Nghiên cứu thực trạng, đề xuất quy hoạch và các giải pháp quản lý vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên pù hu, tỉnh thanh hóa - Pdf 43

Bộ giáo dục và đào tạo

Bộ Nông nghiệp và PTNT

Tr-ờng đại học lâm nghiệp

V VN T

NGHIấN CU THC TRNG, XUT QUY HOCH V
CC GII PHP QUN Lí VNG M KHU BO TN
THIấN NHIấN P HU, TNH THANH HO

Chuyên ngành: Qun lý bo v ti nguyờn rng
Mã số: 60.62.68

LUN VN THC S KHOA HC LM NGHIP

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYN XUN NG

Hà Nội, 2011



1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, chất lượng của các hệ sinh thái và các
cảnh quan, hệ động vật và hệ thực vật giàu có của nhiều khu bảo tồn thường
bị suy thoái do tác động của nhân dân sinh sống phía ngoài các khu bảo tồn từ
lâu đã được nhiều người quan tâm. Việc xây dựng vùng đệm, tạo thành một

rất nhiều khó khăn, đặc biệt, là các chính sách có liên quan đến sinh kế tại
vùng đệm, vì chưa xác định được đối tượng, phạm vi, diện tích vùng đệm để
đầu tư và kêu gọi Dự án lồng ghép hay một chính sách đặc thù cho cư dân
vùng đệm.
Từ những yêu cầu cấp thiết của thực tiễn nêu trên, tôi chọn thực hiện đề
tài “Nghiên cứu thực trạng, đề xuất quy hoạch và các giải pháp quản lý
vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa”, trong đó tập
trung nghiên cứu, phân tích một số nội dung cơ bản sau:
- Phân tích, đánh giá thực trạng về đời sống sinh kế, văn hóa, xã hội,
những nhu cầu thiết yếu và tầm quan trọng của tài nguyên rừng đối với cư dân
vùng đệm. Các tác nhân đe dọa và các nguy cơ xâm hại đến Khu bảo tồn.
- Quy hoạch vùng đệm cho KBTTN Pù Hu trên bản đồ và ngoài thực
địa dựa trên các tiêu chí: xã hội dân sinh, điều kiện tự nhiên, giá trị đa dạng
sinh học, khả năng đầu tư tài chính và mức độ chấp nhận của các bên liên
quan.
- Đề xuất tổng hợp các giải pháp quản lý hiệu quả vùng đệm KBTTN
Pù Hu.
Kết quả của đề tài sẽ góp phần tạo lập cơ sở khoa học để tiến tới giải
quyết hài hòa mối quan hệ của vùng đệm với khu bảo tồn ở KBTTN Pù Hu
nói riêng và các khu bảo tồn của Việt Nam nói chung,


3

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm vùng đệm và vai trò của vùng đệm đối với quản lý khu
bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học
1.1.1 Sự cần thiết có sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quản lý
khu bảo tồn thiên nhiên

+ Khuyến khích các cộng đồng địa phương trong vùng đệm tham gia
vào việc qui hoạch và quản lý các hoạt động bảo tồn.
+ Giúp cộng đồng địa phương lập kế hoạch và quản lý tài nguyên thiên
nhiên trong vùng đệm một cách bền vững.
+ Có sự trao đổi thông tin và điều phối chặt chẽ để đảm bảo các quy
hoạch và kế hoạch quản lý phát triển của chính quyền địa phương và các đơn
vị kinh tế ở vùng đệm mang tính hỗ trợ (và không đi ngược lại) các mục tiêu
bảo tồn đã đề ra cho KBTTN (và vùng đệm).
+ Các hoạt động đầu tư trong một vùng đệm cần được điều phối để
hướng tới thực hiện các mục tiêu bảo tồn đề ra của vùng đệm và KBTTN.
+ Khuyến khích các dự án cụ thể trong vùng đệm ủng hộ các mục tiêu
bảo tồn.
+ Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào xây dựng và thực hiện
các hoạt động tại vùng đệm.
1.1.3 Những kết quả đã đạt được và những thiếu sót trong quy hoạch và
quản lý vùng đệm của Việt Nam.
1.1.3.1. Những kết quả đạt được
Việc quản lý và bảo vệ rừng nói chung rất đa dạng, phong phú nhưng
lại tuân theo những quy định rất nghiêm ngặt. Về mặt bảo tồn, các sinh vật
quý hiếm vừa được đảm bảo sự tồn tại của giống nòi, vừa cung cấp sản phẩm


7

cho cộng đồng. Về mặt kinh tế và đời sống, rừng phải đảm bảo chống lũ lụt,
hạn hán, cung cấp nước cho sản xuất và đời sống. Sau nhiều năm thực hiện
việc thực hiện quy hoạch và quản lý vùng đệm ở một số khu bảo tồn trong
nước ta đã đạt được những kết quả sau:
• Về công tác quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường rừng:
- Các nhiệm vụ về bảo vệ tài nguyên môi trường được các đơn vị quan

rừng vào hương ước của làng bắt mọi người trong làng phải cam kết thực.
• Về kết quả đầu tư ngân sách:
Các đơn vị đã hợp tác với chính quyền địa phương triển khai các gói
thầu công trình phúc lợi như: xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng,
trường học, trạm y tế, thà văn hoá xóm, đường xá, cầu cống… Chuyển giao
các công trình này vào sử dụng đã phát huy hiệu quả thiết thực. Các dự án này
đã được đầu tư một khoản kinh phí đáng kể từ các cơ quan, tổ chức.
1.1.3.2. Những thiếu sót trong quy hoạch và quản lý vùng đệm ở Việt Nam
Các khu bảo tồn ở nước ta được chọn thành lập tại những vùng mà
thiên nhiên ở đó chưa bị tàn phá nhiều và phần đất đó trước đây thuộc nhiều
xã, của vài ba huyện nằm trọn trong một tỉnh hay nhiều tỉnh. Cũng có khu bảo
tồn, ngoài ranh giới tiếp giáp với các xã, còn có phần ranh giới tiếp giáp với
một hay hai xí nghiệp lâm nghiệp nhà nước. Có khu bảo tồn lại có phần ranh
giới là biên giới của nước ta và các nước lân cận như Lào hay Campuchia,
hoặc có khu bảo tồn lại tiếp giáp với biển cả như: VQG Cát Bà, VQG Côn
Đảo, VQG Phú Quốc, KBTTN Xuân Thủy,... Xung quanh các khu bảo tồn
thường có nhiều dân cư sinh sống đã từ lâu đời hay mới di cư đến, và đa số là
dân nghèo, trình độ dân trí thấp, sống dựa vào các sản phẩm của rừng hoặc
các hệ sinh thái có liên quan. Mức độ phức tạp của vấn đề vùng đệm thuộc
từng khu bảo tồn thay đổi tùy theo tình hình cụ thể về dân cư và kinh tế - xã
hội ở xung quanh khu bảo tồn đó.


9

Điều khó khăn nhất gặp phải trong việc quản lý khu bảo tồn ở Việt
Nam là số dân sinh sống phía ngoài, sát với khu bảo tồn, thậm chí cả trong
khu bảo tồn đã tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn. Họ phát nương làm rẫy,
săn bắt động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm các sản phẩm của rừng và do đó
ảnh hưởng lớn đến công tác bảo vệ. Nguyên nhân chính của mất rừng là đói

được tham gia và cũng không được chia sẻ mối lợi có được từ khu bảo tồn...
- Ban quản lý khu bảo tồn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện
nhiệm vụ bảo vệ vì không đủ cán bộ, đa số cán bộ chưa được đào tạo, luật
pháp cũng không rõ ràng, không có hướng dẫn cụ thể về quản lý vùng đệm,
thiếu kinh nghiệm, thiếu kinh phí, cơ sở hạ tầng kém...
- Việc ngăn chặn xâm phạm tài nguyên thiên nhiên thuộc khu bảo tồn
từ dân vùng đệm và cả dân ngoài vùng đệm không có cơ quan chỉ đạo thống
nhất. Tại một địa phương có thể có nhiều cơ quan cùng làm việc đó, như kiểm
lâm, nhân viên bảo vệ của khu bảo tồn, công an, chính quyền địa phương,
thủy sản, thủy lợi (nếu có hồ chứa)... Các cơ quan này mạnh ai nấy làm, nhiều
khi tạo nên mâu thuẫn, khó giải quyết.
- Chính quyền tỉnh, trung ương và các bộ ngành có liên quan chưa có
quan niệm đúng mức về vùng đệm của các khu bảo tồn, chưa chỉ đạo, hướng
dẫn chính quyền địa phương cách quản lý vùng đệm.
- Các chương trình nhà nước như chương trình xóa đói giảm nghèo,
chương trình tín dụng và nhiều chương trình của các tổ chức ngoài chính phủ
thực hiện ở các xã thuộc vùng đệm cũng chưa chú ý nhiều đến vai trò của
vùng đệm đối với khu bảo tồn và mục tiêu bảo tồn.
Tóm lại, chưa có bộ tiêu chí thống nhất được ban hành cho quy hoạch
vùng đệm cho các khu rừng đặc dụng; vùng đệm chưa được quan tâm thỏa
đáng; cơ quan đầu mối để quản lý vùng đệm chưa rõ ràng; thiếu nguồn nhân


11

lực, vật lực đầu tư cho vùng đệm; nguy cơ và các xung đột giữa vùng đệm và
khu bảo tồn chưa được giải quyết.
1.1.4. Cơ sở pháp lý về quản lý vùng đệm của Việt Nam
Mặc du chưa thật hoàn thiện, nhưng những quy định cơ bản về xây
dựng và quản lý vùng đệm cho các khu bảo tồn ở Việt Nam đã được xác định

1. Phạm vi vùng đệm gồm khu vực rừng, đất có dân cư sinh sống, đất
ngập nước, khu vực biển tiếp giáp ranh giới ngoài hoặc nằm trong phạm vi
ranh giới khu rừng đặc dụng, có chức năng ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại
đối với khu rừng đặc dụng bằng các biện pháp quản lý, bảo tồn gắn với các
hoạt động nâng cao sinh kế cho cộng đồng dân cư và phát triển kinh tế xã hội
bền vững.
2. Vùng đệm được xác định đồng thời với việc lập dự án thành lập khu
rừng đặc dụng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định cụ thể về
tiêu chí xác định vùng đệm.
3. Phạm vi ranh giới của vùng đệm phải được xác định rõ trên bản đồ
và thực địa.
4. Vùng đệm được quy hoạch sử dụng tài nguyên, đất đai phù hợp với
mục tiêu ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại đối với khu rừng đặc dụng, đồng
thời nâng cao sinh kế cho cộng đồng dân cư và phát triển kinh tế xã hội bền
vững.
Điều 33. Dự án đầu tư cho vùng đệm
1. Dự án đầu tư vùng đệm được quản lý phù hợp với quy định của pháp
luật về quản lý dự án đầu tư.
2. Ban quản lý khu rừng đặc dụng và các tổ chức được giao quản lý khu
rừng đặc dụng lập dự án và là chủ đầu tư dự án đầu tư vùng đệm phù hợp với
quy định của pháp luật.
Điều 34. Trách nhiệm quản lý vùng đệm
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo
Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện trách nhiệm như sau:
a) Tuyên truyền, vận động nhân dân trong vùng đệm thực hiện các biện
pháp ngăn chặn xâm hại vào khu rừng đặc dụng.


13


+ Phân khu phục hồi sinh thái là 12.253,23 ha, thuộc tiểu khu: 16, 23,
24, 26, 28, 29, 42, 51, 73, 82, 95, 97, 98, 102, 111, 112, 113, 120, 121, 123,
124, 130, 142, 146, 147 và 43119.
+ Phân khu hành chính dịch vụ là: 322.5 ha
+ Diện tích rừng sản xuất do Khu bảo tồn quản lý: 4.353,44 ha
1.2.2. Điều kiện khí hậu
KBTTN Pù Hu thuộc vùng khí hậu núi cao, mang tính khí hậu lục địa
và được phân ra các tiểu vùng khí hậu: Tiểu vùng khí hậu núi cao phía Bắc,
núi cao trung phần và núi cao phía Nam.
- Tiểu khí hậu núi cao phía Bắc: Nhiệt độ thấp, phần lớn có tổng nhiệt
dưới 80000C, mùa đông khá rét. Nhiệt độ trung bình tháng 1 dưới 150C, khả
năng xuất hiện băng giá, mùa hè mát, nhiệt độ trung bình tháng 7 thấp 26 0C.
Mưa: Tiểu vùng này ít mưa, lượng mưa năm dưới 1600mm. Mùa mưa kéo dài
trên 5 tháng, mùa mưa bắt đầu từ đầu tháng 4 và kết thúc vào cuối tháng 9
hoặc đầu tháng 10. Gió nhìn trung là yếu, ảnh hưởng của gió bão là không
đáng kể, tiểu vùng này có mùa đông khá rét và khô, có sương giá, sương
muối, mùa hè ít mưa và không nắng lắm.
- Tiểu vùng khí hậu núi cao trung phần: Gồm các xã Hiền Kiệt, Hiền
Chung, Phú Xuân, Hồi Xuân, Nam Tiến, Thanh Xuân. Tiểu vùng này có
nhiều đồi núi thung lũng thấp dưới 400m, ở đó chế độ nhiệt khắc biệt với tình
hình chung của vùng khí hậu toàn huyện. Nhiệt độ: Tổng nhiệt độ năm nhỏ
hơn 8000oC (Khu vực thấp từ 8100 - 84000C) Nhiệt độ trung bình tháng 1 là
13 - 150C ( Khu vực thấp nhất 15 - 16,50C), nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối có thể
xuống tới 10C, có nơi 00C. Lượng mưa trùng bình năm từ 1600 – 1900mm,
mùa mưa kéo dài 6 tháng (tháng 5 - tháng 10), có nơi hơn 6 tháng (Cuối tháng
4 đến hết tháng 10). Gió nhìn chung gió đây yếu, tốc độ trung bình từ 1.0 1,5m/giây, trong bão mạnh nhất không quá 30m/giây.


15


Pù Hu có thể phân chian thành những kiểu thảm thực vật chính như sau:
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: Kiểu rừng này phân bố
ở độ cao dưới 700 m và có thể gặp nó trên tất cả các xã trong khu bảo tồn
thiên nhiên. Rừng có thành phần loài gồm các ưu hợp của họ Cỏ (Poaceae),
họ Cúc (Asteraceae), họ Cà Phê (Rubiaceae) và họ Đậu (Fabaceae).
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp: Phân bố ở độ
cao trên 700m thuộc các đỉnh núi cao, đặc biệt tập trung ở đỉnh Pù Hu cho
nên kiểu rừng này có thành phần thực vật ưu thế với các họ Dẻ (Fagaceae), họ
Dâu Tằm (Moraceae), họ Re (Lauraceae) và họ Mộc Lan.
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác: bao gồm Rừng hỗn giao gỗ và nứa trên
đất nguyên trạng. Kiểu rừng này có diện tích không lớn phân bố rải rác trên
toàn bộ khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu. Rừng tre nứa: Kiểu phụ này phân bố
ven hệ thống suối vì đất ở đó ẩm và còn tốt. Rừng Luồng trồng: được các hộ
gia đình trồng ven sông Luồng và sông Mã cùng ven hệ thống các suối là chủ
yếu thuộc vùng đệm và ngay trong Khu bảo tồn. Tuy không được xếp riêng
thành một kiểu hoặc kiểu phụ như trên, song kiểu thảm đất trống có cây bụi
và đất trống có cây gỗ rải rác hay là đất trống có cỏ làm phong phú thêm hệ
sinh thái trong khu bảo tồn và là nơi kiếm ăn cho các loài động vật.
Đa dạng hệ thực vật: Thực vật KBTTN Pù Hu thuộc khu hệ thực vật
vùng Bắc Trung Bộ nhưng có ảnh hưởng của hệ thực vật vùng Tây Bắc cũng
như hệ thực vật vùng núi phía Bắc Bộ. Qua điều tra bước đầu của do Viện
Điều tra Quy hoạch Rừng thực hiện vào năm 1998 (Đỗ Tước và cộng sự,
1998, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa, 1999) đã thống kê được 508 loài
thực vật thuộc 323 chi, 102 họ thực vật thuộc 6 ngành. Trong đó có những họ
thực vật chiếm ưu thế như: Họ Cỏ (Poaceae), Họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae),
Họ Cúc (Asteraceae)…Về bảo vệ nguồn gen, trong Khu bảo tồn có 28 loài


17


MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tỉêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của đề tài là đề xuất được một phương án quy hoạch
hợp lý cùng với các giải pháp tổng hợp quản lý hiệu quả vùng đệm KBTTN
Pù Hu, nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội ở
vùng đệm và mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng lõi của KBTTN Pù
Hu. Các mục tiêu cụ thể bao gồm:
* Xác định được các đặc điểm cơ bản của thực trạng đời sống dân sinh,
tình hình sử dụng đất và tài nguyên rừng của cộng đồng dân cư trong khu vực
dự kiến quy hoạch vùng đệm cho KBTTN Pù Hu.
* Xác định các tác động và ảnh hưởng tiêu cực của cộng đồng dân địa
phương đến tài nguyên thiên nhiên KBTTN Pù Hu và nhu cầu thiết yếu về sử
dụng tài nguyên của họ.
* Đề xuất được phương án quy hoạch vùng đệm phù hợp cho KBTTN
Pù Hu và một số giải pháp quản lý vùng đệm hiệu quả.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là cộng đồng dân cư hiện đang sinh
sống trong khu dự kiến quy hoạch vùng đệm KBTTN Pù Hu.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài (gọi là vùng nghiên cứu) là toàn bộ 11
xã có ranh giới hành chính tiếp giáp với KBTTN Pù Hu, thuộc huyện Quan
Hóa (Nam Tiến, Thiên Phủ, Hiền Chung, Hiền Kiệt, Thanh Xuân, Phú Xuân,
Phú Thanh, Phú Sơn, Trung Thành và Trung Sơn) và huyện Mường Lát
(Mường Lý), tỉnh Thanh Hoá với tổng diện tích khoảng 55.281ha.


20

Hình 2.1. Bản đồ hiện trạng vùng đệm KBTTN Pù Hu




22

- Nhóm giải pháp thu hút người dân tham gia quản lý KBTTN
2.4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương nghiên cứu chính sau đây được sử dụng để thu thập và
phân tích số liệu thực hiện Đề tài:
2.4.1. Thu thập và phân tích các nguồn tư liệu hiện có
Tiến hành thu thập các nguồn tư liệu liên quan hiện có từ các cơ quan,
tổ chức cấp xã, huyện, Ban quản lý KBTTN Pù Hu và các Hạt Kiểm lâm 2
huyện Quan Hoá, Mường Lát. Các tư liệu nay được phân tích, đánh giá và
chọn lọc thông tin phục vụ cho các nội dung nghiên cứu của Đề tài.
2.4.2. Sử dụng bộ phiếu đánh giá sử dụng tài nguyên ban đầu
Bộ phiếu chuẩn đánh giá sử dụng tài nguyên ban đầu (Mittelman et al.
2008) được sử dụng (có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện vùng nghiên
cứu) để thu thập số liệu về tình hình kinh tế xã hội cũng như việc sử dụng
nguồn tài nguyên thiên ở bên trong và bên ngoài Khu bảo tồn. Các tư liệu
được thu thập ở cấp huyện, cấp xã và cấp thôn bản. Các loại thông tin/tư liệu
chính cần thu thập bao gồm:
- Diện tích đất đang sử dụng bên trong và bên ngoài Khu bảo tồn,
- Tình trạng đói nghèo (số hộ đói, nghèo, trung bình, khá - giàu theo
các dân tộc),
- Thành phần dân tộc,
- Dân số và lực lượng lao động,
- Các hoạt động kinh tế-xã hội (số hộ theo ngành sản xuất, tình hình sử
dụng lao động, tổng thu nhập của xã, trồng trọt, chăn nuôi, hiện trạng sử dung
đất,,,),
- Hạ tầng cơ sở, dịch vụ, thị trường,
- Hiện trạng quản lý và sử dụng đất,




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status