A. MỞ ĐẦU
1. Lý do xây dựng đề án
Giáo dục và đào tạo luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng.
Trong Nghị quyết số 29/TW-NQ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
đã chỉ rõ quan điểm của Đảng đó là “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là
sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát
triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã
hội”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định: “Giáo dục là quốc
sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non chiếm một vị trí vô
cùng quan trọng, đây là bậc học đầu tiên, là nền tảng của ngành giáo dục và đào
tạo. Như Bác Hồ kính yêu đã từng nói: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một
nền giáo dục tốt”.
Giai đoạn phát triển của trẻ ở lứa tuổi mầm non có tính quyết định đến thể
lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ của trẻ trong suốt cả cuộc đời. Những kết
quả nghiên cứu về sự phát triển đặc biệt của não bộ trong những năm đầu tiên của
cuộc đời, những nghiên cứu về ảnh hưởng và ích lợi của các dịch vụ giáo dục mầm
non có chất lượng đã khiến Chính phủ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong
đó có Việt Nam ngày càng quan tâm, phát triển giáo dục mầm non.
Quán triệt các văn kiện của Đảng về giáo dục và đào tạo, Tỉnh ủy, Ủy ban
nhân dân tỉnh Nam Định nói chung và Huyện ủy Nam Trực nói riêng đã đề ra mục
tiêu đến năm 2020 cho giáo dục và đào tạo đó là tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ
về chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo của tỉnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu
cầu học tập đa dạng của nhân dân, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội địa phương,
góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục con người Việt Nam nói chung, con
người Nam Trực nói riêng phát triển toàn diện về nhân cách, kiến thức văn hóa, rèn
luyện nâng cao thể chất và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi
1
Chất lượng quản lý giáo dục tại các trường mầm non được nâng cao góp
phần thiết thực nâng cao chất lượng giáo dục mầm non nói riêng, chất lượng giáo
dục ở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định nói chung.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Củng cố, mở rộng mạng lưới trường, lớp, nâng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà
trẻ, nhóm trẻ từ 42.5% năm 2016 lên 50% năm 2020; trẻ từ 3 đến 5 tuổi đến lớp
mẫu giáo đạt 96% năm 2016 lên 98% năm 2020; duy trì tỷ lệ trẻ 5 tuổi đến lớp
mẫu giáo diện Phổ cập đạt 100% năm 2020.
- Giữ vững huyện đạt chuẩn Phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi.
- Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý chuyên môn, nâng cao chất lượng
thực hiện Chương trình giáo dục mầm non ở 100% trường mầm non.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất thiết bị cho dạy và học. Đến năm 2020:
100% phòng học kiên cố, xây dựng đủ phòng học và các phòng chức năng theo quy
định của Điều lệ trường mầm non; 100% số trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non, phấn
đấu để từ 97.7% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo trở lên năm 2016 và đạt
100% năm 2020, trong đó có 61.2% đạt trên chuẩn năm 2016 và 80% năm 2020.
3. Giới hạn của đề án
3.1. Đối tượng:
Công tác quản lý giáo dục mầm non.
3.2. Không gian:
Các trường mầm non trên địa bàn huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
3.3. Thời gian:
Đề án thực hiện trong thời gian từ năm 2016 đến năm 2020.
3
B. NỘI DUNG
giáo dục quốc dân Việt Nam.
- Quản lý trường mầm non là tập hợp những tác động tối ưu của Hiệu trưởng
đến tập thể cán bộ, giáo viên và nhân viên nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục mầm
non trên cơ sở huy động, sử dụng các tiềm lực vật chất và tinh thần của nhà trường,
gia đình và xã hội.
Thực chất công tác quản lý trường mầm non là quá trình thực hiện chương
trình, nội dung chăm sóc, giáo dục trẻ; quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và trẻ
gửi vào trường; quản lý sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị, tài chính của nhà
trường theo quy định của pháp luật, kết hợp chặt chẽ với gia đình, các cá nhân và
tổ chức trong hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; tuyên truyền hướng dẫn kiến thức
nuôi trẻ cho cha mẹ và cộng đồng cùng chăm sóc giáo dục trẻ.
- Chất lượng:
Theo Từ điển tiếng Việt, chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính
cơ bản của sự vật (sự việc)... làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự
việc) khác.
Theo TCVN ISO 8402, chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể
tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm
ẩn.
Như vậy, các quan niệm về chất lượng tổng quát tuy có khác nhau, nhưng
đều có chung một ý tưởng: Chất lượng là sự thỏa mãn một yêu cầu nào đó.
- Chất lượng quản lý giáo dục trường mầm non là sự đáp ứng của chủ thể
quản lý trường mầm non đối với những yêu cầu về mục tiêu giáo dục mầm non
được quy định tại Luật Giáo dục.
1.1.2. Các nhân tố tác động đến chất lượng quản lý giáo dục tại các
trường mầm non
- Trong hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng, con
người giữ vai trò là trung tâm của hoạt động giáo dục. Con người vừa là chủ thể
5
động của những tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội – nhà trường, mà
còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý của chính bản thân giáo viên và học
sinh.
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lý
- Căn cứ Luật Giáo dục (năm 2005); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật giáo dục (năm 2009);
- Căn cứ Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07/04/2008 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Điều lệ trường mầm non;
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8
khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 44/NQCP ngày 09/6/2014 của Chính phủ Ban hành chương trình hành động thực hiện
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành
Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;
- Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020”;
- Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 30/12/2011 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về
nâng cao chất lượng đồng đều trong giáo dục phổ thông;
- Nghị quyết số 17-NQ/HU ngày 13/10/2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ
huyện về phát triển sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2013 - 2015 định
hướng đến năm 2020;
- Nghi quyết số 01-NQ/ĐH ngày 10/07/2015 – Đại hội đại biểu Đảng bộ
huyện lần thứ XXV ( Nhiệm kỳ 2015-2020);
- Kết luận số 01-KL/HU ngày 16/10/2015 của Ban chấp hành Đảng bộ
huyện về việc tiếp tục thực hiện nghị quyết số 17-NQ/HU ngày 13/10/2013 của
7
Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo giai
hẹp, chưa đủ theo Điều lệ, một số trường mầm non diện tích sân chơi, sân dành
cho trẻ vận động chưa đáp ứng nhu cầu. Tiến độ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia
chậm, còn gặp khó khăn do thiếu quỹ đất, thiếu phòng chức năng…
Vì vậy việc nâng cao chất lượng quản lý giáo dục trẻ ở các trường mầm non
nhằm thực hiện tốt chất lượng giáo dục phát triển, tiếp cận đổi mới phương pháp
giáo dục trẻ một cách toàn diện là rất cần thiết.
2. Nội dung thực hiện đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án
Huyện Nam Trực nằm ở cửa ngõ phía Nam thành phố Nam Định, phía Bắc
giáp với thành phố Nam Định; phía Đông giáp huyện Vũ Thư (tỉnh Thái Bình) lấy
sông Hồng làm ranh giới; phía Tây giáp với huyện Vụ Bản, huyện Nghĩa Hưng; phía
Nam giáp với huyện Trực Ninh. Huyện có diện tích tự nhiên 161,7 km 2. Dân số
(năm 2013) là 193,18 nghìn người, Mật độ dân số bình quân 1.195 người/km 2 gồm
19 xã và 1 thị trấn. Thị trấn Nam Giang là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của
huyện.
Địa hình Nam Trực rất thuận lợi cho sự phát triển của ngành nông nghiệp.
Phía bắc và phía nam là vùng trũng, thuận lợi cho việc trồng lúa nước, vùng giữa
huyện từ tây sang đông, dọc theo con đường Vàng thuận lợi cho việc phát triển các
loại hoa màu và cây công nghiệp. Vùng đồng bãi chạy dọc theo đê sông Đào dài 15
km phía tây huyện và theo đê sông Hồng 14 km phía đông huyện thuận lợi cho
việc phát triển rau màu và nghề trồng dâu nuôi tằm. Chạy dọc từ bắc xuống nam là
sông Châu Thành cùng với các nhánh sông khác, thuận lợi cho hoạt động sản xuất
nông nghiệp và phát triển giao thông đường thuỷ; sông Hồng, sông Đào là nguồn
cung cấp nước chính phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên địa bàn
huyện.
Từ Bắc xuống Nam huyện có có quốc lộ 21 dài 13 km ở phía Đông và tỉnh
lộ 490C (đường 55 cũ) dài 15,8 km ở phía tây; từ đông sang tây có 3 tuyến đường
giao thông chạy song song từ đường 21 sang đường 490C gồm các tuyến đường:
9
tuổi - trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử khoa bảng Việt Nam.
10
Người dân Nam Trực yêu quê hương, đất nước, trong các cuộc đấu tranh
chống giặc ngoại xâm đã xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng như: Trịnh Thị Cực,
Nguyễn Tấn, Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chẩn, Tú Cao, Vũ Đình Lộc, Đặng Trần
Sửa, Vũ Hữu Lợi, Vũ Văn Báo, Nguyễn Văn Triết, Vũ Ngọc Thuỵ...
Trải dài theo lịch sử, người dân Nam Trực đã đóng góp cho đất nước nhiều
hiền tài, những nhà khoa bảng xuất sắc, những trí sỹ cách mạng,... góp phần tô
thắm và làm rạng rỡ lịch sử quê hương. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và
đổi mới đất nước, những người con quê hương Nam Trực đang gắng sức dựng xây,
góp phần không nhỏ thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã
đề ra, xây dựng quê hương Nam Trực ngày càng văn minh, giàu đẹp;
Huyện Nam Trực có các khu điểm tham quan du lịch: Chùa Đại Bi (thị trấn
Nam Giang), đền Gin (xã Nam Dương), đền thờ trạng nguyên Nguyễn Hiền (xã
Nam Thắng), đình Hát (xã Hồng Quang), làng nghề cây cảnh Vị Khê (xã Nam
Điền), làng nghề đúc đồng Đồng Quỹ (xã Nam Tiến);
Lễ hội tiêu biểu: Chợ Viềng Nam Giang, hội chùa Đại Bi, hội đền Gin, hội
đình Hát, hội đền Y Lư, hội đình Tám,... Loại hình nghệ thuật dân gian đặc
sắc: Rối nước làng Rạch (xã Hồng Quang), rối cạn (thị trấn Nam Giang); Đặc
sản: Phở Giao Cù, kẹo lạc Thượng Nông,...
Tài nguyên nhân văn của Nam Trực rất phong phú, chứa đựng những nét
độc đáo, đặc trưng. Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế, xã hội, các giá trị
nhân văn cũng đang được phục hồi và phát triển, các di tích được bảo vệ tôn tạo,
các sinh hoạt văn hoá truyền thống được khôi phục lại.
Đây là những điều kiện vô cùng quan trọng để huyện phát triển kinh tế, đặc
biệt là phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năng động, đa dạng để hoà
nhập với xu thế phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật của tỉnh.
Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa tiếp tục phát triển, an ninh quốc phòng
quy định tại Điều lệ trường mầm non nên công tác quản lý giáo dục đối với các
nhóm trẻ tư thục cũng gặp rất nhiều khó khăn.
12
2.2.2. Về chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ:
a.Công tác nuôi dưỡng và chăm sóc bảo vệ sức khoẻ:
Các trường mầm non đã đề ra nhiều biện pháp có hiệu quả để làm tốt công
tác nuôi dưỡng và chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cho trẻ; xây dựng kế hoạch cụ thể,
triển khai kịp thời, thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát các hoạt động nuôi
dưỡng, chăm sóc sức khoẻ trẻ; phối hợp với các cơ sở y tế khám sức khoẻ định kỳ
cho 100% trẻ ra lớp; nâng mức ăn của trẻ lên để giảm tỷ lệ suy dịnh dưỡng thể nhẹ
cân và thể thấp còi; tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc nuôi dưỡng
và chăm sóc sức khoẻ cho trẻ...., cụ thể:
Mức đóng góp nuôi ăn bán trú của trẻ ở 33 trường mầm non là
10.000đ/trẻ/ngày;
Tổng số nhóm, lớp công lập được nuôi ăn là 359, số trẻ được nuôi ăn ở
trường mầm non là 11477 trẻ, trong đó: Nhà trẻ nuôi ăn cho 103 nhóm, số trẻ nuôi
ăn là 2537/2781 trẻ, đạt 91.2% trẻ đến trường; Mẫu giáo nuôi ăn cho 256 lớp, số
trẻ nuôi ăn là 8940/9046 trẻ, đạt 99% trẻ đến lớp.
Lớp 5 tuổi có ăn bán trú 87 lớp, đạt 100% tổng số lớp 5 tuổi. Số trẻ 5 tuổi
ăn bán trú là 2792 trẻ, đạt 100% số trẻ ra lớp.
Trẻ được nuôi theo chế độ 2 bữa chính + 1 bữa phụ ở nhà trẻ và 1 bữa chính
+ 1 bữa phụ ở mẫu giáo.
Trẻ được theo dõi sức khoẻ bằng biểu đồ tăng trưởng, được khám sức khoẻ
định kỳ, uống vitamin A, tiêm chủng phòng bệnh: 11827 trẻ, đạt 100% trẻ đến
trường công lập.
Kết quả theo dõi sức khoẻ trên biểu đồ tăng trưởng trẻ trường công lập tỷ lệ
trẻ suy dinh dưỡng như sau:
Nhà trẻ 2781 trẻ :
trường sơ sài và không thường xuyên... Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tài
này chủ yếu là do công tác quản lý giáo dục ở nhiều nhà trường còn hạn chế, chưa
thực sự có chất lượng.
14
b. Về chất lượng thực hiện chương trình
Tổng số trường công lập thực hiện chương trình GDMN mới : 33/33 trường
mầm non
Tổng số nhóm – lớp công lập thực hiện chương trình GDMN là 359 nhóm
lớp, trong đó:
Nhóm trẻ thực hiện chương trình: 103 nhóm công lập học chương trình
GDMN theo độ tuổi trẻ;
Lớp MG thực hiện chương trình 5 tuổi: 87 lớp
Lớp MG thực hiện chương trình 4 tuổi: 86 lớp
Lớp MG thực hiện chương trình 3 tuổi: 83 lớp
Tất cả các trường đều có bổ sung thiết bị nhóm lớp bằng cả hình thức mua
sắm và tự làm, thực hiện tổ chức hội giảng cấp trường và thi đồ dùng thiết bị do cô
và trẻ tự tạo.
Trường thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy: 33/33
Trường ứng dụng công nghệ thông tin cho trẻ sử dụng: 10 trường. Số cháu
được chơi phần mềm vui học trên máy tính là 2193 trẻ .
Cán bộ quản lý và giáo viên nghiên cứu Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi,
xây dựng được bộ công cụ theo dõi sự phát triển của trẻ, điều chỉnh kế hoạch phù
hợp với tình hình phát triển của trẻ 5 tuổi của lớp, đồng thời tuyên truyền, thống
nhất với gia đình trẻ trong việc chăm sóc- giáo dục trẻ.
Số trường có tổ chức đánh giá trẻ: 33 trường; Số lớp 5 tuổi được đánh giá 87
lớp, số cháu 5 tuổi được đánh giá 2792 trẻ.
Số trường thực hiện lồng ghép GD an toàn giao thông, GD bảo vệ môi
trường, GD sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả, GD trẻ khuyết tật hoà nhập
người = 37.7%; chưa đào tạo: 17/820 người = 2.1%
Số cán bộ quản lý có trình độ trung cấp chính trị là: 20/69 đạt 29%; có 38 đ/c
đang học lớp Trung cấp chính trị.
16
Số cán bộ quản lý đã có chứng chỉ bồi dưỡng quản lý giáo dục là 58/69 đạt
84%.
Trong năm học 2015-2016, Phòng GD&ĐT đã mở 7 lớp bồi dưỡng thường
xuyên cho 69 cán bộ quản lý và 5 lớp cho 66 giáo viên cấp huyện và 100% giáo
viên cấp trường.
Đa số CBQL và giáo viên đều có ý thức tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ để phấn đấu vươn lên. Trong những năm gần đây, ngành
Giáo dục luôn quan tâm và tạo điều kiện để cho cán bộ, giáo viên theo học tại các
trường Đại học, Cao đẳng sư phạm, Trung cấp lý luận chính trị để đạt chuẩn, trên
chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ quản lý giáo dục, trình độ chính
trị. Hằng năm, số người được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng, đáp ứng
yêu cầu về điều kiện, tiêu chuẩn của cán bộ, công chức, viên chức và phù hợp với
xu hướng phát triển chung toàn ngành, phát huy truyền thống của một vùng đất
hiếu học của tỉnh Nam Định.
Thời gian gần đây tỉnh cho phép các huyện được tuyển nhiều giáo viên mầm
non hơn nên huyện Nam Trực cũng thu hút được nhiều giáo viên khá và giỏi từ các
trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chính quy về giảng dạy. Năm học 2015-2016
toàn huyện đã tuyển dụng được 80 giáo viên mầm non trong đó có 1 giáo viên có
trình độ Thạc sĩ sư phạm mầm non.
* Tồn tại: So với Điều lệ trường mầm non cán bộ quản lý thiếu 25 người,
giáo viên còn thiếu 90 người, tỷ lệ định biên giáo viên/lớp mới đạt 1,8 nên cường
độ lao động của giáo viên là cao; nhân viên y tế, nhân viên kế toán, nhân viên văn
phòng thiếu nên giáo viên phải kiêm nhiệm nhiều, ảnh hưởng đến chất lượng giáo
dục trẻ, cán bộ quản lý mầm non cũng vất vả hơn cán bộ quản lý ở các bậc học
+ Số bếp nuôi xây mới, cải tạo là: 09 bếp (MN Nam Tân 1, MN Nam Thịnh
1, MN Nam Hoa 2, MN Nam Hùng 2, MN Thành 1, MN Nam Đồng 1, MN Nam
Bình 1).
+ Số công trình vệ sinh xây mới, cải tạo: 15 nhà (MN Nam Tân 1; MN Nam
Thắng 2; MN Nam Quang 1; MN Nam An 1; MN Nam Hoa 5; MN Nam Hùng 3;
MN Nam Bình 2)
Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo TT 02/2010/BGDĐT: lớp 5 tuổi đạt 100%
18
Số trường được nối mạng Internet và có Wibsite: 33 trường
Tổng số máy vi tính toàn huyện là: 104 máy
Các trường làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, thu hút các nguồn đầu tư
xây dựng cơ sở vật chất, trường lớp, công trình vệ sinh, nguồn nước sạch, bếp ăn,
trang thiết bị các phòng chức năng
+ Tổng kinh phí đầu tư cho xây dựng, nâng cấp tu sửa cơ sở vật chất là:
15,620 tỷ đồng.
+ Tổng kinh phí đầu tư cho mua sắm trang thiết bị là: 0,944 tỷ đồng.
Số trường chuẩn quốc gia mức độ 1: 17/33 trường mầm non đạt 51.5%
* Tồn tại:
Một số trường còn thiếu quỹ đất so với quy định
So với Điều lệ trường mầm non về số trẻ/nhóm, lớp thì còn một số trường
còn thiếu phòng học do số trẻ /phòng quá đông.
Nhiều trường còn thiếu phòng chức năng, phòng hành chính quản trị theo
quy định của trường chuẩn quốc gia.
Một số trường còn thiếu nhà vệ sinh cho trẻ theo quy định, một số trường đã
có nhà vệ sinh nhưng lại không phù hợp với trẻ.
Một số trường đã chuẩn nhưng phòng học, phòng chức năng, các công trình
vệ sinh xuống cấp nhiều, việc cải tạo còn chậm.
Một số trường các phòng học, phòng chức năng không đảm bảo ánh sáng,
chưa nhanh nhạy, thiếu sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp tổ chức giáo dục
lấy trẻ làm trung tâm, do năng lực quản lý của CBQL một số nhà trường chưa tốt,
thiếu sự nhạy bén, năng động để đổi mới môi trường giáo dục, nâng cao chất lượng
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ.
- Đội ngũ CBQL bên cạnh một số đồng chí năng động, sáng tạo, nhiệt huyết
với nghề, với trường cũng còn nhiều đồng chí chưa nhanh nhậy, sáng tạo, chậm
tiến bộ, không có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, ngại tiếp cận với sự
đổi mới. Nguyên nhân là do một số đồng chí tuổi cao, một số đồng chí có trình độ
đào tạo trên chuẩn nhưng năng lực thực tế về công tác quản lý lại yếu kém, trì trệ,
thiếu sự năng động, sáng tạo để đổi mới.
- Một bộ phận giáo viên chưa thực sự cố gắng tu dưỡng, rèn luyện phẩm
chất đạo đức và năng lực chuyên môn, chậm đổi mới phương pháp giảng dạy nên
20
hiệu quả công tác chưa cao. Nguyên nhân là do công tác bồi dưỡng, nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo chưa thật sự thường xuyên và chưa
mang lại hiệu quả thiết thực. Một số giáo viên có năng lực sư phạm ở các trường
chưa phát huy được những điểm mạnh trong thực hiện chương trình giáo dục mầm
non. Một bộ phận giáo viên không tích cực trong việc lập kế hoạch và xây dựng
môi trường học tập theo hướng lấy trẻ làm trung tâm. Đó là do sự nhiệt huyết đối
với nghề của giáo viên chưa cao và do một bộ phận giáo viên không chịu học hỏi,
tìm tòi những kiến thức, kinh nghiệm trong chuyên môn.
2.3. Nội dung cụ thể đề án cần thực hiện:
Nâng cao chất lượng quản lý giáo dục tại 33 trường mầm non huyện Nam
Trực giao đoạn 2016 – 2020, đó là:
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng cho dạy và học, đảm bảo các
điều kiện theo quy định của trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Nâng cao chất lượng thực hiện Chương trình giáo dục mầm non, thực hiện có
hiệu quả việc đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục toàn
lực thù địch.
2.4.2. Tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền
Thực hiện tốt công tác tuyên truyền về các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, Pháp luật của Nhà nước, nhất là các chủ trương, chính sách, Nghị
quyết về giáo dục đến tận mọi người dân. Phấn đấu mỗi cán bộ, giáo viên và nhân
viên các trường mầm non thực sự là một tuyên truyền viên.
Tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04
tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục; về công cuộc đổi mới mà ngành giáo dục đang triển khai.
Kết hợp với trường tiểu học, trường THCS trên địa bàn tổ chức tốt cuộc họp
phụ huynh đầu năm để tuyên truyền cho phụ huynh, nhân dân hiểu rõ về công tác
PCGD, nội dung chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ; phương pháp nuôi dạy trẻ
theo khoa học
Tuyên truyền đến cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, cán bộ, giáo viên
và nhân dân về Đề án.
22
2.4.3. Bổ sung, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học
2.4.3.1. Giải pháp về công tác quy hoạch, tạo quỹ đất
* Quy hoạch:
- Hoàn thành Quy hoạch hệ thống các trường Mầm non trên địa bàn.
- Quy hoạch vị trí, diện tích các trường học tại từng xã, thị trấn.
- Quy hoạch mặt bằng chi tiết mỗi nhà trường theo tiêu chí chuẩn quốc gia.
- Việc quy hoạch vị trí, diện tích và quy hoạch mặt bằng chi tiết tất cả các
trường học trên địa bàn huyện, thời gian hoàn thành trong năm 2016.
*Quỹ đất:
- Tạo quỹ đất để đầu tư xây dựng cơ sở trường lớp theo quy hoạch mặt bằng
chi tiết đã phê duyệt
- Bổ sung diện tích cho các trường còn thiếu diện tích mặt bằng theo quy
học sinh và các tổ chức, cá nhân, tạo niềm tin trong xã hội.
2.4.3.3. Giải pháp về tăng cường công tác quản lý nhà nước về xây dựng cơ
sở hạ tầng giáo dục
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong công tác tham mưu chủ
trương đầu tư, đảm bảo việc đầu tư đúng định hướng, đúng địa chỉ.
- Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra việc quản lý chất lượng
các công trình xây dựng.
- Xây dựng và ban hành các quy định về phân công, phân cấp quản lý các
công trình giáo dục phù hợp với đặc thù của ngành trên địa bàn huyện.
2.4.3.4. Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận trong xã
hội để mọi người dân ủng hộ và chia sẻ trách nhiệm với nhà nước trong đầu tư phát
triển kết cấu hạ tầng nói chung và của ngành giáo dục nói riêng.
24
2.4.4. Phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục
Tiến hành rà soát, đánh giá, thực hiện bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đội ngũ cán bộ
quản lý đảm bảo yêu cầu chuẩn Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, thực hiện hiệu quả
đổi mới công tác quản lý. Dự kiến trong giai đoạn 2016-2020 bổ sung đủ 25 cán bộ
quản lý còn thiếu và thay thế 10 cán bộ quản lý do nghỉ chế độ.
Rà soát đội ngũ giáo viên để có kế hoạch tham mưu với UBND huyện tuyển
dụng thêm giáo viên mầm non. Dự kiến bổ sung thêm 90 giáo viên trong năm 2017
đảm bảo tương đối đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và chuẩn về trình độ. Phấn
đấu đến 2020 có 100% giáo viên có trình độ đạt chuẩn trở lên, trong đó có ít nhất
80% giáo viên có trình độ trên chuẩn, ít nhất 85% giáo viên được đánh giá, xếp
loại theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non từ loại khá trở lên. Tiếp tục tham
mưu với UBND huyện cân đối nguồn ngân sách để hợp đồng giáo viên, nhân viên
cho các trường mầm non còn thiếu nhằm đảm bảo đủ 2 giáo viên/lớp, giáo viên