếp, giải quyết xung đột, thương lượng, làm việc hiệu quả,
giải quyết vấn đề sang tạo, tư duy chiến lược, xây dựng nhóm,…
Kỹ năng trong cuộc sống – Kỹ năng sống, là năng lực, khả năng chuyên biệt
để cư xử, giải quyết các tình huống để sống trong cuộc sống. Sống với
những mối quan hệ, tương tác, giữa chính bản thể (con người) với đối tác
(con người, công việc, các tình huống gặp phải). Sinh ra đời, chúng ta được
quyền tồn tại nhưng để sống cho thực sống , chúng ta phải chứng nghiệm,
trải nghiệm và chiêm nghiệm lại những điều đã qua, từ đó đúc kết lại thành
KNS.
Kỹ năng mềm trong cuộc sống được hình thành từng ngày, từng giờ trong
đời sống của bạn. Tuy nhiên, có những người không rèn luyện, có những
người không thực sống và trải nghiệm nên sẽ không có điều gì đọng lại để
suy ngẫm và trưởng thành thực sự. Có những người phát triển kỹ năng sống
trở thành một nghệ thuật, ví dụ như Dale Carnegie với thuật “Đắc nhân
tâm”. Bởi thế, có người có kỹ năng sống tốt, có kỹ năng sống kém và có
nhiều cấp độ khác nhau trong kỹ năng này. Kỹ năng khác hẳn với năng
khiếu bẩm sinh nên chúng ta có thể học hỏi, tiếp thu và rèn luyện để đạt
được.
1.3. Các kỹ năng mềm cơ bản
hành vi muốn biểu hiện. Sự tự nhận thức giúp chúng ta hiểu mình đang ở
đâu, muốn đi đâu để sẵn sàng thay đổi nhằm đến được nơi cần đến. Không
có sự tự nhận thức, các cảm xúc có thể che mắt chúng ta, khiến ta trở thành
người mà mình không muốn. Nếu hiểu cảm xúc và suy nghĩ của mình,
chúng ta có thể lựa chọn cách hành động hoặc phản ứng trong một tình
huống nào đó hoặc với một người nào đó. Sự lựa chọn này trở thành sức
mạnh, một sức mạnh nội tại không ai có thể lấy đi.
2.2. Giáo dục kỹ năng tự nhận thức
2.2.1. Tự nhận thức về bản thân
Sự tự nhận thức được phát triển thông qua thực hành việc tập trung sự
chú ý vào các chi tiết của cảm xúc, nhân cách và hành vi. Sau đây là một số
kỹ thuật để phát triển sự tự nhận thức:
- Ghi lại những hành vi và cảm xúc khi đối diện với tình huống căng
thẳng.
- Khi tương tác với những người bạn cảm thấy thoải mái, hãy hỏi họ
những phản hồi về hành vi và hành động của bạn.
- Liệt kê ra các điểm mạnh và điểm cần cải thiện.
- Tìm kiếm người bạn tin tưởng để giúp bạn phân tích khả năng của
mình một cách khách quan.
- Tìm kiếm công việc mà bạn đủ tiêu chuẩn và khả năng đảm nhận,
sau đó nhờ cấp trên hoặc người cố vấn đánh giá bạn cần phải làm gì để cải
thiện năng lực của mình.
- Tạo sự tin tưởng với người khác.
- Tận tâm, chú ý và tập trung vào công việc.
- Điều chỉnh bản thân để thích nghi với những hoàn cảnh khác nhau.
- Tập tư duy tích cực, lạc quan và sáng tạo.
- Đặt ra mục đích và mục tiêu cho bản thân và cho công việc.
- Áp dụng kỹ thuật tự khẳng định.
Giá trị cá nhân chính là “nền móng” cho “ngôi nhà” cuộc sống của
bạn. Chúng giúp bạn có những lựa chọn phù hợp và từ đó bạn có thể tự tin
“lèo lái con thuyền cuộc đời” bạn. Giá trị cá nhân của bạn sẽ ảnh hưởng đến
những quyết định liên quan đến các mối quan hệ, sự nghiệp và nhiều vấn đề
khác trong cuộc sống của bạn.
Khi hành động và cách hành xử của bạn phù hợp với những giá trị bạn
chọn, bạn sẽ cảm thấy hài lòng và mãn nguyện với cuộc sống của mình. Nếu
hành động không nhất quán với giá trị bạn chọn thì đây chính là nguyên
nhân khiến bạn cảm thấy chán nản, thất vọng, mất cân bằng trong cuộc sống.
Chính vì thế giá trị cá nhân là một yếu tố quan trọng giúp bạn đạt được hạnh
phúc trong công việc cũng như cuộc sống. Nhưng điều đáng buồn là ít ai
trong số chúng ta dành thời gian để xác định giá trị cá nhân. Có thể bạn biết
một chút ít về giá trị cá nhân của mình và bạn xác định giá trị dựa vào cảm
tính, những gì bạn thấy nên hoặc không nên làm. Tuy nhiên chỉ như vậy là
chưa đủ để xác định chính xác giá trị cá nhân của bạn là gì.
Có rất nhiều tình huống trong cuộc sống bạn phải đối mặt mà bạn
không biết nên xử lý, quyết định theo nguyên tắc nào và bạn lại hoàn toàn
được tự do lựa chọn… Ví dụ như công việc nào phù hợp với mình? Tôi nên
tiếp tục ở lại làm việc hay đổi việc khác? Tôi có nên tiếp tục đi theo đam mê,
cống hiến hết mình cho đam mê nhưng không có tiền bạc rủng rỉnh như
chúng bạn? Tôi nên tiếp tục hợp tác làm ăn với người bạn này không? Tôi có
thể tiếp tục chơi thân với người này sau một số chuyện xảy ra vừa qua
không?… Chính giá trị cá nhân của bạn sẽ giúp bạn xử lý và ra quyết định
dễ hơn trong các tình huống đầy thử thách này. Nếu không xác định rõ giá
trị cá nhân của mình, có thể bạn sẽ đưa ra những quyết định sai lầm và thậm
chí là luôn hối tiếc về sau…
Như vậy, để đạt được hạnh phúc, cân bằng, tự tin và phát triển tối đa
bản thân, bạn cần phải hiểu biết tường tận về giá trị cá nhân của mình. Việc
tinh thần xung phong hoặc chọn ngẫu nhiên theo màu sắc) đồng thời qua đó
mở rộng vấn đề và giới thiệu cho lớp biết theo chủ đề: Tôi là ai?
Biết đánh giá về bản thân, tự hiểu mình, đó là yêu cầu quan trọng giúp
sinh viên biết bảo vệ bản thân.
Hoạt động 2: Xác định kỹ năng tự nhận thức
Bước 1: Chia lớp thành các nhóm nhỏ (5-7 sinh viên) để thảo luận 2
vấn đề. Một là, vai trò của kỹ năng tự nhận thức, hai là làm thế nào để tự
đánh giá đúng bản thân. Một nửa số nhóm sẽ thảo luận nội dung thứ nhất,
nửa còn lại thảo luận vấn đề thứ hai trong vòng 10 phút.
Bước 2: Đại diện từng nhóm lên trình bày kết quả thảo luận của mình,
các nhóm khác tranh luận, phản biện và giảng viên đưa ra kết luận.
Kỹ năng tự nhận thức rất cần thiết đối với mỗi người. Hiểu rõ về bản
thân giúp các em biết được đặc điểm, tính cách, thói quen, những mặt tích
cực, hạn chế của mình để có biện pháp phát huy thế mạnh, hạn chế điểm
yếu, nhất là những tính cách được thể hiện khi đặt trong mối quan hệ với các
thành viên trong gia đình.
Muốn nhận thức đúng đắn về bản thân cần biết lắng nghe bản thân, lắng
nghe người khác. Biết phân tích thông tin thu nhận được từ ý kiến của người
khác một cách đúng đắn, khách quan. Phân tích kết quả các hoạt động mà
mình tham gia để đánh giá năng lực, khả năng bản thân và rút ra bài học
kinh nghiệm. Luôn mạnh dạn tham gia các hoạt động, các sân chơi để bộc lộ
bản thân, qua đó hiểu mình hơn đồng thời tìm cách khắc phục những yếu
điểm thể hiện qua những hoạt động đó.
Hoạt động 3: Rèn luyện kỹ năng tự nhận thức
Bước 1: Giảng viên đưa ra những tình huống trong cuộc sống để các
nhóm đóng vai và mỗi nhân vật tự thể hiện bản thân trong các hoàn cảnh đó.
Các tình huống đó có thể là cuộc phỏng vấn xin việc, buổi thuyết trình, cuộc
thi tài năng hoặc tình huống áp lực từ công việc, mâu thuẫn từ gia đình, thất
Hai người nông dân rời quê đi kiếm sống. Một người muốn đi Thượng
Hải, còn người kia muốn đi Bắc Kinh. Trong phòng chờ, họ đã thay đổi ý
định, bởi vì họ nghe người xung quanh bàn luận rằng: Người Thượng Hải
khôn ngoan lắm, người nơi khác đến hỏi đường, họ cũng thu lệ phí. Còn
người Bắc Kinh thì thật thà chất phác, thấy ai không có cái ăn, không những
họ cho bánh bao mà còn cho cả quần áo cũ nữa.
Người trước đây muốn đi Bắc Kinh nghĩ bụng, Thượng Hải hay hơn,
chỉ đường cho người khác cũng có thể được kiếm tiền, thế thì chẳng có việc
gì là không kiếm được tiền cả. May quá mình vẫn chưa lên tàu, nếu không
đã đánh mất một cơ hội làm giàu.
Người trước đây muốn đi Thượng Hải nghĩ bụng, Bắc Kinh hay hơn,
không kiếm được tiền cũng không bị chết đói. May mà mình vẫn chưa lên
tàu đi Thượng Hải.
Thế là, họ gặp nhau tại quầy trả vé, người trước đây muốn đi Bắc
Kinh đổi vé đi Thượng Hải, người muốn đi Thượng Hải đổi vé đi Bắc Kinh.
Người đi Bắc Kinh nhận thấy rằng, Bắc Kinh thật là tuyệt vời. Tháng
đầu tiên, anh ta không phải làm gì cả, nhưng vẫn không bị đói. Không những
anh ấy có thể uống nước lọc miễn phí trong đại sảnh của những nhà hàng
lớn, mà còn được ăn các món miễn phí trong các siêu thị.
Người đi Thượng Hải phát hiện rằng. Thượng Hải quả là một thành
phố có thể kiếm được nhiều tiền. Làm việc gì cũng có thể kiếm ra tiền. Chỉ
đường cho người khác cũng có thể kiếm được tiền, bưng một chậu nước cho
người khác rửa mặt cũng có thể kiếm được tiền. Chỉ cần chịu khó động não
một chút, rồi chịu khó lao động là có thể kiếm được nhiều tiền.
Dựa vào kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình đối với đất trồng, người đi
Thượng Hải ra vùng ngoại ô lấy những bao đất, trộn lẫn với lá cây và cát, để
bán (dưới danh nghĩa là đất trồng cây cảnh) cho người những người Thượng
Hải yêu hoa mà chưa nhìn thấy đất trồng hoa bao giờ. Ngày đầu tiên, ông đi
Hoạt động 3: Giúp sinh viên nắm được cách thức hình thành kỹ năng.
Tiếp thu, lĩnh hội kỹ năng, cách ứng xử mới thông qua hoạt động nhóm lớp.
Qua đó trang bị cho sinh viên kiến thức và kỹ năng thực hiện.
Hoạt động 4: Xây dựng tình huống tự nhận thức và sân khấu hóa tình
huống đó để sinh viên rèn luyện các kỹ năng. Vận dụng những cách thức
ứng xử đã tiếp thu ở hoạt động 3 để giải quyết tình huống.
3.3. Cách thức rèn luyện và giáo dục các kỹ năng xác định giá trị
Muốn giáo dục kỹ năng xác định giá trị đạt kết quả cao không chỉ xác
định đúng, đủ nội dung cần giáo dục mà còn có cách thức và biện pháp
tác động phù hợp với khả năng tiếp cận của sinh viên. Phương pháp giáo
dục kỹ năng xác định giá trị là hệ thống những cách thức tác động của nhà
giáo dục đến quá trình rèn luyện và vận dụng các kỹ năng vào thực tế
cuộc sống. Từ cách tiếp cận đó phương pháp giáo dục kỹ năng xác định
giá trị cho sinh viên là cách thức, biện pháp tổ chức quá trình giáo dục
nhằm hình thành ở sinh viên năng lực xác định các giá trị sống đúng đắn,
tạo dựng cho mình và gia đình cuộc sống an toàn, hạnh phúc. Phương
pháp áp dụng trong một hoạt động giáo dục kỹ năng xác định giá trị gồm
phương pháp động não, phương pháp tổ chức hoạt động, phương pháp sân
khấu hóa tình huống. Trước hết, sinh viên được giới thiệu về mục tiêu hoạt
động để định hướng cho hoạt động, kích thích nhu cầu và tạo dựng động cơ
học tập cho sinh viên. Sau đó sinh viên được đặt vào tình huống phải động
não để đưa ra ý kiến của mình về những vấn đề đã từng tiếp cận hoặc về một
vấn đề mới trên cơ sở được cung cấp một số thông tin cơ bản, cần thiết.
Phương pháp động não là phương pháp được sử dụng nhằm tạo ra
những cách nhìn mới mẻ về một chủ đề hoặc một vấn đề được đặt ra trong
một thời gian ngắn nhất. Động não áp dụng đối với bài học hướng đến mục
đích phát triển ở sinh viên những phẩm chất của người hoạt động độc lập,
đặc biệt là óc sáng tạo và khả năng phê phán. Kết quả thể hiện ở những ý
luôn là việc khó khăn. Do vậy, sau mỗi bài học giảng viên cần đưa ra các
tình huống tự nhận thức giả định dưới hình thức bài tập tự học để sinh viên
tiếp cận, tư duy và đưa ra cách xử lý phù hợp. Đó cũng sẽ là nội dung được
cả lớp trao đổi, thảo luận và giảng viên định hướng trong những buổi học
tiếp theo nhằm trang bị cho sinh viên những cách ứng xử phù hợp khi gặp
phải những tình huống trong thực tế cuộc sống.
CHƯƠNG 4: KỸ NĂNG XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU (4LT-4TL)
4.1. Khái niệm
Mục tiêu là những thành tựu mà chúng ta muốn đạt được trong tương
lai. Chúng ta sẽ dễ dàng đạt được mục tiêu nếu chúng ta lập kế hoạch trước.
Chúng ta sẽ cùng bàn về hai loại mục tiêu, đó là “mục tiêu ngắn hạn/trước
mắt” (mục tiêu sẽ đạt được trong khoảng 6 tháng) và “mục tiêu dài hạn”
(mục tiêu sẽ đạt được trong một năm hoặc lâu hơn).
4.2. Giáo dục kỹ năng xác định mục tiêu
4.2.1. Xác định mong muốn
Lập kế hoạch cho tương lai
Hãy nghi đến tương lai của bạn.Tưởng tượng xem cuộc sống của bạn
trong năm tới sẽ thế nào. Hãy tự hỏi xem khi đó: Bạn đang sống cùng ai?
Những ai là bạn của bạn? Bạn có người yêu chưa? Bạn làm gì trong thời
gian rỗi? Bạn có hút thuốc, uống rượu, hay dùng chất kích thích không? Liệu
bạn có mắc một căn bệnh lây qua đường tình dục như HIV/AIDS? Bạn đang
học phổ thông hay học đại học hay đã đi làm?
Tiếp tục hình dung cuộc sống của bạn trong những năm sau đó như
thế nào và cũng tự đặt những câu hỏi tương tự. Xem bạn có thể đưa ra những
quyết định gì (cả tốt cả xấu) sẽ ảnh hưởng tới tương lai của bạn (cả tích cực
lẫn tiêu cực). Hãy để những ước vọng và giấc mơ chỉ lối cho bạn tránh
những hành vi bất lợi. Hiện giờ những quyết định nào bạn đưa ra có ảnh
hưởng tới tương lai của bạn? Bạn đang làm gì để có thể đạt được các mục
hiện ước mơ của mình. Một người sáng suốt sẽ thực hiện theo cách, “Nỗ lực
cho những gì đáng giá (làm)” Nếu bạn thực sự muốn giành được mục tiêu
của mình thì bạn cần phải nỗ lực hết mình để giành được mục tiêu đó.
4.2.2. Xác định mục tiêu
Xây dựng mục tiêu
Khi xây dựng mục tiêu bạn nên nhớ một số điểm sau:
Ghi các mục tiêu ra thật rõ ràng. Trình bày những gì bạn cần làm chứ
không phải những gì bạn nên tránh. Ví dụ: nếu bạn cảm thầy thói quen ăn
uống của mình có vấn đề thì bạn có thể đưa ra mục tiêu như sau “Tôi sẽ ăn
nhiều hoa quả và rau xanh hơn để có lối sống lành mạnh hơn”. Bạn không
nên nói “Tôi sẽ không ăn kẹo, bánh và các loại thực phẩm không tốt cho sức
khoẻ”. Nếu bạn luôn nghĩ đến những việc bạn cần làm (thay vì những việc
không nên làm) thì sẽ dễ dàng thành công hơn và sẽ có ý nghĩ tích cực hơn
về việc cần làm để đạt được mục tiêu.
Đặt ra những tiêu chuẩn cao nhưng phải thiết thực. Đưa ra mục tiêu có
thể đạt được nhưng đừng đưa ra những mục tiêu có thể dễ dàng đạt được
như vậy bạn sẽ thấy các mục tiêu này nhàm chán. Thách thức bản thân cũng
là một điều rất quan trọng.
Phải cụ thể: Nếu bạn đề ra mục tiêu không rõ ràng thì bạn sẽ khó xác
định được bạn cần làm những gì để đạt được mục tiêu và bạn sẽ dễ dãi với
bản thân khi bạn không thực hiện đúng theo kế hoạch. Ví dụ: nếu mục tiêu
của bạn là “Năm 19 tuổi tôi sẽ học tại trường Đại học Quảng Bình để trở
thành luật sư ” thì không nên chỉ đề ra mục tiêu là “Tôi muốn đi học” vì như
vậy quá chung chung. Liệu bạn có muốn học tại một trường đại học, cao
đẳng hay trường chuyên nghiệp nào đó? Nếu bạn không cụ thể hoá những gì
bạn thực sự muốn thì bạn biết làm thế nào để giành được mục tiêu của mình.
Các bước sau đây sẽ giúp thành lập mục tiêu của mình: Xác định mục tiêu:
Ghi ra một mục tiêu ngắn hạn và một mục tiêu dài hạn. Ví dụ: Tôi sẽ học tại
Trong quá trình hoạt động nhóm, các thành viên của nhóm sẽ có những mục
tiêu chung, hoạt động trên những tiêu chí chung để hoàn thành công việc
được giao. Điều này tạo cho bản thân mỗi thành viên trong nhóm một động
lực trong quá trình làm việc. Động lực làm việc này giúp các em có được cái
nhìn khách quan hơn trong cuộc sống, làm cho các em có thêm niềm tin và
nghị lực để tiếp tục hoàn thành các nhiệm vụ của bản thân.
Trong một nhóm, các cá nhân luôn được khẳng định quyền của bản
thân và luôn được thừa nhận. Tập thể là nơi các em được nói ra những suy
nghĩ cũng như những ý kiến, sáng tạo của mình. Các em được là chính mình,
được thỏa mái thể hiện bản thân nhằm khẳng định vị trí cũng như vị thế của
mình trong tập thể, cũng chính là quá trình các em thể hiện mình lớn lên.
Điều đó là cho các em sinh viên thêm năng động và ngày càng tích cực, sáng
tạo trong công việc của mình. Hoạt động theo nhóm mang lại cơ hội cho các
em thỏa mãn những nhu cầu về bản thân, được đón nhận và thể hiện tiềm
năng của bản thân.
Mỗi cá nhân trong nhóm điều học được những điều bổ ích trong quá
trình học tập và sinh hoạt cùng nhau. Chúng ta học được những điểm hay
cũng như những điểm chưa được của chính bản thân và mọi người xung
quanh để có thể từ đó nhìn rõ và chỉnh sửa lại bản thân theo chiều hướng
ngày càng tốt hơn, tích cực hơn.
Bên cạnh đó, việc hoạt động và làm việc theo nhóm tạo ra một môi
trường mới, một bầu không khí thoải mái, đầm ấm cho các thành viên tham
gia. Chính điều này đã tạo cho các em những cảm xúc tích cực để có thể
đương đầu với những khó khăn phía trước.Những niềm tin mới dần được
xây dựng trong tâm tư của các em. Là những sức mạnh mạnh mới giúp các
em tự tin hơn vào bản thân.
Mỗi nhóm khác nhau luôn có một hệ thống quy tắc ứng xử, một
phương châm làm việc tương ứng. Mỗi bạn sinh viên với tư cách là một
Hoặc với khả năng riêng của mình, các bạn sinh viên còn có thể hướng cả
nhóm theo một chương trình vì lợi ích cộng đồng nào đó, hay sáng tạo với
những ý tưởng kinh doanh nhỏ trong nhóm của mình. Ví như việc mở một
cửa hàng lưu niệm với những món quà ngộ nghĩnh, những thông điệp dễ
thương dành cho các bạn sinh viên tặng nhau nhân ngày sinh nhật hay các
ngày lễ chẳng hạn,…
Chính các yếu tố trên sẽ giúp mỗi người hãy hình thành cho riêng
mình những kỹ năng cần thiết trong việc tham gia vào các nhóm nhỏ và
chính đó cũng sẽ là hành trang mới cho mỗi chúng ta bước đến con đường
phía trước một cách đầy vững chãi và tự tin.
Quy trình làm việc nhóm:
1. Họp nhóm lần 1
- Khi nhóm nhận đề tài, trưởng nhóm sẽ đem ra cho các thành viên
trong nhóm thảo luận chung, tìm ý tuởng hay, phát biểu và đóng góp ý kiến.
- Nhóm sẽ phân công, thảo luận công việc cho phù hợp khả năng từng
người dựa trên chuyên môn vủa họ.
- Đề ra kế hoạch cụ thể, nhật ký công tác, thời gian dự tính sẽ hoàn
thành và chuẩn bị cho lần họp sau. Thông báo phần thưởng, phạt với các
thành viên.
2. Những lần gặp sau.
- Tiếp tục có nhiều cuộc họp khác để bổ sung thêm ý kiến và giải đáp
thắc mắc cho từng người.
- Biên tập lại bài soạn của từng ngươì cũng như chuẩn bị tài liệu bổ
sung.
3. Lần họp cuối cùng trước khi hoàn thành công việc
- Người trưởng nhóm tổng hợp lại toàn bộ phần việc của mỗi thành
viên.
- Chuẩn bị sẵn bài thuyết trình và trả lời những câu hỏi thường gặp.