TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON
GIÁO TRÌNH
(Lưu hành nội bộ)
GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA CHO TRẺ
(Dành cho sinh viên ngành ĐHGD mầm non)
Tác giả: Nguyễn Thị Diễm Hằng
1
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HÀNH VI VĂN HÓA ........................................... 4
1.1. Khái niệm về hành vi............................................................................................................... 4
1.2. Khái niệm hành vi văn hóa .................................................................................................... 5
1.3. Hai hình thái bên ngoài và bên trong của hành vi văn hóa ............................................ 6
1.4. Các loại hành vi văn hóa ........................................................................................................ 7
CHƯƠNG 2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HÀNH VI VĂN HÓA 12
2.1. Sự hình thành và phát triển hành vi trong bậc thang tiến hóa ..................................... 12
2.2. Các trình độ hành vi ở người ............................................................................................... 14
2.3. Tự ý thức và sự xuất hiện hành vi văn hóa ...................................................................... 17
2.4. Đặc điểm phát triển hành vi văn hóa của trẻ mẫu giáo (3 – 6 tuổi) .......................... 21
CHƯƠNG 3. NỘI DUNG GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA CHO TRẺ ....................... 30
DƯỚI 6 TUỔI ..................................................................................................................................... 30
3.1. Nguyên tắc giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ dưới 6 tuổi ........................................... 30
3.2. Nội dung giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ dưới 6 tuổi ............................................... 32
CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HÀNH VI VĂN HÓA
1.1. Khái niệm về hành vi
1.1.1. Hành vi là gì?
Bắt đầu từ đầu thế kĩ XX thuật ngữ hành vi (behavior) được sử dụng nhiều và được
xem xét từ nhiều quan điểm khác nhau. Một số quan điểm chủ yếu:
Các nhà sinh học đại diện là E.L.Tooc-đai-nơ (1874-1949) xem hành vi là cách sống
và hoạt động trong một môi trường nhất định của một cá thể để thích nghi với môi trường
đó nhằm đảm bảo cho nó được tồn tại.
Chủ nghĩa hành vi là một trong những trào lưu phổ biến nhất trong tâm lý học tư sản
hiện đại. Trường phái này có khá nhiều quan điểm:
Trước hết là chủ nghĩa hành vi cổ điển do G.Oat-xơn (1878 - 1958) đề xướng vào
năm 1913 tại trường Đại học Sicago, cơ sở thực nghiệm của chủ nghĩa hành vi này là
những công trình nghiên cứu của Tooc-đai-nơ về hành vi động vật. Ông quan niệm tâm lý
học: “Hành vi người, tức là mọi ứng xử và từ ngữ của con người cả những cái di truyền lẫn
những cái tự tạo làm đối tượng nghiên cứu. Đó là việc nghiên cứu con người làm gì, bắt
đầu từ trong bào thai đến lúc chết”. Vậy so với tâm lý học duy tâm (nghiên cứu một cách
trừu tượng) thì nghiên cứu của ông được đánh giá cao hơn.
Chủ nghĩa hành vi mới, tác giả tiêu biểu là C.Han-lơ (1884-1952) và E.Tôn-men
(1886-1959); chủ nghĩa hành vi bảo thủ do B.Ph. Xkin-nơ (1904) khởi xướng ra đời dưới
ảnh hưởng của học thuyết I.P.Pap-lốp đã vay mượn thuật ngữ và cách phân loại những hình
thức hành vi trong học thuyết này nhưng về bản chất lại khôn giống nhau.
Dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng họ đều có chung một quan điểm là: coi mọi
hành vi đều biểu thị bằng công thức :
S-R
Trong đó: S là kích thước; R là phản ứng
Theo nguyên tắc trực tiếp và không có sự tham gia của chủ thể. Mặc dù sau này có
một số quan niệm phản ứng của con người không chỉ đối với các kích thích có tính sinh học
Biểu thị theo công thức sau:
S–X–R
S–R
Hành vi có ý thức
Hành vi mang tính bản năng
Cải tạo môi trường và đồng thời hoàn Thích nghi với môi trường
thiện bản thân (Kết quả kép)
1.2. Khái niệm hành vi văn hóa
1.2.1. Hành vi văn hóa là gì ?
Là cách ứng xử của con người trong một hoàn cảnh nhất định, bị chi phối bởi hệ
thống giá trị văn hóa của dân tộc (hay một nhóm người trong đó), mà cốt lõi là giá trị đạo
đức và giá trị thẩm mĩ, khiến cho cách ứng xử mang tính đặc thù của dân tộc ấy.
1.2.2. Sự khác biệt và mối quan hệ giữa khái niệm hành vi văn hóa với khái niệm hành
vi đạo đức và giao tiếp có văn hóa
Trước hết, cần xem xét sự khác biệt giữa hai khái niệm hành vi văn hóa và hành vi
đạo đức. Chúng ta có thể nhận thấy hành vi văn hóa có liên quan mật thiết đến hai phạm trù
đạo đức và thẩm mĩ. Hành vi văn hóa trước hết phải thể hiện được mặt đạo đức của hành vi
nhưng ngược lại, một hành vi đạo đức chưa hẳn là một hành vi văn hóa nếu thiếu mặt thẩm
mĩ.
Khái niệm hành vi đạo đức rộng hơn khái niệm hành vi văn hóa, bởi vì không phải
bất cứ hành vi đạo đức nào cũng được xem là hành vi văn hóa, mà chỉ những hành vi đạo
đức mang tính thẩm mĩ mới gọi là hành vi văn hóa. Mặt khác, biểu hiện bên trong của hành
vi văn hóa là ý thức đạo đức còn biểu hiện bên ngoài của hành vi văn hóa là tính thẩm mĩ.
5
quanh, tiếp nhận ảnh hưởng từ thế giới đối tượng tác động vào nội tâm làm biến đổi, phát
triển tâm lý con người (đã tác động trở lại hình thái bên trong để phát triển hoàn thiện nhân
cách con người) và có vai trò đặc biệt, nó trực tiếp tác động đến đối tượng và biểu hiện
bằng những vận động, cử chỉ, lời nói, tức hành động vật chất được người ngoài nhận biết
trước khi nhận biết mặt tinh thần - tâm lý - động cơ ẩn dấu bên trong hành vi. Hình thái bên
ngoài mới mang tính năng động, cải tạo đối với hiện thực khách quan.
Sự tác động qua lại giữa hình thái bên trong và bên ngoài để tạo nên hành vi của một
con người. Hai hình thái trên thống nhất với nhau. Hình thái bên trong chủ yếu là ý thức
đạo đức, ý thức đạo đức càng trong sáng, càng sâu sắc thì hành vi mới thể hiện mạnh mẽ và
6
có tác động tích cực đến đối tương bấy nhiêu và ngược lại. Khi thể hiện cái bên trong ra
bên ngoài thì lại đòi hỏi mặt hình thức cần có tính thẩm mĩ, sẽ làm cho hiệu quả của hành vi
được nâng cao, nhất là trong cách ứng xử với mọi người và sự thống nhất giữa hai hình thái
diễn ra một cách tự nhiên.
Mối tương quan giữa hai hình thái bên trong và bên ngoài của hành vi, chúng ta có thể
kết luận: Để có một hành vi văn hóa hoàn hảo nhất thiết phải có một hình thái bên trong,
chủ yếu là động cơ đạo đức thật tốt và cần được thể hiện ở một hình thái bên ngoài thật
đẹp bằng cử chỉ, điệu bộ, lời nói ý tứ, tế nhị, mang tính thẩm mĩ để tác động của nó có hiệu
quả tích cực đến xung quanh.
1.4. Các loại hành vi văn hóa
1.4.1. Hành vi văn hóa xã giao
Nhiều loài động vật biết thể hiện tính hiệu mỗi khi gặp nhau như đàn kiến gặp nhau
lại chào, đàn ong báo cho nhau biết ở đâu có hoa mà hút mật… Nhưng đó chỉ là hành vi
bản năng, sinh ra đã có, đó không phải hành vi văn hóa.
Ở con người mỗi khi tiếp xúc với nhau, người ta đã thể hiện những hành vi mang tính
xã giao: gặp nhau thì chào hỏi, ai giúp đỡ mình thì cảm ơn, làm ai điều gì thì phải xin lỗi…
đó là những hành vi văn hóa đích thực bên trong chứa đựng tình người và bên ngoài là
những cử chỉ mà mình tiếp xúc. Những hành vi văn hóa như thế được gọi là hành vi văn
mặt là để con người trút nỗi lòng mình đến với những người mà mình tin tưởng, mặt khác
là tiếp nhận sự đồng cảm của họ, bởi tình yêu có hai chiều là cho và nhận. Khi có thể tìm
hiểu được một hành vi văn hóa xúc cảm nào lại chỉ có hiệu quả một chiều ngay cả việc làm
từ thiện.
Hành vi văn hóa mang tính xúc cảm không chỉ biểu hiện giữa người với người mà còn
biểu hiện giữa con người với thiên nhiên. Xem thiên nhiên là người bạn thân thiết của
mình, đó là kiểu ứng xử của những người có văn hóa rất đậm tình người. Bởi thiên nhiên và
con người có mối quan hệ gắn bó với nhau: càng yêu con người bao nhiêu càng yêu thiên
nhiên bấy nhiêu và ngược lại. Điều đó dễ nhận ra trong hành vi của các em nhỏ em nào biết
nâng niu những mầm sống như con gà mới nở, nụ hoa mới hé… thường là những em bé
biết thương yêu, thân ái với bạn bè biết quan tâm chăm sóc những em thơ dại, biết lễ phép
với người lớn, biết giúp đỡ ân cần đối với người già yếu, bệnh tật. Trái lại những đứa trẻ
nào thường có những hành vi thô bạo với thiên nhiên, ngắt lá bẻ cành… thì cũng thường
hay bắt nạt những em bé yếu hơn mình, ăn nói thô lỗ, láo lếu với người lớn và đặc biệt rất
thích nghịch trò, quậy phá, gây nguy hiểm cho người khác … đó là manh nha những hành
vi độc ác sau này. Rõ ràng hành vi thô bạo với thiên nhiên thường đi đôi với cách ứng xử
độc ác với con người của các em nhỏ thiếu giáo dục.
1.4.3. Hành vi văn hóa nhận thức
Nhận thức của con người là vô tận bởi sự tìm tòi chân lý không bao giờ đến tận cùng.
Từ những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày đến những điều lớn lao về xã hội và tự
nhiêu đều đòi hỏi con người luôn luôn khám phá để có được nhận thức đúng, vì nó mang
tính định hướng cao cho hành vi. Nhận thức của con người luôn luôn vận động từ đơn giản
đến phức tạp, từ thấp đến cao, đó là nhờ lòng ham hiểu biết của mỗi người không bao giờ
được thỏa mãn đầy đủ. Muốn có định hướng đúng để cuộc sống được hoàn thiện về vật chất
và tinh thần, con người luôn nâng cao sự hiểu biết của mình bằng những tìm tòi khám phá
thể hiện ở những hành vi văn hóa nhận thức. Sự tìm tòi khám phá đó được thực hiện qua
nhiều con đường sau:
Thông qua giao tiếp: Con người không bao giờ hiểu hết lẽ đời bởi tính đa dạng và sâu
sắc của nó. Mỗi khi thắc mắc, băn khoăn người ta thường tìm gặp người khác để bày tỏ thắc
8
Hành vi này thường thực hiện ở hai chiều: Đánh giá người khác và đánh giá bản thân
mình.
Hành vi đánh giá người khác: Con người bao giờ cũng tồn tại trong một nhóm xã hội,
khi còn bé thì sống trong gia đình; lớn lên vui chơi cùng bạn bè, đến trường học tập trong
lớp có thầy có bạn; khi trưởng thành được làm việc với các đồng nghiệp... Đó là những môi
trường để con người phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình. Hằng ngày đối diện với
những người xung quanh, vô tình hay hữu ý ta đều nhận ra những đặc điểm của họ, trước
hết là dáng vẻ bên ngoài, sau đó là tính tình bên trong. Đương nhiên trong khi tiếp xúc với
người ngoài thông thường ta khó mà thoát khỏi thái độ đánh giá họ. Thái độ đánh giá đó
9
bao giờ cũng kèm theo cách ứng xử tương ứng: Gần gũi hay xa lánh, khâm phục hay khinh
bỉ, khó chịu hay dễ chịu... điều đó thường được thể hiện ở hình thái bên ngoài của hành vi
đánh giá.
Đánh giá người khác là việc rất khó khăn, đòi hỏi người đánh giá cần có thái độ khách
quan, thực sự cầu thị, tức là một thái độ nhìn nhận công bằng, khách quan. Tuy nhiên, bên
cạnh đó chúng ta đánh giá một cách quá dễ dãi, xuề xòa hay ngược lại quá khắt khe…
Những hành vi đánh giá như vậy thường không mang lại lợi ích gì cho người đánh giá lẫn
người được đánh giá mà nhiều khi còn có hại cho quan hệ giữa đôi bên.
"Đánh giá đón trước" là một kiểu hành vi đánh giá rất có văn hóa mang tính nhân đạo
cao. Thực chất của việc đánh giá đón trước là nâng phẩm chất nhân cách người đó vốn có,
để rồi từ đó mà tìm biện pháp giúp đỡ họ vươn tới mức của sự đánh giá đón trước. Người ta
đã nhận thấy rằng phương pháp đánh giá đón trước thường mang lại kết quả khả quan trong
việc giáo dục phát triển và hoàn thiện nhân cách con người.
Đánh giá người khác là một việc rất khó, hành vi đánh giá đòi hỏi vừa phải mang tính
khoa học, đúng mực, thẳng thắn, lại phải vừa mang tính nghệ thuật phù hợp với hoàn cảnh.
Đó mới là hành vi đánh giá có văn hóa.
Đánh giá bản thân - Tự đánh giá: Tự đánh giá bao giờ cũng trên cơ sở biết đánh giá,
nhận xét người khác qua đó mà nhận thức về bản thân để nhận ra mình là người như thế
quan hệ giữa hành vi văn hóa, hành vi đạo đức và hành vi giao tiếp có văn hóa
2. Phân tích mối quan hệ giữa hình thái bên trong và bên ngoài của hành vi văn hóa
3. Phân tích đặc điểm các loại hành vi văn hóa. Lấy ví dụ minh họa.
11
CHƯƠNG 2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HÀNH VI VĂN HÓA
2.1. Sự hình thành và phát triển hành vi trong bậc thang tiến hóa
2.1.1. Sự hình thành và phát triển hành vi trong quá trình tiến hóa của động vật
Theo nghĩa rộng, hành vi là cách phản ứng của một cá thể trong một môi trường nhất
định để thiết lập sự cân bằng của cơ thể với môi trường nhắm thích nghi với môi trường đó,
thì mọi động vật đều có hành vi dù là động vật bậc thấp.
Từ giai đoạn phát triển đầu tiên của sự sống ta đã thấy xuất hiện hai hình thái cơ bản
của tính biến dị trong mối tác động qua lại giữa cơ thể và môi trường. Ngay ở các sinh vật
đơn bào, hai hình thái này cũng đã xác định sự phân chia tất cả các cơ thể sống thành hai
nhánh cơ bản là thực vật và động vật. Một hình thái có tính thụ động, chủ yếu thể hiện
trong sự biến đổi các quá trình biến hóa và trong cơ cấu của cơ thể dưới dạng ảnh hưởng
của môi trường, đó là hình thái biến dị quy định sự phát triển của thực vật. Hình thái thứ hai
có tính tích cực của tính biến dị vốn quy định sự phát triển của động vật, được biểu hiện ra
chủ yếu trong sự biến đổi các hình thái hành vi của cơ thể, tức là trong sự biến đổi các
phương thức và các hình thái phản ứng tích cực của cơ thể đối với tác động của môi trường
biến động.
Nếu thực vật chỉ dừng lại ở chứng chịu kích thích (tích chịu kích thích là năng lực của
cơ thể sống đáp ứng lại những kích thích trực tiếp của môi trường bằng các quá trình duy trì
sự sống của cơ thể - hình thức phản ánh sinh lí), thì động vật trong quá trình tiến hóa đã đáp
ứng với những kích thích của môi trường không những với những kích thích tín hiệu mà có
tác dụng chuẩn bị, định hướng cho cơ thể trong môi trường, đó là tính cảm ứng kích thích.
Hàng chục ngàn triệu năm trước đây, loài động vật nguyên sinh xuất hiện, đó là loài
phóng khoáng hơn.
Từ 200 – 100 triệu năm trước đây, lớp bò sát xuất hiện với hệ thần kinh não bộ phát
triển và vỏ não bắt đầu xuất hiện, tri giác phát triển mạnh và đặc biệt là khả năng chú ý
trong môi trường biến động giúp cho hành vi rình mồi của bò sát thận trọng, chính xác hơn.
Từ 50 – 30 triệu năm trước đây, lớp có vú bậc thấp xuất hiện với hệ thần kinh có bán
cầu não lớn và vỏ não phát triển, bắt đầu có biểu tượng của trí nhớ. Nhờ đó hành vi của lớp
thú bậc thấp ( sói, hổ, cáo, voi…) khi săn mồi đã trở nên tinh khôn hơn trong môi trường
rừng núi rộng lớn.
Khoảng chục triệu năm trước đây, khi họ khỉ xuất hiện với hệ thần kinh phát triển, vỏ
não trùm lên các phần khác của não, khỉ bắt đầu có tư duy bằng tay và mầm móng của trí
tưởng tượng, khiến cho hành vi khỉ mang tính hợp lý hơn hay còn gọi là trí khôn.
2.1.2. Sự xuất hiện hành vi của con người
Khoảng 2 – 1 triệu năm trước đây, trong môi trường luôn luôn biến động, loài hôm –
sapiens (giống người đầu tiên) xuất hiện với hệ thần kinh hết sức tinh vi: vùng não trước
phát triển nhiều nếp nhăn, khúc cuộn não phát triển mạnh, tăng diện tích võ não lên rất
nhiều, xuất hiện hệ thống tín hiệu thứ hai, khiến cho hành vi của con người khác hẳn về
chất so với hành vi động vật trước đây, kể cả lớp khỉ. Hành vi của con người được điều
khiển bởi ý thức, tâm lý bậc cao rất phức tạp (bao gồm tư duy trừu tượng, ngôn ngữ, ý
chí…) giúp con người không chỉ thích nghi với môi trường mà quan trọng hơn là cải tạo
môi trường. Cũng từ đây con người đã thoát khỏi thế giới động vật để trở nên sáng tạo mới
của lịch sử, tạo ra một cuộc sống ngày càng phát triển như ngày hôm nay.
Trải qua hàng triệu năm, quá trình tiến hóa hành vi của thế giới động vật đã bước
những bước phát triểu từ thấp đến cao. Quá trình đó phụ thuộc vào hai mối quan hệ cơ bản
là mối quan hệ giữa hành vi của động vật với cơ thế (chủ yếu là hệ thần kinh) và mối quan
13
hệ giữa hành vi và môi trường. Trong sự phụ thuộc đó thì môi trường đóng một vai trò vô
cũng quan trọng, vì chính nó đã biến đổi cấu tạo cơ thể (chủ yếu là hệ thần kinh) mà biến
đổi hành vi động vật.
đẩy vào một hoàn cảnh mới mẻ của môi trường không khí với vô số kích thích của thế giới
bên ngoài. Sở dĩ đời sống của em bé trong môi trường mới này vẫn được đảm bảo là nhờ
những cơ chế di truyền có sẵn: hệ thần kinh đã sẵn sàng thích nghi với điều kiện bên ngoài,
14
những hoạt động sống (hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa…) được thực hiện trên cơ sở những
phản xạ không điều kiện bắt đầu khởi động.
Đây là thời kì duy nhất trong đời sống con người những hành vi bản năng được biểu
hiện dưới dạng thuần túy nhất để thỏa mản những nhu cầu cơ thể, đảm bảo sự sống còn của
đứa trẻ. Đối với thế giới động vật, những phản xạ không điều kiện là cơ sở để đảm bảo cho
con vật một đời sống bình thường. Trong khi đó những phản xạ không điều kiện của đứa trẻ
lại không thể đảm bảo sự xuất hiện các hành vi của con người như nói năng, suy nghĩ, lao
động… Tuy vậy, khi mới sinh ra đứa trẻ lại có một khả năng đặc biệt mà động vật không có
được, đó là khả năng tiếp nhận kinh nghiệm lịch sử - xã hội để hình thành những hành vi
đặc biệt của con người mà ta thường gọi là hành vi văn hóa.
Như vậy sự lớn lên thành người là quá trình đứa trẻ tiếp nhận kinh nghiệm lịch sử - xã
hội ngày một phong phú, sâu rộng để hình thành và phát triển những hành vi văn hóa ngày
càng cao. Đồng thời trong quá trình đó những hành vi bản năng không còn giữ nguyên tình
trạng như bẩm sinh lúc đầu mà được biến đổi theo trình độ văn hóa đã được hình thành và
phát triển ở con người. Nói cách khác, hành vi bản năng ở con người đã bị chi phối bởi ý
thức xã hội mà thành hành vi xã hội mang trong mình một trình độ văn hóa nhất định. Sở dĩ
con người thoát ra khỏi thế giới động vật để bước sang phạm trù người và cao hơn hẳn con
vật, đó là nhờ con người biết biến hành vi bản năng thành hành vi văn hóa. Do đó việc ăn
uống, sinh đẻ, nuôi con… vốn là những hành vi bản năng được con người kế thừa từ tổ tiên
động vật, nhưng giờ đây hành vi bản năng đó ở con người không còn tính chất bẩm sinh
nữa mà thay đổi để biến thành hành vi văn hóa.
Hành vi bản năng đóng vai trò nhất định trong cuộc sống của con người, đó là hoạt
động sống, là điều kiện ban đầu để con người tồn tại như một thực thể sinh vật mà thôi.
Nhìn chung trong toàn bộ hoạt động của con người thì đại bộ phận hành vi của con người là
2.2.3. Mối quan hệ giữa hành vi có ý thức và hành vi vô thức
Trong mỗi con người, đời sống ý thức và vô thức không phải là hai thế giới tách biệt
nhau, mà chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ ấy, hành vi ý thức và
hành vi vô thức có thể hỗ trợ cho nhau, chuyển hóa lẫn nhau. Chiều ngươc lại của mối quan
hệ này là hành vi ý thức cũng có thể chuyển thành hành vi vô thức trong những điều kiện
nhất định. Một hành vi ý thức nếu được lặp đi lặp lại, được cũng cố nhiều lần trong hoàn
cảnh nhất định sẽ được tự động hóa thành hành vi vô thức. Điều đó có nghĩa là việc thực
hiện hành vi từ việc phải cần đến sự thường trực của ý thức để điều khiển, để kiểm soát đến
chỗ không cần có ý thức chi phối mà hành vi vẫn tự động thực hiện một cách dễ dàng.
Hoạt động vô thức (trừ bản năng) dù là hành vi được tự động hóa thành kỹ xảo, dù
hành vi đã gắn với nhu cầu thành thói quen hay là những hành vi được tích lũy, ẩn giấu
trong sâu thẳm của tâm hồn mà thành tiềm thức thì cơ sở duy nhất của chúng ta đều là hành
vi ý thức và về thực chất, những hành vi đó đều là hành vi văn hóa. Như vậy hành vi ý thức
đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần và cả trong hoạt động thực tiễn
của con người. Nếu không có nó thì không có con người và tất nhiên là không có hoạt động
sáng tạo.
2.2.4. Điều kiện hình thành hành vi ý thức
Hành vi ý thức hay hành vi văn hóa đã được hình thành và phát triển nhờ nguyên nhân
nào, chúng ta hãy cùng tìm kiếm các nhân tố tạo thành sự hình thành và phát triển đó.
Ý thức của con người được hình thành trong cuộc sống, xã hội. Trở lại thời kì con
người mới được sinh ra, họ sống cũng nhau theo bầy đàn rồi hợp thành xã hội nguyên thủy.
Trong xã hội ấy mối quan hệ giữa người với người được hình thành và ngày càng chặt chẽ
và phong phú. Nhờ đó con người có thể giúp nhau kiếm ăn, làm ra sản phẩm cho bản thân
16
và cho những người xung quanh, chia sẽ niềm vui, nỗi buồn, cho nhau cuộc sống và hợp tác
với nhau trong công việc. Hơn nữa trong lao động, con người phải nhận thức đối tượng và
phương thức lao động, phải thăm dò từng bước đi, học hỏi kinh nghiệm của bạn cùng làm
việc, đoán trước những khó khăn sẽ gặp phải để tìm cách đối phó cũng như những điều kiện
thành, nhưng phải trải qua tuổi thiếu niên rồi thanh niên (đến 18 tuổi) nhân cách mới được
định hình về cơ bản.
17
Lên ba, đứa trẻ đứa trẻ có thể hành động không chỉ dưới ảnh hưởng của những kích
thích trực tiếp bên ngoài mà còn dưới ảnh hưởng của những biểu tượng được giữ lại trong
trí nhớ. Sự tham gia của trí nhớ vào các quá trình tâm lí đã làm cho thế giới bên trong của
đứa trẻ được hình thành và hành vi của nó cũng được cải biến: từ hành vi bột phát đến hành
vi có ý thức. Trí nhớ lúc này giúp trẻ nhận ra vị trí của mình trong thế giới đồ vật, trong
quan hệ với những người xung quanh và bắt đầu nhận ra mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại
và trong tương lai, tạo điều kiện cho “cái tôi” ra đời. Nhờ đó thế giới bên trong mà hạt nhân
là ý thức bản ngã bắt đầu có tác dụng chi phối hành vi của trẻ và thực hiện chức năng như
là động cơ của hành vi. Tuy nhiên, trẻ chưa thể có động cơ theo ý nghĩa đầy đủ của nó để
có thể điều khiển hành vi một cách tự giác như người lớn. Bởi vì thế giới bên trong nó mới
hình thành nhưng chưa xác định, đặc biệt là “cái tôi” vẫn chưa xác định. Tuy vậy thế giới
bên trong đó cũng đã mang đặc điểm riêng của từng đứa trẻ, nên lúc này người lớn không
thể trực tiếp áp đặt cho trẻ thái độ của mình đối với con người và sự vật xung quanh, cũng
không thể bắt trẻ phải theo cách ứng xử của mình. Nếu trước đây người lớn có thể áp đặt
cho trẻ chế độ sinh hoạt hàng ngày ( ăn, ngủ, tắm, chơi…) thì lúc này trẻ đã không ngoan
ngoãn phục tùng người lớn, có nghĩa là từng người lớn không còn hoàn toàn chỉ huy được
hành vi của trẻ nữa. Chính cái thế giới bên trong này đã quy định thái độ riêng của đứa trẻ
khi tiếp nhận những tác động bên ngoài, kể cả tác động giáo dục. Nó tiếp nhận những tác
động đó như thế nào là tùy theo những tác động đó đáp ứng đến chừng mức nào đối với các
nhu cầu và hứng thú đã được hình thành.
Trẻ em thường hay bắt chước, nếu trước đây đứa trẻ bắt chước người lớn một cách
không ý thức thì ở tuổi lên ba sự bắt chước đã có tính lựa chọn, nó chỉ bắt chước hành vi
nào mà nó thích, với ý thức là muốn làm như người lớn, được sống như người lớn. Do đó
ảnh hưởng của người lớn đối với trẻ em lúc này rất mạnh mẽ, người lớn được coi như tấm
nhiều điều: nó đã có thể tự đi từ nơi này sang nơi khác, nắm được khá nhiều phương thức
sử dụng đồ vật (thìa, bát, bút chì, tắt bật tivi…), có khả năng làm một số việc đơn giản để
thỏa mản nhu cầu hằng ngày (ăn, ngủ, “đi vệ sinh”…) và chủ động giao tiếp với những
người xung quanh bằng ngôn ngữ. Tất cả những thay đổi ấy khiến trẻ lần đầu tiên nhận ra
sức mạnh nơi bản thân mình và nhận ra mình là một chủ thể.
Bước cao hơn của ý thức là trẻ biết tự nhận xét đánh giá mình. Tuy nhiên sự nhận xét
này là dựa trên sự nhận xét của người lớn, có khi trẻ còn liên hệ bản thân với những nhân
vật trong truyện mà người lớn cho là tốt hay xấu và tự nhận mình là ngoan hay hư. Tình
cảm của trẻ đã biểu hiện nhiều sắc thái trái ngược: lòng thấy tự hào khi làm được việc tốt và
thấy xấu hổ khi phạm sai lầm. Một đứa trẻ được giáo dục tốt luôn có nguyện vọng trở thành
“bé ngoan” để được người lớn khen ngợi. Nguyện vọng đó dẫn đến sự phát triển tin thần tự
trọng và có tác dụng làm cho hành vi của trẻ trở nên tốt đẹp và có văn hóa.
2.3.2. Khủng hoảng của trẻ lên ba và đặc điểm hành vi của trẻ
Khi trẻ tách được mình ra khỏi người khác và có ý thức về khả năng của chình mình
thì đồng thời cũng xuất hiện một thái độ mới đối với người lớn: trẻ bắt đầu so sánh mình
với người lớn và bắt đầu muốn làm việc như người lớn, muốn được độc lập, tự chủ trong
mọi việc như người lớn. Trẻ lên ba thường hay nói: “con tự xúc cơm” hay “con tự mặc
áo”… chúng không muốn người lớn can thiệp vào “công việc” của mình, nhu cầu muốn
hành động độc lập là rất lớn. Do muốn “cái tôi” của mình được mọi người xung quanh công
nhận nên nhu cầu tự khẳng định được nổi lên rõ rệt trong cuộc sống hàng ngày và trở thành
một động lực mạnh mẽ thúc đẩy trẻ làm những việc để “cái tôi” được khẳng định. Đây
chính là dấu hiệu của sự trưởng thành rất đáng mừng. Nhưng cùng với nó, ở nhiều trẻ lên
19
ba lại xuất hiện một số tính mới lạ và trở nên trái tính trái nết. Biểu hiện rõ nét nhất là tính
bướng bỉnh, muốn làm theo ý mình và tự làm những gì mình muốn. Hơn thế nữa, trẻ còn cố
tình làm trái ý người lớn, làm những việc mà người lớn ngăn cấm hoặc bảo một đằng làm
một nẻo, thậm chí bắt người lớn phải làm theo ý mình như một vị chỉ huy độc đoán. Hiện
tượng không vâng lời tương đối phổ biến khiến người lớn không bằng lòng và quan hệ giữa
dài ra, mang tính chất nặng nề hay nhẹ nhàng.
20
Tách được bản thân mình ra khỏi người khác để tự ý thức, tự nhận thức về mình,
mong được độc lập, chủ động trong hành vi là một bước ngoặt quan trọng trong phát triển
của trẻ, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách ở những giai đoạn tiếp theo và
xây dựng những hành vi ngày càng có văn hóa rõ rệt và mang nhiều nhân tố tích cực.
2.4. Đặc điểm phát triển hành vi văn hóa của trẻ mẫu giáo (3 – 6 tuổi)
2.4.1. Đặc điểm hành vi văn hóa của trẻ mẫu giáo bé (3 – 4 tuổi)
Trong tình trạng khủng hoảng của tuổi lên ba, một mâu thuẫn nổi lên rõ rệt, đó là
mâu thuẫn giữa một bên là tính độc lập đang phát triển mạnh, trẻ muốn tự mình làm tất cả
mọi việc như người lớn (nấu cơm giống mẹ, đi xe máy giống bố, đọc sách giống ông…) và
một bên là khả năng còn quá non yếu của trẻ. Đây là mâu thuẫn mang tính phát triển, để
giải quyết mâu thuẫn này trẻ phải tìm đến một hoạt động mới, đó là chơi. Vì trong khi chơi
trẻ có thể làm được tất cả những việc mà người lớn làm. Hoạt động vui chơi mà trung tâm
là trò chơi đóng vai theo chủ đề là một hình thức độc đáo giúp trẻ tiếp xúc với xã hội người
lớn. Tuy còn ở dạng sơ khai nhưng trò chơi có tác động mạnh đối với sự phát triển hành vi
của trẻ. Một đặc tính của trò chơi này là cần có nhiều người tham gia mới mô phỏng được
cuộc sống xã hội. Vì vậy để trò chơi được tiến hành cần phải có nhiều người cùng chơi,
người đóng vai này, kẻ đóng vai nọ và nhiều người cùng chơi với nhau mới tạo thành một
“xã hội”. Từ đây hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề giữ vị trí
chủ đạo trong sự phát triển của trẻ, tạo ra những nét tâm lý mới: nhân cách xuất hiện khiến
cho hành vi của trẻ cũng biểu hiện nhiều nét mới. Nhưng do nhân cách mới ở bước khởi
đầu nên hành vi của trẻ mẫu giáo bé mang một vẻ độc đáo với những đặc điểm sau đây:
Hành vi mang tính kí hiệu – tượng trưng. Trong vô vàn hành vi của trẻ thực hiện
trong cuộc sống thì khi tham gia vào các trò chơi trẻ còn thể hiện nhiều hành vi mang tính
tượng trưng bằng các kí hiệu (vật thay thế). Từ chủ thể hành động đến đối tượng, phương
thức và kết quả hành động đều không phải là thật mà là tượng trưng, như “mẹ ru con ngủ”,
“bác sĩ khám bệnh cho người ốm”, “người lái xe”… tất cả đều tượng trưng, đều “giả vờ”.
thể hiện rõ nét trong hành vi, nên trẻ thường giải thích hiện tượng xảy ra xung quanh theo
cách nghĩ của mình, như vì ông trời đái dầm nên có mưa hay vì ông trời đi ngủ nên có
đêm… trẻ thường lấy ý nghĩ của mình để giải thích sự vật xung quanh mà chưa phân biệt
được đâu là chủ quan (ý nghĩ, tình cảm, nhu cầu… của bản thân), đâu là khách quan (những
sự vật bên ngoài và những người xung quanh). Điều này dẫn tới hành vi của trẻ mang tình
chủ quan ngây thơ, chẳng hạn trẻ đòi lấy kính của ông đeo để đọc sách vì tưởng rằng muốn
đọc được chữ thì phải đeo kính hay đòi thả mèo xuống nước để xem nó bơi vì nghĩ rằng vịt
bơi được thì mèo cũng bơi được.
Hành vi bắt đầu có động cơ. Dưới 3 tuổi hành vi của trẻ tuy đã bắt đầu bị ý thức chi
phối, nhưng chủ yếu vẫn là hành vi bột phát, do kích thích trực tiếp bên ngoài hay do nhu
cầu của các cơ quan nội tạng bên trong và không kiềm chế được. Vào tuổi mẫu giáo bé,
hành vi bột phát vẫn còn nhiều, nhưng bên cạnh đó, nhiều hành vi của trẻ đã bắt đầu xuất
hiện động cơ, trẻ đã có thể hiểu được nguyên cớ nãy sinh hành vi. Chẳng hạn khi được hỏi
tại sao đánh bạn? trẻ trả lời vì bạn giằng đồ với cháu. Tại sao phải rữa tay? Vì tay sạch sẽ
được cô khen… Tuy vậy, động cơ trong hành vi vẫn chưa rõ nét, chưa ổn định, do đó hành
vi của trẻ còn thiếu nhất quán: vừa cho bạn đồ chơi, chỉ một lát sau là đòi lại ngay; vừa mới
vâng lời cô giáo không vứt giấy kẹo ra sân thì liền ngay sau đó lại vứt bừa bãi đồ chơi ra
khắp lớp; vừa mới ôm hôn mẹ thắm thiết thì liền sau đó đánh mẹ vì giận dỗi… nghĩa là trẻ
ngoan đấy rồi lại hư đấy. Thái độ thay đổi như vậy là một nét phổ biến trong hành vi của trẻ
ở độ tuổi này. Vì vậy việc khen ngợi và cũng cố những hành vi tốt là một phương pháp hữu
hiệu giúp cho những động cơ đúng của trẻ trở nên rõ nét và bền vững hơn.
22
So với hành vi của trẻ dưới 3 tuổi thì hành vi của trẻ mẫu giáo bé có một bước tiến bộ
đáng kể chứng tỏ ý thức và tự ý thức được phát triển lên một trình độ mới, trẻ đã bước vào
giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách. Vì thế tính nhân cách là một nét mới
trong hành vi của trẻ, nói cách khác, hành vi mang tính nhân cách là một kiểu hành vi mới
xuất hiện ở trẻ mẫu giáo bé, nó sẽ tiếp tục phát triển trong suốt lứa tuổi mẫu giáo cùng với
sự hình thành nhân cách của trẻ trong giai đoạn đầu của đời người.
cho nhau… Trong quan hệ chơi – quan hệ giữa các vai chơi – tính hợp tác thể hiện ở những
23
động tác qua lại của những người lớn mà chúng nhập vào vai trò của họ giống như tính hợp
tác vốn có trong xã hội loài người. Thật khó hình dung nổi khi chơi trẻ lại không hợp tác
với nhau, trái lại tính hợp tác lúc này trở nên rộng rải và chặt chẽ hơn trước nhiều. Như
trong thực tế, trong trò chơi cũng diễn ra nhiều quan hệ hợp tác; mẹ và con cùng nấu bữa
cơm cho gia đình; người mua phải hợp tác với người bán hàng; khách du lịch phải hợp tác
với người hướng dẫn; bác sĩ phải hợp tác với người bán thuốc để chữa bệnh cho người
ốm… Nếu không hợp tác thì còn gì là xã hội, còn gì là trò chơi! Và như vậy tình hợp tác đã
biến thành một nhu cầu bức thiết của trẻ, nó không thể chịu nỗi khi phải chơi một mình.
Cao hơn thế nữa, tính hợp tác giữa bạn bè cùng chơi còn biểu hiện như tình cảm gắn bó
giữa trẻ với nhau. Tuy nhiên sự hợp tác đó cũng có lúc tan vỡ do bất đồng ý kiến và trò
chơi cũng bị tan rã theo, thậm chí trẻ còn chửi bới, đánh đập nhau. Nhưng đó chỉ là tạm
thời, còn về cơ bản tính hợp tác vẫn là sợi dây nối kết trẻ mẫu giáo lại với nhau trong các
trò chơi và do đó cả trong cuộc sống thực.
- Hình thành hệ thống thứ bậc các động cơ. Nếu ở độ tuổi mẫu giáo bé động cơ hành
vi của trẻ còn mờ nhạt, chưa ổn định và còn tản mạn; thì đến độ tuổi mẫu giáo nhỡ các
động cơ trước đây đều được phát triển cùng với việc xuất hiện những động cơ mới mang
nhiều nội dung khác nhau. Điều cần lưu ý là trong độ tuổi này trẻ đã bắt đầu hình thành
quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc các động cơ, được gọi là hệ thống thứ bậc động cơ. Đó là
một cấu tạo tâm lý mới trong sự phát triển nhân cách của trẻ tạo cho hành vi của trẻ có một
chất lượng mới.
Trong hệ thống thứ bậc này, các động cơ được sắp xếp theo ý nghĩa quan trọng của
mỗi động cơ đối với bản thân đứa trẻ. Chẳng hạn, trong việc làm trực nhật ở lớp, không
phải chỉ có một động cơ thúc đẩy mà thường có nhiều động cơ như: có thể là vì trẻ thích
chính công việc trực nhật, có thể trẻ nghĩ rằng làm trực nhật để được cô khen hoặc có thể là
để giúp bác cấp dưỡng… Những động cơ này thường không tồn tại ngang nhau, tùy theo
mỗi đứa trẻ mà động cơ nào sẽ được nỗi lên hàng đầu, chiếm vị trí ưu thế. Ở cháu A thì do
hiện một cách có ý thức những hành vi mang nội dung đạo đức tốt đẹp, như đỡ em bé ngã
dậy, nhường đồ chơi, bánh kẹo cho bạn bè, nhổ tóc sâu cho bà, bưng nước mời ông, nhặt
rau giúp mẹ, quét nhà cho sạch… Kết quả những việc làm đó nhiều khi chẳng được bao
nhiêu nhưng ý nghĩa đạo đức lại rất lớn.
Trong động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo nhỡ còn có thêm yếu tố thi đua, thi đua giữa
mình với các bạn, giữa tổ mình với tổ khác. Yếu tố thi đua kích thích trẻ hoạt động một
cách tích cực. Những lời cổ vũ như “Ai làm nhanh hơn!”, “ Tổ nào về đích trước!”, “cố
lên!”… đối với trẻ có một sức động viên lớn, thôi thúc trẻ thực hiện công việc tốt hơn bình
thường.
- Tính thẩm mĩ giúp hành vi của trẻ mang tính văn hóa rõ rệt. Tuổi mẫu giáo, nhất là
mẫu giáo nhỡ là thời kì phát triển mạnh những xúc cảm thẩm mĩ, trẻ dễ rung động với
những cái đẹp trong thiên nhiên, trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Có thể coi đây là thời
kì phát cảm của những xúc cảm thẩm mĩ, tức là những xúc cảm tích cực được nảy sinh khi
tiếp xúc với “cái đẹp” khiến trẻ thấy dễ chịu và gắn bó thiết tha với con người và cảnh vật
xung quanh, kích thích các cháu làm những điều tốt lành mang lại niềm vui cho mọi người.
Quan sát trong cuộc sống hàng ngày chúng ta có thể dễ nhận thấy trẻ rất dễ sung sướng
ngỡ ngàng trước vẽ đẹp tưởng chừng như rất đơn giản, như khi trông thấy một bông hoa
tươi thắm, một cánh bướm sặc sở, nghe một khúc nhạc hay hoặc một câu thơ vần
điệu…những điều đó dễ gây nên rung động mạnh mẽ trong lòng đứa trẻ khiến chúng dễ
cảm nhận vẽ đẹp xung quanh, trong cuộc sống và trong hành vi của con người qua lời ăn
tiếng nói, dáng điệu cử chỉ khi giao tiếp giữa người với người.
25