ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------
HÀ THỊ THANH PHƢỢNG
VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CỦA LIÊN MINH
CHÂU ÂU CHO VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60310206
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Bùi Hồng Hạnh
Hà Nội - 2016
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.
TS. Bùi Hồng Hạnh - Khoa Quốc tế học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã tận tình hướng dẫn và giúp tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin kính gửi lời cảm ơn đến các giáo viên các bộ môn và Khoa Quốc tế
học, các cán bộ của Khoa Đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn đã hết sức quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu tại trường.
Tôi cũng xin gửi lời chân thành đến Trung tâm Nghiên cứu Châu Âu, Thư
viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện khoa Quốc tế học - Trường Đại học Khoa học Xã
1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ CHO CHÍNH SÁCH VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN
9
CHÍNH THỨC CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU CHO VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và vai trò của Viện trợ phát triển chính thức (ODA)
9
1.2. Chính sách của EU về ODA
11
1.2.1. Đồng thuận Châu Âu về phát triển
11
1.2.2. Gắn kết chính sách về phát triển
13
1.2.3. Ưu tiên trong chính sách ODA của EU tại Châu Á
15
1.2.4. Các lĩnh vực ưu tiên của EU cho ODA
44
2.2.1. Bối cảnh và chính sách ODA của EU cho Việt Nam (2009 - 2015)
45
2.2.2. Giải ngân và sử dụng ODA của EU cho Việt Nam (2009 - 2015)
54
Tiểu kết chương 2
62
CHƢƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
64
3.1. Nhận xét về chính sách ODA của EU cho Việt Nam
64
3.2. Đánh giá về việc triển khai chính sách ODA của EU tại Việt Nam
67
3.3. Kiến nghị chính sách
76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN
DAC
Association of South East Asian
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Nations
Á
Development Assistance
Ủy ban hỗ trợ phát triển
Committee
DCI
Development Cooperation
Instrument
Công cụ Hợp tác Phát triển
EC
European Commission
Tổng sản phẩm trong nước
IMF
International Monetary Fund
Qũy Tiền tệ quốc tế
MDG
Milennium Development Goal
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
MUTRAP
Multilateral Trade Assistance
Dự án Hỗ trợ Thương mại đa biên
Organisation
MIC
Middle Income contries
Nước có thu nhập trung bình
ODA
Country Strategy Paper
Bản chiến lược quốc gia
UNDP
United Nations Development
Chương trình Phát triển Liên Hợp
Programme
quốc
USD
United State dollar
Đô la Mỹ
WB
World Bank
Ngân hàng Thế giới
WTO
World Trade Organisation
66
khác giai đoạn 2008 - 2013
4
Bảng 3.2. Những điểm tương đồng và khác biệt chủ yếu trong ODA
66
của EU cho Việt Nam và Châu Phi
5
Bảng 3.3. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam từ năm 1985 -
68
2014
Biểu đồ
1
Biểu đồ 2.2: Cam kết hỗ trợ của EU cho Việt Nam giai đoạn 2009 -
55
2015
2
Biểu đồ 2.3: Giải ngân của EU cho Việt Nam năm 2014 theo loại
2
Hộp 2.2: Dự án thí điểm tuyến đường sắt đô thị thí điểm Nhổn - ga
59
Hà Nội
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày 22 tháng 10 năm 1990, Cộng đồng Châu Âu lúc đó tiền thân của Liên
minh Châu Âu (EU)1 ngày nay, và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao. Sau 5
năm, ngày 17 tháng 07 năm 1995 Hiệp định khung về quan hệ hợp tác giữa Việt
Nam và Uỷ Ban Châu Âu (EC) (gọi tắt là Hiệp định FCA) được ký kết và bắt đầu
có hiệu lực vào ngày 01 tháng 06 năm 1996, cung cấp cơ sở pháp lý cho mối quan
hệ song phương nói chung cũng như chiến lược hỗ trợ phát triển chính thức của EU
cho Việt Nam nói riêng. Năm 2015 đánh dấu mốc 20 năm chính sách viện trợ phát
triển chính thức (ODA) của EU cho Việt Nam.
EU là nhà tài trợ hợp tác phát triển lớn nhất thế giới với mức viện trợ năm
2014 chiếm 55% tổng mức viện trợ, đạt 74,1 tỷ USD. Cùng với các nước thành viên
EU, viện trợ từ Iceland, Nauy và Thụy sỹ đã nâng mức viện trợ của Châu Âu lên
61% tương đương 82,7 tỷ USD viện trợ toàn cầu2. ODA luôn chiếm một vị trí quan
trọng trong quan hệ của EU với các nước đang phát triển.
Hiện nay EU là nhà tài trợ song phương lớn thứ hai về ODA và là nhà cung
cấp viện trợ không hoàn lại lớn nhất của Việt Nam với tổng ODA cam kết trong giai
đoạn 1996 - 2010 là hơn 12 tỷ USD góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh
tế xã hội của Việt Nam3. Thông qua các kế hoạch chiến lược hợp tác song phương,
nguồn ODA của EU dành cho Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như
phát triển nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, y tế, giáo dục, hỗ trợ kỹ thuật, cải
triệu Euro cho Việt Nam giai đoạn 2014 - 2020, tiếp tục giúp đỡ Việt Nam trong
nhiều lĩnh vực ưu tiên, bao gồm phát triển con người, ủng hộ tiến trình cải cách kinh
tế và xã hội, hỗ trợ Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Điều này cho thấy
quan hệ đối tác và hợp tác toàn diện EU - Việt Nam ngày càng đi vào thực chất và
hiệu quả5. Việt Nam và EU đều thể hiện quyết tâm chính trị đưa mối quan hệ lên
tầm cao mới.
Việc nghiên cứu đánh giá ODA của EU cho Việt Nam giai đoạn 1995 - 2015
rút ra bài học kinh nghiệm nhằm có đối sách phù hợp hơn trong bối cảnh mới, tiếp
tục phát triển quan hệ hợp tác toàn diện EU - Việt Nam là cần thiết. Chính vì vậy
thực hiện đề tài này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
2. Tình hình nghiên cứu
Có một số công trình nghiên cứu về ODA cho Việt Nam đã trên nhiều phương
diện khác nhau và đã đạt được những kết quả nhất định. Có thể chia các công trình
nghiên cứu theo nhóm sau:
2.1. Ở nƣớc ngoài
Các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài mà trong luận văn tiếp cận
được:
Andrew Hardy (2015), “25 years of progress and friendship”, Delegation of
the European Union, Ha noi: tác giả đã mô tả một số dấu mốc quan trọng trong quá
trình phát triển quan hệ EU - Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2015.
4
cập nhật ngày 16/11/2016
Việt Nam - Liên minh Châu Âu: Hướng tới phát triển bền vững, 13/11/2014,
cập nhật ngày 16/11/2016
5
2
Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Kinh tế Quốc tế - Học viện Ngoại giao. Tác giả phân
tích cụ thể vai trò của ODA đến với hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đưa ra
3
một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về vai trò và bản chất của
viện trợ nước ngoài, đồng thời hướng tới việc hoàn thiện hệ thống pháp lý nhằm
giải quyết những bất cập trong việc sử dụng và quản lý vốn ODA.
Trần Thị Hồng Thủy, (2016), Viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong bối
cảnh Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình (MIC), Luận án Tiến sĩ kinh
tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả phân tích vai trò của
ODA đối với Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam trở thành nước MIC.
* Nhóm công trình nghiên cứu nói chung về quan hệ EU - Việt Nam:
Phạm Thị Thu Hương, (2014), Quan hệ Hợp tác - Đối tác toàn diện Việt Nam
- Liên minh Châu Âu: Thành tựu và triển vọng, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Ngoại
giao. Tác giả phân tích quá trình xây dựng quan hệ đối tác - hợp tác toàn diện Việt
Nam - EU, đánh giá thuận lợi khó khăn trong tiến trình hợp tác từ đó nêu ra một số
khuyến nghị chính sách cho Việt Nam.
Nguyễn Quang Thuấn (2009),Quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên minh Châu Âu:
thực trạng và triển vọng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Cuốn sách phân tích thực
trạng quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - EU từ năm 1995 đến năm 2008 với ba nội
dụng chính là thương mại, đầu tư và hợp tác phát triển chính thức. Trên cơ sở đó sẽ
đưa ra những định hướng, giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam EU cho đến giai đoạn năm 2020.
Đinh Công Tuấn (Chủ biên) (2011), Liên minh Châu Âu hai thập niên đầu thế
kỷ XXI, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Cuốn sách phân tích, nghiên cứu, đánh giá
những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của EU trong giai đoạn 2000 - 2010, đánh giá
những tác động của xu hướng phát triển của EU đối với thế giới, khu vực Châu Âu
và Việt Nam trong thời gian tới.
Nguyễn An Hà (Chủ biên) (2013), Điều chỉnh chính sách phát triển của một
kinh tế đối ngoại, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả phân
tích tác động nguồn vốn ODA của EU tới phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến
năm 2009 và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng thu hút và
sử dụng ODA của EU đối với Việt Nam.
Hiện nay trong bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc, ảnh
hưởng toàn diện và mạnh mẽ đến mọi quốc gia như: Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm 2008… Việc chính thức ký Hiệp định Hợp tác - Đối tác toàn
diện giữa Việt Nam và EU (PCA) năm 2012 và kết thúc cơ bản đàm phán Hiệp định
thương mại tự do Việt Nam - EU năm 2015 là những sự kiện quan trọng, tạo đà cho
việc phát triển quan hệ song phương đi vào chiều sâu và thực chất trên tất cả các
lĩnh vực.
Có thể thấy với cách tiếp cận ở nhiều mức độ khác nhau, tất cả các công
trình trên đã phân tích những nội dung đến ODA của EU cho Việt Nam đến năm
2009 hoặc những bài viết chỉ đề cập một phần trong chính sách ODA trong quan hệ
EU và Việt Nam, chưa đủ để đánh giá viện trợ ODA của EU cho Việt Nam từ mục
5
tiêu đến nội dung và những kết quả đã đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại.
Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu chính sách ODA của EU cho Việt Nam
từ năm 1995 đến 2015, đánh dấu mốc 20 năm viện trợ ODA của EU cho Việt Nam.
Từ đó đưa ra định hướng về ODA trong bối cảnh Việt Nam là nước có thu nhập
trung bình thấp trong thời gian tới đồng thời có những kiến nghị về chính sách
nhằm giúp Việt Nam có những điều chỉnh, xây dựng một chính sách hợp tác phát
triển hoàn thiện, thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA của EU. Vì vậy, đề tài: “Viện trợ
phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam giai đoạn 1995 - 2015”
là một việc làm cần thiết, mang tính thời sự, nhằm bổ sung và hoàn thiện hơn nội
dung này. Những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên là nguồn tài liệu
quý giá cho tác giả tham khảo để hoàn thành luận văn của mình.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
của EU với Việt Nam nói riêng và với khu vực Đông Nam Á nói chung. Năm 2012
Việt Nam và EU đã chính thức ký kết hiệp định PCA, Hiệp định này chính thức
thay thế cho Hiệp định FCA năm 1995. EU và Việt Nam đều thể hiện quyết tâm
chính trị, đưa mối quan hệ lên một tầm cao mới, đưa quan hệ Việt Nam - EU thành
mối quan hệ đối tác toàn diện và bền vững. Năm 2015 đánh dấu mốc 20 năm chính
sách ODA của EU cho Việt Nam. Bên cạnh đó đánh giá chính sách ODA của EU
cho Việt Nam thông qua việc so sánh với chính sách ODA của EU cho Châu Phi.
Phạm vi không gian: EU, Việt Nam.
Phạm vi lĩnh vực: Viện trợ phát triển chính thức của EU cho Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tư liệu tổng hợp. Đây là phương pháp nhằm khai
thác các nguồn tài liệu gốc hoặc thứ cấp như: các tài liệu lịch sử, các báo cáo nhanh
của các cơ quan chức năng, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, chính
trị, hoạt động xã hội...
Sử dụng phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế như: Các cấp độ phân tích,
lịch sử, phân tích văn bản, hệ thống - cấu trúc đa ngành - liên ngành, phân tích
chính sách, phân tích tác động, phân tích hợp tác quốc tế và dự báo làm sáng tỏ vấn
đề cần nghiên cứu trong phạm vi đề tài. Ngoài ra luận văn áp dụng phương pháp
tổng hợp, thống kê, so sánh được sử dụng trong việc xử lý các nguồn tài liệu.
6. Đóng góp của luận văn
Sau khi hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu, tác giả hy vọng luận văn sẽ cung
cấp một cái nhìn toàn diện về quá trình phát triển của chương trình ODA của EU
cho Việt Nam giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2015. Luận văn đưa ra quan điểm và
định hướng về ODA trong bối cảnh Việt Nam là nước MIC trong thời gian tới, đồng
thời có những kiến nghị về chính sách nhằm giúp Việt Nam có những điều chỉnh,
7
xây dựng một chính sách hợp tác phát triển hoàn thiện, thu hút và sử dụng nguồn
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ CHO CHÍNH SÁCH VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CỦA
LIÊN MINH CHÂU ÂU CHO VIỆT NAM
Khái niệm và vai trò về Viện trợ phát triển chính thức (ODA)
1.1.
Khái niệm về Viện trợ phát triển chính thức (ODA) đã được nhiều tổ chức và
học giả đưa ra trong đó đáng chú ý là khái niệm của của Ủy ban Hỗ trợ phát triển
(DAC) thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Phần lớn các nước EU
là thành viên của OECD. Theo tổ chức này: ODA là “dòng tài chính chính thức
được quản lý nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi ở các nước đang
phát triển, trong đó một phần viện trợ không hoàn lại chiếm tối thiểu 25%. Thông
qua thỏa thuận, dòng vốn ODA bao gồm các khoản đóng góp của các cơ quan
Chính phủ của nước tài trợ, tại tất cả các cấp, cho các nước đang phát triển và cho
các thể chế đa phương. Sự tiếp nhận ODA bao gồm việc giải ngân của các nhà tài
trợ song phương và các thể chế đa phương”. Các khoản cho vay của các cơ quan tín
dụng xuất khẩu với mục đích duy nhất là thúc đẩy xuất khẩu không được xem là
ODA6.
Theo khái niệm của Việt Nam được quy định trong Quy chế quản lý và sử
dụng nguồn viện trợ phát triển chính thức, ban hành kèm theo Nghị định
131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ là “hoạt động hợp tác phát triển
giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với nhà
tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên
quốc gia hoặc liên Chính phủ”7. Các hình thức cung cấp ODA gồm:
i) ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại
cho nhà tài trợ;
ii) ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi”: là khoản vay với các điều
kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không
cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, cải
cách thể chế; (iii) Thành tố hỗ trợ phải đạt ít nhất 25%, đây là chỉ số biểu hiện tính
ưu đãi của ODA so với khoản vay thương mại theo điều kiện thị trường và được xác
định trên tổ hợp các yếu tố: lãi suất, thời gian ân hạn, thời hạn cho vay, số lần trả nợ
trong năm và tỷ lệ chiết khấu.
Vai trò của ODA:
Đối với nước tài trợ ODA: Tăng cường vai trò ảnh hưởng đối với thế giới;
thực hiện mục tiêu an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục đích chính trị; tiếp cận
thị trường mới và mở rộng thị trường trong nước; hỗ trợ các vấn đề toàn cầu như
biến đổi khí hậu, di cư, chủ nghĩa khủng bố…); khai thác tài nguyên.
Đối với nước tiếp nhận: ODA góp phần thúc đẩy tăng trưởng dài hạn và
giảm nghèo ở những nước tiếp nhận. ODA có tính ưu đãi bởi trừ những khoản viện
trợ không hoàn lại ít nhất là 25% tổng số vốn vay thì phần cho vay có lãi suất thấp
hơn khoản vay thương mại thông thường (các khoản vay thông thường là
10
10%/năm). Tuy nhiên, các nước tiếp nhận phải đối mặt với những thách thức trong
mỗi khoản ODA8 như:
- Điều kiện ràng buộc của ODA khiến cho quyền làm chủ của bên nhận viện
trợ yếu khi đáp ứng những điều kiện theo hướng có lợi cho bên cung cấp viện trợ,
nhiều nước nhận viện trợ trở thành nước vay nợ với lãi suất cao;
- Các nước nhận viện trợ có thể gặp những rủi ro do đồng tiền của nước viện
trợ tăng giá;
- Tạo nên sự phân biệt đối xử trong việc cung cấp ODA khi chỉ những quốc
gia nào thỏa mãn được điều kiện do bên cung cấp ODA đưa ra mới nhận được sự
viện trợ;
- Tình trạng sử dụng lãng phí ODA do trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm
trong tiếp nhận và sử dụng ODA, tạo điều kiện cho tham nhũng gia tăng.
6/2002, các nước thành viên EU quyết định yêu cầu Uỷ ban Châu Âu triển khai
những sáng kiến thí điểm ở 4 nước: Ma - rốc, Nicaragua, Mozambique và Việt
Nam.
EU đã áp dụng những kinh nghiệm thu được từ những sáng kiến thí điểm này
để xây dựng Kế hoạch hành động của EU. Kế hoạch hành động này đã được trình
bày tại Diễn đàn cấp cao Paris (Paris HLF) vào tháng 2 - 3/2005. EU thông qua
Tuyên bố Paris về Hiệu quả viện trợ. Ngày 16/12/2005 Hội đồng Châu Âu đã phê
chuẩn “Đồng thuận Châu Âu về Phát triển”9. Văn kiện này đưa ra cho EU một
tầm nhìn chung về giá trị, mục tiêu, nguyên tắc và phương tiện cho phát triển, đồng
thời nhấn mạnh viện trợ nhiều hơn và tầm quan trọng của viện trợ. Đồng thuận
Châu Âu về Phát triển buộc các quốc gia thành viên EU và EC cam kết đảm bảo
rằng:
- Tất cả các hỗ trợ nâng cao năng lực cần thực hiện thông qua các chương
trình được điều phối và tham gia nhiều hơn của các nhà tài trợ.
- 50% sự hỗ trợ của các nhà tài trợ sẽ được thông qua các hệ thống Chính Phủ.
- Không lập thêm những Ban quản lý Dự án mới.
- Số nhiệm vụ không được điều phối giảm 50%.
Nội dung chính của Đồng thuận Châu Âu về Phát triển thể hiện những cam
kết mạnh mẽ trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, cung cấp viện trợ nhiều hơn và
hiệu quả hơn cũng như thúc đẩy chính sách gắn kết phát triển, xây dựng một thế
giới hòa bình và công bằng.
Tuyên bố bao gồm 2 nội dung chính:
Nội dung thứ 1 tập trung vào: “Tầm nhìn phát triển EU”. Trong nội dung này,
Cộng đồng Châu Âu và các nước thành viên được hướng dẫn cụ thể trong các hoạt
động hợp tác phát triển tại tất cả các quốc gia đang phát triển. Với mục tiêu căn bản
là xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững, đảm bảo nhân quyền và quản trị tốt, dựa
9
Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam,
môi trường bền vững; chống đại dịch HIV/AIDS. Năm 2006, EU đã thảo luận các
bước cụ thể về cách thức để tổ chức tốt hơn việc phân công lao động giữa các nước
thành viên với nhau.
1.2.2. Gắn kết chính sách về phát triển
Hỗ trợ tài chính là một cách riêng rẽ chưa đủ để giúp các nước đang phát
triển đạt các MDG, mà việc thực thi các chính sách phi viện trợ cũng góp phần quan
trọng vào việc đạt được các mục tiêu này.Việc thực thi hiệu quả sự gắn kết chính
sách của các quốc gia phát triển sẽ giúp các quốc gia đang phát triển tiến gần hơn
13
tới các MDG. Trên cơ sở đó, EU đưa ra 12 lĩnh vực chính sách có ảnh hưởng tới
việc thực hiện MDG gồm:
Về lĩnh vực thương mại, EU tiếp tục gắn kết thương mại với các chiến lược
phát triển và hỗ trợ các nước phát triển thực hiện cải cách trong nước.
Về lĩnh vực môi trường, EU hỗ trợ các nước đang phát triển thực thi Hiệp định
Môi trường đa phương. EU cũng tiếp tục tăng cường các sáng kiến và chính sách
liên quan đến môi trường vì người nghèo.
Về lĩnh vực thay đổi khí hậu, EU tiếp tục khẳng định các cam kết đối với Hiệp
định thư Kyoto và phát triển các chiến lược trung hạn và dài hạn nhằm đối phó với
những thay đổi khí hậu.
Về lĩnh vực an ninh, EU thúc đẩy các chính sách hỗ trợ hiệu quả, ngăn ngừa
xung đột và tăng cường kiểm soát xuất khẩu vũ khí.
Về lĩnh vực nông nghiệp, EU tiếp tục nỗ lực giảm thiểu mức độ chệch hướng
thương mại liên quan tới những phương thức hỗ trợ đối với nông nghiệp, tạo điều
kiện phát triển nông nghiệp cho các nước đang phát triển.
Về lĩnh vực thủy sản, EU đã ban hành chính sách mới về Hiệp định đối tác
Thủy sản với các nước thứ ba bắt đầu thực thi từ năm 2003 nhằm khai thác bền
vững nguồn thủy sản của các quốc gia duyên hải cũng như đảm bảo lợi ích hai bên.
Hiện nay, EU chiếm khoảng 30% tổng viện trợ ODA của thế giới cho Châu Á,
chỉ đứng sau Nhật bản. Với tư cách là nhà viện trợ lớn thứ 2 ở châu lục này, các
hoạt động viện trợ của EU chủ yếu tập trung nhằm hỗ trợ cho các sáng kiến vì hòa
bình, xóa đói giảm nghèo, giải quyết các nguyên nhân cơ bản của đói nghèo, thúc
đẩy dân chủ, tôn trọng nhân quyền, quản lý tốt và nhà nước pháp quyền tại các quốc
gia đang phát triển.
Năm 2007, EU đưa ra Văn kiện Chiến lược Châu Á giai đoạn 2007 - 2013 và
kế hoạch giai đoạn 2007 - 2010, tập trung vào 3 lĩnh vực ưu tiên sau:
Hội nhập khu vực thông qua Hội nghị Thượng đỉnh Á - Âu, Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn khu vực ASEAN và Hợp tác khu vực Nam Á
Hợp tác chính sách và thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau trong các lĩnh vực môi
trường, năng lượng và thay đổi khí hậu thông qua tiêu dùng và sản xuất bền vững;
hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu; hợp tác xuyên biên giới về các vấn đề y tế và động
vật;
Hỗ trợ người nghèo, thúc đẩy nhân quyền và dân chủ, bình đẳng giới và quản
lý tốt, quyền trẻ em và ứng phó đại dịch AIDS.
Với mục tiêu trên, trong giai đoạn 2007 - 2013, EU dành khoản hỗ trợ phát
triển 5,187 tỷ Euro để giúp Châu Á thực hiện mục tiêu nêu trên. Trong đó, 81% là
dành cho hoạt động hỗ trợ phát triển ở các quốc gia đơn lẻ, 16% dành cho hỗ trợ ở
cấp vùng và 3% dự trữ10.
10
Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam,
Báo cáo tổng quan - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Châu Âu - Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam, tr.23-24
15
Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam,
Báo cáo tổng quan - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Châu Âu - Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam, tr.26
16
Chương trình dự kiến dành 1,06 tỷ Euro12 tài trợ cho các sáng kiến liên quan trực
tiếp đến mức sống và tình trạng sức khỏe của người dân, tập trung chủ yếu vào
những quốc gia nghèo nhất và kém phát triển nhất trong các vùng dân cư kém lợi
thế.
Bình đẳng giới
Bình đẳng giới là một quy tắc cơ bản trong luật pháp EU, có quan hệ mật thiết
với các vấn đề xóa đói, giảm nghèo, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục,
tham gia vào quá trình xây dựng kinh tế và ra quyết định, quyền phụ nữ và nhân
quyền. Trong giai đoạn 2007 - 2013, EU phân bổ 57 triệu Euro13 nhằm hỗ trợ cho
các hoạt động trong lĩnh vực này.
An ninh lƣơng thực
Ngày 27/2/2008, EC đã thông qua Quyết định viện trợ tài chính lương thực
nhằm giúp 135 triệu Euro cho khoảng 12,5 triệu người dân nghèo14 ở khắp nơi trên
thế giới.
Ngăn chặn xung đột, khủng hoảng và thúc đẩy hòa bình và hợp tác quốc
tế chống ma túy
Cho đến nay các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang vẫn đang xảy ra trên
một số khu vực trên thế giới. EU đã và đang nỗ lực tham gia các hoạt động tại các
quốc gia và khu vực xung đột.
Môi trƣờng và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Chính sách môi trường và phát triển bền vững của EU dựa trên hiệp ước toàn
cầu, đặc biệt dựa trên Chương trình nghị sự 21 của Hiệp định Rio de Janeiro. Hội
nghị Liên hợp quốc tế về môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Brazil
giá tới 109 triệu USD, trong đó viện trợ trực tiếp 68 triệu USD16. Sau đó, nguồn
viện trợ này bị gián đoạn bởi “vấn đề Campuchia”. Có thể phân chia các nước thành
viên EU thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam làm 3 nhóm. Thứ nhất, các nước
Bắc Âu gồm những nước có quan điểm trung lập đối với Việt Nam như: Na Uy,
Thụy Điển, Đan Mạch. Phần Lan. Tiêu biểu là nước Thụy Điển, đây là quốc gia
phát triển và là nước Châu Âu đầu tiên công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao
với Việt Nam năm 1969, trong bối cảnh Việt Nam chiến tranh ác liệt, đất nước bị
chia cắt, chưa thống nhất và bị cấm vận, cô lập của nhiều quốc gia phương tây. Thứ
hai, các nước Tây Âu gồm những nước gắn liền với chế độ dân chủ tự do, phần lớn
các quốc gia trong vùng này có cùng văn hóa phương Tây, gồm các nước Châu
Âu có thu nhập đầu người cao như: Áo, Anh, Ireland, Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan,
Luxembourg, Thụy sĩ… Đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam có mối quan hệ bề dày
lịch sử. Mặc dù hai quốc gia có chế độ chính trị - xã hội phát triển khác nhau, lưu
giữ nhiều dấu ấn của một thời gian dài thực dân Pháp chiếm đóng và đô hộ Việt
Nam cũng như thất bại của Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954, nhưng
sau khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973 và đặc biệt từ
sau khi Tổng thống Pháp Mitterrand (François Mitterrand ) đến thăm Việt Nam năm
15
Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam,
Báo cáo tổng quan - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Châu Âu - Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam, tr.30
16
Quan hệ Việt Nam - EU: 25 năm phát triển và bứt phá (Bài 2), cập nhật ngày 16/11/2016
18