BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Phạm Trung Sơn
TẬP BÀI GIẢNG
HỌC THUYẾT MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH, QUÂN
ĐỘI VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
( Lưu hành nội bộ )
HÀ NỘI – NĂM 2017
1
PHẠM TRUNG SƠN
TẬP BÀI GIẢNG
HỌC THUYẾT MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH, QUÂN
ĐỘI VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
( Dùng cho đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh )
HÀ NỘI - NĂM 2017
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
5
Giai Cấp
GC
6
Lực lượng sản xuất
LLSX
7
Nghị quyết Đảng ủy quân sự Trung ương
NQĐUQSTƯ
8
Nghị quyết Trung ương
NQTƯ
9
Nhà xuất bản, tái bản
NXB,TB
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc ..................................................................... 10
1.1.3. Phương pháp nghiên cứu học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc ..................................................................... 12
1.2. NHỮNG TƯ TƯỞNG TRƯỚC MÁC VÀ BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC - XÃ
HỘI HỌC VỀ CHIẾN TRANH, QUÂN ĐỘI VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC DO MÁC - ĂNGGHEN THỰC
HIỆN; LÊNIN BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN ....................................................................................... 12
1.2.1. Những tư tưởng về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc trước C. Mác ..... 12
1.2.2. Bước ngoặt cách mạng trong triết học - xã hội học về chiến tranh, quân đội do
C. Mác và Ph. Ăngghen thực hiện ............................................................................... 13
1.2.3. V.I. Lênin bảo vệ và phát triển học thuyết của C. Mác và Ph. Ăngghen về chiến
tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc ............................................................................... 14
1.3. HỒ CHÍ MINH VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CHIẾN TRANH, QUÂN
ĐỘI VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀO ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM .......................................................... 16
1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh .............................................................. 17
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội .................................................................. 18
1.3.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ............................ 18
CÂU HỎI ÔN TẬP ............................................................................................................. 19
CHƯƠNG 2. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN VỀ CHIẾN TRANH 20
2.1. NGUỒN GỐC, NGUYÊN NHÂN VÀ BẢN CHẤT CỦA CHIẾN TRANH ................................... 20
2.1.1. Nguồn gốc và nguyên nhân của chiến tranh ...................................................... 20
2.1.2. Bản chất của chiến tranh, quan hệ giữa chiến tranh và chính trị ....................... 24
2.2. TÍNH CHẤT XÃ HỘI CỦA CHIẾN TRANH VÀ CÁC KIỂU CHIẾN TRANH TRONG THỜI ĐẠI
HIỆN NAY ............................................................................................................................. 29
2.2.1. Tính chất xã hội của chiến tranh ........................................................................ 29
2.2.2. Các kiểu chiến tranh trong thời đại ngày nay .................................................... 34
2.3. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VỀ CÁC QUY LUẬT QUYẾT
ĐỊNH ĐẾN TIẾN TRÌNH VÀ KẾT CỤC CỦA CHIẾN TRANH ................................... 39
2.3.1. KHÁI NIỆM QUY LUẬT CHIẾN TRANH ......................................................................... 39
2.3.2. HỆ THỐNG QUY LUẬT QUY ĐỊNH TIẾN TRÌNH VÀ KẾT CỤC CỦA CHIẾN TRANH ......... 42
kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh ngoài nước ............................................. 53
3.1.4. Xây dựng hậu phương chiến tranh vững mạnh, vừa kháng chiến vừa kiến quốc
..................................................................................................................................... 54
3.1.5. Đường lối đúng và sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng ta là nhân tố chủ yếu quyết
định thắng lợi trong chiến tranh ................................................................................... 55
3.2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN ....................... 55
3.2.1. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh để bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ
tất yếu ........................................................................................................................... 56
3.2.2. Nội dung cơ bản về xây dựng nền quốc phòng toàn dân ................................... 57
3.2.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện
nay ................................................................................................................................ 59
CÂU HỎI ÔN TẬP ............................................................................................................. 61
CHƯƠNG 4. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỂ QUÂN ĐỘI ........ 62
5
4.1. NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA QUÂN ĐỘI.................................................. 62
4.1.1. Nguồn gốc của quân đội .................................................................................... 62
4.1.2. Bản chất của quân đội ........................................................................................ 63
4.1.3. Chức năng của quân đội..................................................................................... 65
4.2. SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN ĐỘI ......................................................................... 68
4.2.1. Quan niệm về sức mạnh chiến đấu của quân đội .............................................. 68
CÂU HỎI ÔN TẬP ............................................................................................................. 75
CHƯƠNG 5: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỂ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ
TRANG NHÂN DÂN VÀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ........... 76
5.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG
VŨ TRANG NHÂN DÂN.......................................................................................................... 76
5.1.1. Sự cần thiết phải tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc ............................................. 76
5.1.2. Xây dựng lực lượng chính trị, các tổ chức và đoàn thể cách mạng - cơ sở để
CÂU HỎI ÔN TẬP ............................................................................................................. 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................. 97
7
LỜI NÓI ĐẦU
Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ
Tổ quốc là cơ sở lý luận, phương pháp luận của Đảng ta trong các hoạt động đấu tranh vũ
trang bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Tập bài giảng nhằm đáp ứng
yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học môn Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và
quân đội đối với sinh viên chuyên ngành ở Trung tâm giáo dục quốc phòng & an ninh
trường Đại học sư phạm Hà Nội 2. Có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm trang bị cho sinh
viên thế giới quan, phương pháp luận để xem xét, luận giải những vấn đề cơ bản về chiến
tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc theo quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh. Từ đó giúp cho sinh viên có nhận thức đúng đắn, có vũ khí lý luận sắc bén để
đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, góp phần bảo vệ học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối lãnh đạo của Đảng ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Đồng thời tập bài giảng còn làm tài liệu tham khảo cho các đối tượng khác.
Tập bài giảng "Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội và bảo vệ Tổ
quốc" là một công trình khoa học biên soạn trên cơ sở Giáo trình Học thuyết Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ chí Minh về chiến tranh, quân đội, và bảo vệ Tổ quốc, Nxb Giáo dục Việt
Nam,H, 2015.
Nội dung tập bài giảng gồm 6 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung của Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về chiến tranh và quân đội và bảo vệ Tổ quốc
Chương 2: Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh
Chương 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng và xây dựng nền Quốc
phòng toàn dân
Chương 4: Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về quân đội
chứng để đánh giá có phê phán những thành tựu của toàn bộ tư tưởng quân sự trước đó.
Những vấn đề cơ bản mà học thuyết đặt ra là cơ sở lý luận, phương pháp luận để làm rõ
những vấn đề thực tiễn hoạt động đấu tranh vũ trang trong thế giới đương đại.
Tập bài giảng đề cập tới những nội dung cơ bản của học thuyết Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc, là sự vận dụng những
nguyên tắc, phương pháp luận của học thuyết vào nghiên cứu, xem xét hiện tượng chiến
tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong lịch sử và hiện nay. Vì vậy, Khi
nghiên cứu học thuyết Mác- Lênin về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc phải khẳng
định các nguyên tắc nền tảng và giá trị thời đại của học thuyết, tiếp tục tổng kết, bổ sung,
khái quát, phát triển, làm cho học thuyết phản ánh đúng thực tiễn hiện nay và mang sức
sống mới.
Hiện tượng chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc là khách thể nghiên cứu của
nhiều môn khoa học, nhưng mỗi khoa học cụ thể có đối tượng nghiên cứu riêng. Đối
tượng nghiên cứu của học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân
đội và bảo vệ Tổ quốc nghiên cứu dưới góc độ triết học vạch ra những quy luật chung
nhất về quá trình nảy sinh, vận động, phát triển, mất đi của hiện tượng chiến tranh, quân
đội và bảo vệ Tổ quốc. Có thể phân chia đối tượng nghiên cứu của học thuyết thành các
nhóm cơ bản sau:
Nhóm thứ nhất, nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của học thuyết.
Nhóm thứ hai, nghiên cứu những quy luật chung nhất của hiện tượng chiến tranh,
tập trung làm rõ nguồn gốc, bản chất, tính chất và các quy luật của chiến tranh; các kiểu,
loại chiến tranh trong lịch sử và hiện nay.
Nhóm thứ ba, nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, chức năng của quân đội, sức mạnh
chiến đấu của quân đội, các kiểu quân đội và sức mạnh quân sự quốc gia trong lịch sử và
9
trong thời đại ngày nay.
Nhóm thứ tư, nghiên cứu bản chất, quy luật vũ trang bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa của giai cấp vô sản trong lịch sử và hiện nay.
biệt của kiến trúc thượng tầng. Vì vậy, việc tăng cường bản chất giai cấp của quân đội là
tất yếu với bất cứ quân đội nào.
Từ khi nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên xuất hiện, lý luận Mác về chiến tranh,
quân đội được phát triển lên một bước mới. V.I. Lênin đã đề cập một cách cơ bản, toàn
diện về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản và lý luận về vũ trang bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa, phát triển học thuyết cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới.
Những nội dung cơ bản của học thuyết có ý nghĩa quan trọng đối với quân đội trong
hoạt động thực tiễn chuẩn bị đối phó với các cuộc chiến tranh có thể xảy ra. Trên cơ sở
quan niệm khoa học về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc để hoàn thiện các nguyên
tắc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, duy trì sức mạnh chiến đấu và sẵn sàng chiến
10
đấu của các lực lượng vũ trang cách mạng.
Học thuyết nghiên cứu những điều kiện khách quan và chủ quan trong chiến tranh
bảo vệ Tổ quốc đối với các nước xã hội chủ nghĩa nếu xảy ra. Từ đó, tính đến việc nâng
cao khả năng quốc phòng của đất nước, nâng cao sức mạnh qụân sự quốc gia.
Học thuyết còn trang bị cho nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, các nước đang đấu
tranh giải phóng dân tộc quan niệm đúng đắn về con đường tăng cường khả năng quốc
phòng, nâng cao sức mạnh quân sự quốc gia, đem lại niềm lạc quan tin tưởng về tính ưu
việt và sức mạnh vô địch của tổ chức quân sự xã hội chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, tiếp thu, vận dụng trung thành và sáng tạo các
nguyên tắc thế giới quan, phương pháp luận của học thuyết vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam. Nhờ đó, Đảng và nhân dân ta đã nhận thức và có thái độ đúng đắn với từng cuộc,
kiểu loại chiến tranh; vận dụng học thuyết vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam
ngày càng lớn mạnh theo nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới và thực hiện thắng lợi
sự nghiệp vũ trang bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Vai trò của học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội
và bảo vệ Tổ quốc là khâu quan trọng của cơ sở phương pháp luận của lý luận quân sự vô
sản, giúp chúng ta hiểu rõ hơn những sai lệch của cơ sở phương pháp luận của khoa học
Trước hết, nghiên cứu học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh,
quân đội và bảo vệ Tổ quốc phải dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bởi vì, đây là phương pháp nghiên cứu chung nhất
cho mọi khoa học, mà bản thân học thuyết là môn khoa học thuộc ngành triết học.
Thứ hai, phải xuất phát từ bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu để lựa
chọn những phương pháp nghiên cứu cho hiệu quả.
Thứ ba, phải căn cứ vào góc độ nghiên cứu là triết học để lựa chọn, tìm kiếm
phương pháp tiếp cận cho phù hợp từng nội dung.
Do vậy, để nghiên cứu học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến
tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc cần sử dụng đồng bộ, nhất quán các phương pháp.
Quá trình nghiên cứu học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh,
quân đội và bảo vệ Tổ quốc phải luôn bám sát sự vận động, phát triến của lý luận và thực
tiễn quân sự, sự phát triển của vũ khí trang bị, diễn biến của đấu tranh vũ trang, của chiến
tranh. Đặc biệt là sự phát triển của khoa học chuyên ngành quân sự, sự vận động và phát
triển của tình hình quân sự trên thế giới, trong khu vực. Trên cơ sở đó, thường xuyên tổng
kết, bổ sung, phát triển, khái quát một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh vào điều kiện hoàn cảnh mới ở nước ta hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu của học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trong tập bài giảng là sự phân tích
cơ sở phương pháp luận của các nội dung trong học thuyết, nhưng ở từng nội dung cụ thể
còn vận dụng các phương pháp tiếp cận cụ thể khác nhau.
1.2. Những tư tưởng trước Mác và bước ngoặt cách mạng trong triết học - xã
hội học về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc do Mác - Ăngghen thực hiện;
Lênin bảo vệ, phát triển
1.2.1. Những tư tưởng về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc trước C. Mác
Từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ, con người đã cố gắng tìm hiểu, đánh giá hiện tượng
chiến tranh, quân đội và vai trò của nó trong đời sống xã hội. Song, họ chưa đủ khả năng
chỉ ra nguồn gốc, bản chất của hiện tượng phức tạp này.
Đến thời kỳ phong kiến, trong điều kiện thế giới quan tôn giáo ngự trị, các cuộc thập
tự chinh giữa các quốc gia trở nên thường xuyên hơn, hiện tượng chiến tranh và quân đội
Claudơvít (1780 - 1831), nhà lý luận quân sự của nước Phổ đã vận dụng thành công
quan điểm biện chứng vào lĩnh vực này. Theo ông, trong hoạt động quân sự, không có gì
là bất biến, phương thức hoạt động quân sự phải thường xuyên tính đến sự thay đổi. Ông
nghiên cứu chiến tranh trong mối liên hệ và sự tác động qua lại giữa các yếu tố của nó,
khẳng định bản chất của chiến tranh là sự kế tục chính trị bằng thủ đoạn bạo lực. Tuy
nhiên, do chịu ảnh hưởng của phép biện chứng duy tâm và lợi ích giai cấp tư sản chi phối
nên Claudơvít đã xem xét chính trị một cách chung chung, trừu tượng, phi giai cấp, phi
lịch sử, tuyệt đối hoá yếu tố tinh thần và tính ngẫu nhiên trong hoạt động quân sự.
Như vậy, những quan điểm trước C. Mác và Ph. Ăngghen về chiến tranh và quân
đội đều xuất phát từ quan niệm trừu tượng, phi lịch sử, phi giai cấp. Trong đó, vấn đề
nguồn gốc, bản chất và vai trò của chiến tranh, quân đội trong đời sống xã hội chưa được
nhận thức, đánh giá đúng. Do đó, những biện pháp mà họ đề xuất loại bỏ chiến tranh ra
khỏi đời sống xã hội là không tưởng.
1.2.2. Bước ngoặt cách mạng trong triết học - xã hội học về chiến tranh, quân đội
do C. Mác và Ph. Ăngghen thực hiện
C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa có chọn lọc những tư tưởng của nhân loại về
chiến tranh và quân đội. Việc đánh giá có phê phán những thành tựu của toàn bộ tư tưởng
lý luận quân sự trước đó trên lập trường có tính nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện
chứng đã cho phép C. Mác và Ph. Ăngghen tạo ra một cuộc cách mạng thực sự trong các
quan điểm, tư tưởng về chiến tranh và quân đội.
C. Mác và Ph. Ăngghen đã mang đến cho lý luận về bạo lực một tinh thần mới, thực
sự khoa học. Trong khi phê phán những người theo thuyết "bạo lực" tư sản đã tuyệt đối
hoá bạo lực, coi chiến tranh là động lực chủ yếu quyết định toàn bộ quá trình lịch sử, C.
Mác và Ph. Ăngghen luôn khẳng định, bạo lực không bao giờ là mục đích mà chỉ là thủ
đoạn để đạt mục đích chính trị. Bạo lực và chiến tranh không thể quyết định sự phát triển
của xã hội. Sự vận động, phát triển của xã hội là do các quy luật khách quan của xã hội
chi phối.
13
quốc là nguyên nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược giữa các nước tư bản nhằm
thôn tính lẫn nhau, mở rộng thuộc địa và thị trường.
Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công, nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu
tiên ra đời. Theo đó, lần đầu tiên trong lịch sử, vấn đề xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa được đặt ra một cách trực tiếp.
V.I. Lênin - nhà lý luận thiên tài của giai cấp vô sản và toàn thể nhân dân lao động
trên thế giới, với những phẩm chất tư duy thiên bẩm và lòng nhiệt thành cách mạng của
mình, đã bảo vệ, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác nói chung, những tư tưởng về chiến
tranh, quân đội của C. Mác, Ph. Ăngghen nói riêng trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa.
Nước Nga sau năm 1917 là giai đoạn đầy khó khăn, chủ nghĩa đế quốc luôn tìm mọi
cách thủ tiêu nhà nước Xô viết non trẻ. V.I. Lênin vừa lãnh đạo, tổ chức xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vừa khái quát tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận. Những
quan điểm về cách mạng xã hội chủ nghĩa, về chuyên chính vô sản, về củng cố quốc
14
phòng, kết hợp kinh tế với quốc phòng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là
những luận điếm về chiến tranh và quân đội của C. Mác và Ph. Ăngghen được V.I. Lênin
luận bàn một cách toàn diện và sâu sắc, đồng thời, vận dụng, phát triển cho phù hợp với
điều kiện lịch sử mới.
Vấn đề bạo lực và bạo lực cách mạng luôn được V.I. Lênin quan tâm và coi đó là cơ
sở lý luận để tiếp tục phát triển tư tưởng về chiến tranh và quân đội; kiên quyết đấu tranh
với những quan điểm sai trái, xuyên tạc tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về bạo lực
cách mạng.
Theo V.I. Lênin, bạo lực cách mạng có vai trò rất quan trọng, là điều kiện cần thiết
cho các cuộc cách mạng xã hội, là công cụ, phương tiện đế giai cấp cách mạng sử dụng
lật đổ chính quyền của giai cấp thống trị phản động: "Nhà nước tư sản bị thay thế bởi nhà
nước vô sản (chuyên chính vô sản) không thể bằng con đường "tiêu vong" được, mà chỉ
có thể theo quy luật chung bằng một cuộc cách mạng bạo lực thôi"(V.I.Lênin, Toàn tập,
tập 33,Nxb TB, M.1978, tr27). Vì vậy, sử dụng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực
động quân sự trong quan hệ với chính trị. Điều đó xuất phát từ nhận thức tính đặc thù của
các quy luật đấu tranh vũ trang và hoạt động quân sự. Để làm nổi bật ảnh hưởng của chiến
tranh đến chính trị, Hồ Chí Minh đã tập trung phân tích trên ba nội dung chính sau đây:
Một là, chiến tranh là thử thách nghiêm ngặt về mọi mặt đối với đời sống xã hội nói
chung, đời sống chính trị - xã hội nói riêng.
Hai là, tính chất ảnh hưởng của chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa đến
chính trị không giống nhau.
Ba là, thất bại hoặc thắng lợi trong chiến tranh có tác động mạnh mẽ đến chính trị.
Trong nhiều tác phẩm của mình, Hồ Chí Minh đã làm sâu sắc, nổi bật phương pháp
luận của Lênin về tính chất chính trị - xã hội của các cuộc chiến tranh. Người đã phát triển
một cách sâu sắc những vấn đề về nguyên nhân, bản chất và tính chất chính trị - xã hội
của chiến tranh xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh chống xâm lược
của các dân tộc thuộc địa. Sự cống hiến đó của Người là một căn cứ phương pháp luận
quan trọng cho chiến lược tổ chức động viên, xây dựng lực lượng trong các cuộc kháng
chiến của dân tộc Việt Nam.
Một cống hiến xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lý luận về chiến tranh là
việc dự báo của Người về tính chất gay gắt, quyết liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu
nước: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều
của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn"
(Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2010, tr. 623).
Đồng thời, Người đã chứng minh tính tất yếu thắng lợi sẽ thuộc về dân tộc Việt
Nam và phương thức giành thắng lợi là: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào". Với hệ
thống kiến thức về quy luật phát triển của xã hội, đứng trên lập trường duy vật bỉện
chứng, Hồ Chí Minh đã phân tích một cách khoa học và sâu sắc vai trò ngày càng tăng
của hậu phương trong chiến tranh.
Dựa vào phương pháp luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin và
tổng kết thực tiễn các cuộc chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều luận điểm
quan trọng xung quanh mối quan hệ biện chứng giữa con người và vũ khí. Người luôn
đánh giá cao vai trò của nhân tố con người, khẳng định con người là nhân tố cơ bản nhất
quyết định thắng lợi của chiến tranh. Song, không phải vì thế mà coi nhẹ vai trò của vũ
nhân dân của quân đội ta. Người xem đó như một biểu hiện có tính quy luật của quá trình
phát sinh, phát triển của quân đội kiểu mới, của giai cấp vô sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
rất chú ý đến tính nhân dân của quân đội sắp ra đời. Người nhấn mạnh: "Bộ đội ta là bộ
đội của nhân dân" và chính Người cũng đã chăm lo giáo dục, rèn luyện để quân đội ta
mang tính chất nhân dân rộng rãi và sâu sắc.
Trong xây dựng quân đội nhà nước xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến
nguyên tắc chính trị - giai cấp. Trong mọi hoàn cảnh, Người bao giờ cũng coi trọng xây
dựng quân đội toàn diện, phù hợp với những yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Người
viết: "Phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, kỹ thuật và văn hoá, ra sức công tác
và lao động; tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, góp phàn xây dựng chủ nghĩa xã hội"
(Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 12, tr. 384).
Trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết
sức coi trọng giáo dục tinh thần quốc tế vô sản cho cán bộ, chiến sĩ và Người xem đó như
là một nguyên tắc quan trọng.
1.3.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Quá trình tiếp cận các quan điểm triết học của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chiến tranh,
quân đội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nhất thiết phải làm rõ tư tưởng nhân văn của
Người khi đề cập về bạo lực cách mạng, về chiến tranh cách mạng và xây dựng quân đội
18
nhân dân, vì khi đề cập đến bạo lực cách mạng, Người luôn xuất phát từ mục đích nhân
văn. Tư tưởng nhân văn đã đan quyện với tính cách mạng và khoa học; kết hợp chặt chẽ
tính giai cấp, dân tộc và nhân loại làm nên cốt cách Hồ Chí Minh.
Trong các quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa đã chứa đựng sự thống nhất giữa tính nhân văn và tư tưởng bạo lực. Trên
cơ sở thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, xuất phát từ thực tiễn đất nước,
Hồ Chí Minh đã khẳng định vấn đề có tính quy luật là dùng bạo lực cách mạng, dùng tư
tưởng nhân văn để chống lại bạo lực phản cách mạng, phản nhân văn. Tính nhân văn của
bạo lực cách mạng, trong giải quyết vấn đề chiến tranh và hoà bình, trong đấu tranh vũ
người do mắc tội tổ tông.
Chủ nghĩa Đácuyn xã hội quan niệm: chiến tranh là hiện tượng thuộc bản chất sinh
tồn của con người.
Mantuýt quan niệm: chiến tranh là hiện tượng để giải quyết nhân khẩu thừa;...
Những quan điểm này đều giải thích chiến tranh mang tính chất bản năng, duy tâm, thần
bí.
Một trong những nhà tư tưởng quân sự được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin đánh giá cao là C.Ph.Claudơvít (1780-1831). Ông quan niệm: chiến tranh là hành
vi bạo lực của một lực lượng xã hội để buộc đối phương phục tùng ý chí của mình, là hoạt
động mà mỗi bên tham chiến huy động sức mạnh không hạn độ để giành thắng lợi. Với
quan điểm này, C. Ph. Claudơvít đã bàn đến hành vi có tính đặc trưng của chiến tranh là
bạo lực và bạo lực đó kế tục chính trị. Tuy nhiên, C. Ph. Claudơvít chưa luận giải được
đúng đắn tính chất chính trị của chiến tranh. Cho nên, những giải thích tiếp theo về chiến
tranh không tránh khỏi những sai lầm, hạn chế.
Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm: Chiến tranh là hiện tượng chính trị - xã hội
mang tính lịch sử, là hoạt động đấu tranh vũ trang giữa các tập đoàn người trong một
nước, hoặc giữa các nước nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định.
Trước hết, chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội, xuất hiện, vận động theo
những quy luật xã hội. Vì vậy, khi giải thích hiện tượng chiến tranh quy vào tính bản
năng sinh vật, phi xã hội, phi chính trị đều không tránh khỏi sai lầm.
So với các hiện tượng chính trị - xã hội khác, đặc trưng cơ bản của chiến tranh là
hành vi bạo lực vũ trang. Mục đích của chiến tranh là nhằm thực hiện mục đích chính trị
nhất định. Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc về mặt nhà nước, cho nên
chiến tranh bao giờ cũng gắn với một giai cấp, dân tộc, nhà nước cụ thể. Như vậy, chiến
tranh gồm hai mặt cơ bản là chính trị và đấu tranh vũ trang.
2.1.1.2. Nguồn gốc của chiến tranh
Nguồn gốc của chiến tranh là vấn đề cơ bản của mọi quan điểm khi giải thích hiện
tượng chiến tranh. Trong lịch sử, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của chiến
tranh.
Những quan điểm duy tâm tôn giáo tìm nguồn gốc chiến tranh từ lực lượng siêu
nhiên. Ôguytxtanh, nhà thần học phương Tây cho rằng, nguồn gốc của chiến tranh là do
tiến hành chiến tranh cách mạng giành chính quyền.
Trong giai đoạn thống trị xã hội, giai cấp thống trị không thoả mãn với lợi ích từ bóc
lột nhân dân lao động ở nước mình, mà còn mở rộng phạm vi bóc lột ra nước ngoài. Việc
mở rộng lợi ích ra nước ngoài, giai cấp thống trị cũng dùng nhiều thủ đoạn như mua chuộc,
dụ dỗ...và khi các phương thức đó không đạt mục đích thì chúng phát động chiến tranh và
chiến tranh nổ ra. Như vậy, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, đối kháng giai cấp tồn tại thì
chiến tranh là tất yếu của lịch sử.
Thực tiễn lịch sử chứng minh, xã hội cộng sản nguyên thuỷ dựa trên chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất, không có đối kháng giai cấp, chiến tranh không xuất hiện. Những
cuộc xung đột có tính bạo lực trong xã hội này chỉ là tranh giành không gian sinh sống,
không mang nội dung chính trị, cho nên không phải là chiến tranh. Ph.Ăngghen chỉ rõ:
“Trải qua hàng vạn năm trong chế độ cộng sản nguyên thủy, khi chưa có chế độ tư hữu,
chưa có giai cấp đối kháng thì chiến tranh với tính cách là một hiện tượng chính trị xã hội
cũng chưa xuất hiện. Mặc dù ở thời kỳ này đã xuất hiện những cuộc xung đột vũ trang.
Nhưng đó không phải là một cuộc chiến tranh mà chỉ là một dạng “lao động thời cổ”.. Bởi
vì, xét về mặt xã hội, xã hội cộng sản nguyên thủy là xã hội không có giai cấp, bình đẳng,
không có tình trạng phân chia thành kẻ giàu, người nghèo, kẻ đi áp bức bóc lột và người bị
áp bức bóc lột. Về kinh tế, không có của “dư thừa tương đối” để người này có thể chiếm
đoạt lao động của người khác, mục tiêu các cuộc xung đột đó chỉ để tranh giành các điều
kiện tự nhiên thuận lợi để tồn tại như: nguồn nước, bãi cỏ, vùng săn bắn hay hang động,…
Về mặt kỹ thuật quân sự, trong các cuộc xung đột này, tất cả các bên tham chiến đều không
21
có lực lượng vũ trang chuyên nghiệp, cũng như vũ khí chuyên dùng. Tất cả các thành viên
bộ lạc với mọi công cụ lao động thường ngày đều tham gia vào cuộc xung đột đó. Do đó
các cuộc xung đột vũ trang này hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên tự phát.
Khi chế độ Chiếm hữu nô lệ ra đời với sự tồn tại chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và
đối kháng giai cấp thì chiến tranh cũng xuất hiện như một tất yếu lịch sử. Từ đó đến nay,
những xã hội dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp đã nối tiếp
chế độ công hữu và xã hội không giai cấp - chế độ cộng sản chủ nghĩa.
2.1.1.3. Nguyên nhân của chiến tranh
Trong xã hội có chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp, chiến tranh là tất yếu, nhưng
không phải lúc nào và ở đâu cũng có chiến tranh. Chiến tranh chỉ nổ ra trong những điều
kiện nhất định với những nguyên nhân cụ thể của nó.
Nguyên nhân của chiến tranh là sự tác động tổng hợp của các điều kiện khách quan
và nhân tố chủ quan dẫn đến một cuộc chiến tranh cụ thể xuất hiện. Nguyên nhân của
chiến tranh được chia thành các cấp độ khác nhau, có nguyên nhân chung; nguyên nhân
đặc thù và nguyên nhân đơn nhất.
Nguyên nhân chung của chiến tranh phản ánh những mối liên hệ sâu sắc giữa
phương thức sản xuất bóc lột và những hiện tượng chính trị - xã hội do phương thức sản
xuất đó sinh ra dưới hình thức bạo lực vũ trang của giai cấp này sử dụng đối với giai cấp
khác.
Phương thức sản xuất bóc lột chứa đựng mâu thuẫn đối kháng. Chiến tranh biểu hiện
sự gay gắt cực độ của các mâu thuẫn chính trị và đồng thời là phương thức riêng để giải
quyết mâu thuẫn đó. Sự bóc lột càng cao thì mâu thuẫn càng phát triển, đồng thời đấu
22
tranh giai cấp cũng không ngừng tăng. Để bảo vệ lợi ích của mình, giai cấp thống trị, bóc
lột sẵn sàng sử dụng công cụ bạo lực vũ trang để đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị trị.
Từ đó, chiến tranh nổ ra.
Nguyên nhân đặc thù của chiến tranh là chính sách hiếu chiến, phản động của những
kẻ cầm đầu nhà nước phản động. Để đạt được tham vọng tột độ về lợi ích, chúng sẵn sàng
đàn áp bằng sức mạnh bạo lực ở bất cứ điều kiện nào. Trong quan hệ giữa các quốc gia,
dân tộc, giai cấp thống trị bóc lột luôn tham vọng mở rộng bóc lột ra nước ngoài. Những
kẻ hiếu chiến luôn tìm mọi cách xâm lược bằng phát động chiến tranh. Đó là kết quả vận
động của nguyên nhân chung và tất yếu sẽ xuất hiện chiến tranh.
Nguyên nhân đơn nhất là những tác động có tính đột biến, tức thì từ những nhân tố
như: tính bất thường của cá nhân cầm đầu tổ chức, diễn biến không chuẩn xác của các
Ngày nay, nguồn gốc chiến tranh vẫn tồn tại, nhưng chiến tranh chỉ nổ ra ở nơi này
hay nơi khác và chiến tranh thế giới khó có thể nổ ra trong một vài năm tới. Điều đó là do
23
nguyên nhân của chiến tranh đang xuất hiện cục bộ, chưa mang tính chất toàn thế giới.
2.1.2. Bản chất của chiến tranh, quan hệ giữa chiến tranh và chính trị
2.1.2.1. Bản chất của chiến tranh
Bản chất chiến tranh là vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi trong lịch sử, cũng như
hiện nay. Trong lịch sử đã có nhiều nhà tư tưởng, quân sự bàn về bản chất chiến tranh.
Thời Cổ đại, Arixtốt (384 - 322 trước Công nguyên) đã khái quát bản chất chiến
tranh là nghệ thuật chính trị.
G. Hêghen quan niệm chiến tranh là công cụ thực hiện mục đích chính trị.
C. Ph. Claudơvít cho rằng: "Chiến tranh của một cộng đồng tiến hành bao giờ cũng
là một hành vi chính trị, một sự kế tục của các quan hệ chính trị, một sự thực hiện các
quan hệ chính trị bằng các biện pháp khác (thủ đoạn bạo lực)" (C.Ph.Claudơvít, Bàn về
chiến tranh, Nxb QĐND, H, 1976 tr 55).
Các quan điểm trên có sự khác nhau, nhưng thống nhất với nhau ở nội dung chính
trị, ở hành động bạo lực của chiến tranh.
Đây là bước tiến lớn so với quan điểm duy tâm, tôn giáo, nhưng cũng không tránh
khỏi sai lầm. Sai lầm của những quan điểm trên là hiểu về chính trị chưa khoa học. Chính
trị theo quan điểm các nhà tư tưởng trên là chính trị chung chung không phải quan hệ giữa
các giai cấp, dân tộc về mặt nhà nước; chính trị chỉ đơn thuần là đối ngoại, không đề cập
đến đối nội và chính trị không bao hàm kinh tế.
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá cao quan điểm của các nhà tư
tưởng trên, đặc biệt là quan điểm của Claudơvít và kế thừa, phát triển lý luận về bản chất
chiến tranh. V.I. Lênin khẳng định: "Bản chất chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng
những biện pháp khác (cụ thể là bằng bạo lực)" (V.I Lênin, Toàn tập, Tập 26, Nxb TB,
M,1980, tr. 397), về hình thức khái quát của Claudơvít và V.I. Lênin là giống nhau, nhưng
lại hoàn toàn khác nhau về nội dung.
quan trọng của bản chất chiến tranh. Trong quan hệ này, chính trị là mặt bất biến, chiến
tranh là mặt khả biến. Mặt chính trị như cái chung, bản chất xuyên suốt các cuộc chiến
tranh, còn mặt khả biến có thể biến động khôn lường, nhưng thoát khỏi quỹ đạo của chính
trị. Trong mối quan hệ giữa chính trị và chiến tranh, chính trị quyết định chiến tranh; đồng
thời, chiến tranh có tác động to lớn trở lại chính trị.
Chính trị quyết định chiến tranh
Chính trị quyết định chiến tranh trên tất cả các mặt cơ bản từ mục đích, tiến trình,
kết cục đến bản chất và tính chất chính trị xã hội của chiến tranh.
Chính trị quyết định mục đích chiến tranh. Bất kỳ cuộc chiến tranh nào đều hướng
tới một mục đích chính trị nhất định. Mục đích chính trị của chiến tranh biểu hiện ở nhiều
khía cạnh khác nhau. Mỗi giai cấp khác nhau tiến hành chiến tranh đều có mục đích chính
trị khác nhau. Giai cấp thống trị, bóc lột tiến hành chiến tranh nhằm mục đích giữ vững
chế độ chính trị hiện tại. Ngược lại, quần chúng nhân dân và giai cấp tiến bộ, cách mạng
tiến hành chiến tranh nhằm lật đổ chế độ chính trị đó, thiết lập chế độ mới. Với nước đi
xâm lược, mục đích chính trị của chiến tranh là thôn tính xâm lược dân tộc khác; các dân
tộc tiến hành chiến tranh chống xâm lược với mục đích giải phóng dân tộc, giữ vững độc
lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Như vậy, mỗi cuộc chiến tranh có mục đích cụ thể khác
nhau, nhưng thống nhất ở mục đích chính trị.
Chính trị quy định tiến trình, kết cục chiến tranh. Tiến trình và kết cục của chiến
tranh diễn biến rất phức tạp, nhưng cái chung nhất là do chính trị quy định. Mỗi giai đoạn
của tiến trình phát triển chiến tranh đều có mục đích chính trị cụ thể, nhưng thống nhất
với mục đích chung.
Tiến trình và kết cục của chiến tranh được chỉ đạo bởi mục đích chính trị của giai
cấp, nhà nước tổ chức tiến hành chiến tranh quyết định. Ở một thời đại cụ thể, chế độ
chính trị nào tiến bộ thì chiến tranh do nó tiến hành thường có xu hướng phát triển ngày
càng mạnh và giành thắng lợi và ngược lại. Đây là xu hướng chung của lịch sử chiến
tranh, V.I. Lênin khẳng định: "Mọi cuộc chiến tranh đều gắn với chế độ chính trị đã sinh
ra nó" (V.I Lênin, Toàn tập, Tập 32, Nxb TB, M,1981, tr. 100). Tuy nhiên, không phải
mọi cuộc chiến tranh do chế độ chính trị tiến bộ tiến hành đều thắng lợi và ngược lại, bởi
chiến tranh còn bị chi phối vì nhiều nhân tố khác.