MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế đã và đang
diễn ra ngày càng sâu rộng, đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc không thể đứng
ngoài xu hướng đó. Ngày nay, nếu quốc gia nào tách ra khỏi dòng thác của lịch
sử là tự huỷ diệt mình. Tất cả các quốc gia, dù lớn, dù nhỏ, mạnh hay yếu đều
tìm cách để hội nhập kinh tế quốc tế một cách hiệu quả nhất. Trong quá trình đó
mỗi nước đều tìm mọi biện pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá
trên thị trường quốc tế. Lợi nhuận kinh tế là động lực cơ bản, thúc đẩy hoạt động
sản xuất kinh doanh và chi phối đến mọi chủ trương, chính sách, mục tiêu, cách
thức, quy mô, cấp độ...của các quan hệ kinh tế quốc tế. Muốn đạt được hiệu quả
cao nhất cũng như hạn chế tối đa thiệt hại đối với nền kinh tế đất nước, đòi hỏi
mỗi chủ thể trong quan hệ kinh tế quốc tế phải biết phát huy có hiệu quả các ưu
thế vượt trội của mình so với đối thủ cạnh tranh, được gọi là lợi thế so sánh trong
thương mại. Hiểu được lợi thế so sánh giúp chúng ta nhận thức được thực chất
của các quan hệ kinh tế giữa các nước, cũng như nhận biết được những lợi thế
của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Do vậy tác giả
lựa chọn vấn đề “Lý luận về lợi thế so sánh và ý nghĩa của nó trong nhận thức
các lợi thế của Việt Nam khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế” làm chủ đề thu
hoạch sau khi được nghiên cứu môn học “Kinh tế đối ngoại”.
NỘI DUNG
1. Lý luận về lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Nhu cầu trao đổi hàng hoá ra đời và phát triển luôn đồng hành với sự ra
đời và phát triển của sản xuất. Khi tiền tệ xuất hiện đã đẩy nhanh quá trình lưu
thông hàng hoá vượt ra khỏi biên giới quốc gia thông qua các hoạt động của các
thương đoàn, các thương nhân. Ở thời kỳ đầu hoạt động đó dựa vào sự khan
hiếm một hay một số loại hàng hoá của một quốc gia hay một địa phương nào đó
không có khả năng sản xuất. Quan niệm của họ về lợi thế chỉ giản đơn thông
2
hành vi đưa hàng hoá từ nơi sản xuất được đến nơi không sản xuất để bán và thu
mỡnh trong nghiờn cu kinh t chớnh tr A.Smith c coi nh l ngi khai
sinh ca kinh t hc. Trong tỏc phm Nghiờn cu v bn cht v ngun gc
ca ti sn cỏc dõn tc A.Smith ó a ra quan nim v li th so sỏnh
tuyt i gia cỏc nc trong trao i thng mi quc t thụng qua vic
phõn tớch cỏc iu kin sn xut khỏc nhau dn ti s khỏc nhau v hao phớ
lao ng sn xut cựng mt loi hng hoỏ ca cỏc nc. Theo A.Smith thỡ,
mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào những ngành sản xuất
mà họ có lợi thế tuyệt đối, có nghĩa sử dụng những lợi thế
tuyệt đối đó cho phép họ sản xuất sản phẩm với chi phí thấp
hơn nớc khác. Chẳng hạn tài nguyên nhiều, dễ khai thác, lao
động dồi dào, giá nhân công rẻ, khí hậu ôn hòa, đất đai mầu
mỡ cho sản lợng nông nghiệp cao, chi phí thấp...Do đó các quốc
gia sẽ chỉ xuất khẩu những hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt
đối, nhập khẩu những hàng hóa mà họ không có lợi thế. Thơng
mại không là quy luật trò chơi bằng không mà đây là trò chơi
tích cực, theo đó các quốc gia đều có lợi trong thơng mại quốc
tế. T tởng đó đợc ông minh hoạ thông qua việc so sánh sự hao
phí lao động trong sản xuất lúa mì và vải của hai nớc Anh và
Mỹ.
Bảng số liệu về hao phí lao động trong sản xuất tại Mỹ
và Anh
Sản xuất
M
Anh
Lúa mì (dạ/1giờ lao
6
1/2 giờ lao động (vì tại Mỹ nếu đổi 6 dạ lúa mì chỉ đợc 4 thớc vải sản xuất trong nớc). Tơng tự nh vậy, tại Anh 6 dạ lúa mì
nhận đợc của Mỹ tơng ứng 6 giờ lao động của Anh, 6 giờ này
có thể sản xuất ra đợc 30 thớc vải (vì tại Anh mỗi giờ lao động
sản xuất đợc 5 thớc vải), sau khi sử dụng 6 thớc vải để trao đổi
với Mỹ họ còn thu đợc 24 thớc vải, hoặc tiết kiệm đợc 5 giờ lao
động. Điều quan trọng ở đây không phải là Anh thu đợc nhiều
thặng d hơn Mỹ, mà là cả hai quốc gia có thể thu đợc từ chuyên
môn hóa trong sản xuất và thơng mại. Từ việc phân tích quá
trình sản xuất và trao đổi đó, A.Smith đã đa ra khái niệm về
5
lợi thế so sánh tuyệt đối là: Lợi thế tuyệt đối - tập hợp những
đặc tính riêng có của chủ thể mà đối thủ của nó không có - đợc
xem xét nh trờng hợp đặc biệt của học thuyết về lợi thế so sánh
nói chung. Với những quan điểm trên A.Smith đã có công lao to
lớn và là ngời đặt nền móng cho sự phát triển của lý luận về lợi
thế so sánh trong các học thuyết kinh tế của nhân loại. Tuy nhiên,
A.Smith đã không thể vợt qua đợc những rào cản nh; tính tất
yếu trong trao đổi thng mại của các quốc gia, bởi một nớc có
mọi lợi thế về tài nguyên hơn hẳn nớc khác nhng cha chắc đã
tham gia vào phân công lao động quốc tế; vị trí, vai trò của
mỗi quốc gia trong quá trình thực hiện trao đổi thơng mại
quốc tế, bởi một nớc hầu nh không có lợi thế gì thì chỗ đứng
trong phân công lao động quốc tế là ở đâu? và thơng mại
quốc tế sẽ xảy ra nh thế nào đối với các nớc này? Những hạn
chế đó là do điều kiện hoàn cảnh lịch sử, cũng nh bị giới hạn
về quan điểm lập trờng giai cấp và phơng pháp luận trong
nghiên cứu của A.Smith mang lại.
1 đơn vị rượu vang
Bảng 1- Chi phí về lao động để sản xuất
Tại Anh (giờ công)
Tại Bồ Đào Nha (giờ công)
15
10
30
15
Trong ví dụ này, Bồ Đào Nha có lợi thế tuyệt đối so với Anh trong sản
xuất cả lúa mỳ lẫn rượu vang: năng suất lao động của Bồ Đào Nha gấp hai lần
Anh trong sản xuất rượu vang và gấp 1,5 lần trong sản xuất lúa mỳ. Theo suy
nghĩ thông thường, trong trường hợp này Bồ Đào Nha sẽ không nên nhập khẩu
mặt hàng nào từ Anh cả. Thế nhưng phân tích của Đ.Ricardo đã dẫn đến kết luận
hoàn toàn khác: Một là; 1 đơn vị rượu vang tại Anh sản xuất phải tốn chi phí
tương đương với chi phí để sản xuất 2 đơn vị lúa mỳ (hay nói một cách khác, chi
phí cơ hội để sản xuất 1 đơn vị rượu vang là 2 đơn vị lúa mỳ); trong khi đó, tại
Bồ Đào Nha, để sản xuất 1 đơn vị rượu vang chỉ mất chi phí tương đương với chi
phí để sản xuất 1,5 đơn vị lúa mỳ (hay chi phí cơ hội để sản xuất 1 đơn vị rượu
vang là 1,5 đơn vị lúa mỳ). Vì thế ở Bồ Đào Nha sản suất rượu vang rẻ hơn
7
tương đối so với ở Anh. Hai là ;tương tự như vậy, ở Anh, sản xuất lúa mỳ rẻ hơn
tương đối so với Bồ Đào Nha (vì chi phí cơ hội chỉ có 0,5 đơn vị rượu vang
trong khi ở Bồ Đào Nha phải mất 2/3 đơn vị rượu vang). Hay nói một cách khác,
Bồ Đào Nha có lợi thế so sánh về sản xuất rượu vang còn Anh có lợi thế so sánh
về sản xuất lúa mỳ. Để thấy được cả hai nước sẽ cùng có lợi nếu chỉ tập trung
xuất ra sẽ là:
Bảng 3- Sau khi có thương mại
8
Quốc gia
Anh
Bồ Đào Nha
Tổng cộng
Số đơn vị lúa mì
18
0
18
Số đơn vị rượu vang
0
12
12
Rõ ràng sau khi có thương mại và mỗi nước chỉ tập trung vào sản xuất
hàng hoá mà mình có lợi thế so sánh, tổng số lượng sản phẩm của lúa mỳ và
rượu vang của cả hai nước đều tăng hơn so với trước khi có thương mại (là lúc
hai nước cùng phải phân bổ nguồn lực khan hiếm của mình để sản xuất cả hai
loại sản phẩm). Trên cơ sở đó Đ.Ricardo đã mở rộng phân tích lợi thế so sánh
cho nhiều hàng hoá và nhiều quốc gia như sau: Trường hợp có nhiều hàng hoá
với chi phí không đổi và có hai quốc gia thì lợi thế so sánh của từng hàng hoá sẽ
được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ hàng hoá có lợi thế so sánh cao nhất đến
hàng hoá có lợi thế so sánh thấp nhất và mỗi nước sẽ tập trung vào sản xuất
những mặt hàng có lợi thế so sánh từ cao nhất đến cao ở mức cân bằng. Ranh
Lợi thế so sánh động là lợi thế cấp cao, do có đầu t lớn về
vốn và tri thức. Nó bao gồm, công nghệ sản xuất, hiệu quả
đầu t, môi trờng, thơng hiệu, hệ thống phân phối, thị trờng..... Để có đợc lợi thế này quốc gia doanh nghiệp phải sử
dụng triệt để và có hiệu quả các nguồn lực tự nhiên, đồng thời
còn phải đầu t không ngừng cho quá trình tiếp cận cái mới, cải
thiện môi trờng kinh tế, môi trờng đầu t tạo ra lợi thế tiềm
năng làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
12
Hệ
số
cạnh
tranh:
RCA
(Revealed
Comparetive
advantage): Hệ số lợi thế so sánh hiển thị hay lợi thế so sánh
trông thấy. Phản ánh vị trí đạt đợc của một sản phẩm hoặc
một ngành, một quốc gia trên thị trờng thế giới.
Công thức tính hệ số cạnh tranh.
RCA =
kÐm lîi thÕ nhiÒu h¬n.”
Như vậy các quan điểm hiện đại về lợi thế so sánh là sự kế tục và phát
triển của tư tưởng về “lợi thế so sánh tuyệt đối” của A.smith và “học thuyết về
lợi thế so sánh” của Đ.Ricardo. Nó đã giải thích được quá trình hoạt động của
các quan hệ kinh tế quốc tế của các chủ thể, thông qua phân loại, phân tích, xác
định về mặt định tính cũng như định lượng về số lượng lợi nhuận thu được trong
thực hiện trao đổi thương mại quốc tế, kể cả những quốc gia đó không có lợi thế
tuyệt đối. Các tư tưởng, học thuyết, quan điểm về lợi thế so sánh đều là kết quả
phản ánh sự vận động, phát triển của quá trình trao đổi thương mại quốc tế. Nó
vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến hoàn thiện và trở thành vấn đề trung
tâm của các lý thuyết, các học thuyết kinh tế về kinh tế đối ngoại với tư cách là
phân ngành của kinh tế học. Nhận thức và vận dụng đúng đắn các nội dung về
lợi thế so sánh là điều kiện, tiền đề để các quốc gia, dân tộc xây dựng chủ
trương, đường lối, chính sách, mục tiêu, phương hướng, biện pháp...trong quá
trình tham gia các hoạt động kinh tế quốc tế, cũng như xác định mô hình phát
triển của nền kinh tế đất nước và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
2. Ý nghĩa của lý luận về lợi thế so sánh đối với việc nhận thức về các
lợi thế của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao
cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế
thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN) thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được
bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (năm 1986) và ngày càng được hoàn thiện. Đồng
thời cũng là quá trình đất nước từng bước tham gia hội nhập kinh tế quốc tế ngày
càng sâu rộng cả về qui mô và cấp độ. Thực tiễn hơn 20 năm đổi mới và phát
triển nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã chứng minh rằng, vai trò to lớn của việc
14
vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc, dài 1.650 km theo hướng bắc nam, phần rộng
nhất trên đất liền dài chừng 500 km; nơi hẹp nhất dài gần 50 km. Việt Nam có ba
mặt Đông, Nam và Tây-Nam trông ra biển với bờ biển dài 3.260 km, từ Móng
Cái ở phía Bắc đến Hà Tiên ở phía Tây Nam. Phần Biển Đông thuộc chủ quyền
Việt Nam mở rộng về phía Đông và Đông Nam, có thềm lục địa, các đảo và quần
đảo lớn nhỏ bao bọc. Chỉ riêng Vịnh Bắc Bộ đã tập trung một quần thể gần 3.000
hòn đảo trong khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, các đảo Cát Hải, Cát Bà,
đảo Bạch Long Vĩ... Xa hơn là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phía Tây Nam và Nam có các nhóm đảo Côn Sơn, Phú Quốc và Thổ Chu. Việt Nam nằm
ở vị trí trung tâm Đông Nam Á, có thể dễ dàng qua lại cả Trung Quốc lẫn các
nước ASEAN và có thể trở thành một đối tác sản xuất chặt chẽ cho cả hai. Với
những ưu thế đó chúng ta có thể phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận
tải cho nền kinh tế như: Xây dựng hệ thống cảng biển nước sâu làm vị trí trung
chuyển hàng hoá. Kết nội hệ thống đường bộ, đường sắt xuyên Á. Thiết lập các
tuyến đường hàng không tới các nước đông nam á và khu vực Châu Á- Thái
Bình Dương. Là cửa ngõ để xâm nhâm vào thị trường khối ASEAN, vào Đông
Á và Châu Á, cũng như các khu vực kinh tế năng động khác...Đây là những lợi
thế vượt trội của Việt Nam so với các nước ASEAN trong việc thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài cũng như hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá.
Thứ hai; Việt Nam có môi trường chính trị - xã hội ổn định, đây là lợi thế
vượt trội so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong các nội dung của
quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt là đầu tư quốc tế, thì môi trường chính trị xã hội
ổn định là tiêu chí số một được các nhà đầu tư quan tâm. Việt Nam được đánh
giá là nước có môi trường chính trị và xã hội ổn định so với các nước khác trong
khu vực. Tổ chức Tư vấn Rủi ro Kinh tế và Chính trị (PERC) tại Hồng Kông xếp
Việt nam ở vị trí thứ nhất về khía cạnh ổn định chính trị và xã hội sau sự kiện 11
tháng Chín. So với các nước ASEAN khác như In-đô-nê-xi-a, Mã-lai-xi-a, Phi16
lực có chất lượng cao, thông qua chương trình đào tạo trong nước cũng như cử
cán bộ, người lao động sang nước ngoài học tập, tiếp thu công nghệ mới và kinh
nghiệm của nước ngoài, đã tạo nên bước chuyể biến vượt bậc về lượng và chất
của nguồn nhân lực quốc gia. Đây chính là những lợi thế của Việt Nam để thu
hút các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đầu tư ngày càng tăng cả về diện và
lượng.
Thứ tư; lợi thế từ nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của Việt Nam.
Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú để phát triển kinh tếnhư; đất, khoáng sản, nước...
Về tài nguyên đất: Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có độ phì cao, thuận lợi
cho phát triển nông, lâm nghiệp. Hiện nay chúng ta đã có những mặt hàng thế
mạng mang tính thương hiệu cao như; gạo, cà fê, ca cao, hồ tiêu, điều, cao su...
Ngoài ra Việt Nam có hệ thực vật phong phú, đa dạng (khoảng 14 600 loài thực
vật). Thảm thực vật chủ yếu là rừng rậm nhiệt đới, gồm các loại cây ưa ánh sáng,
nhiệt độ lớn và độ ẩm cao. Việt Nam đã giữ gìn và bảo tồn một số vườn quốc gia
đa dạng sinh học quý hiếm như Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn (khu vực núi
Phan-xi-păng, Lào Cai), Vườn quốc gia Cát Bà (Quảng Ninh), vườn quốc gia Cúc
Phương (Ninh Bình), vườn quốc gia Pù-mát (Quảng Bình), vườn quốc gia Phong
Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình), vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), vườn
quốc gia Côn Đảo (đảo Côn Sơn, Bà Rịa-Vũng Tàu), vườn quốc gia Cát Tiên
(Đồng Nai)… Các vườn quốc gia này là nơi cho các nhà sinh học Việt Nam và thế
giới nghiên cứu khoa học, đồng thời là những nơi du lịch sinh thái hấp dẫn.
Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú. Việt Nam là một quốc gia có
nhiều chủng loại khoáng sản và có nhiều khoáng sản quí như: thiếc, kẽm, bạc,
vàng, angtimoan, đá quí, than đá, ở thềm lục địa có nhiều dầu mỏ, khí đốt. Nước
cũng được xem là nguồn tài nguyên mà chúng ta có lợi thế, nếu tính cả lượng
nước sản sinh từ nước ngoài thì mức đảm bảo nước trung bình cho một người
18
trường truyền thống và tích cực xâm nhập các thị trường mới như Nhật bản, Mỹ,
EU... Với những thành công bước đầu về hội nhập kinh tế quốc tế mà Đảng và
Nhà nước ta đã xác định trong thời gian qua, chúng ta tin tưởng rằng đến năm
2020, nước ta cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp, thực hiện thắng lợi
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thứ sáu; Việt Nam có điêù kiện tiếp thu những kinh nghiệm của các nước
đi trước trong khu vực và trên thế giới về hội nhập kinh tế quốc tế. Với lợi thế là
một nước đi sau chúng ta có điều kiện tham khảo những thành công và hạn chế
của các nước đi trước như Trung Quốc. Singapo, Thái lan, Hàn quốc,
Inđônêxia... về xác định mô hình phát triển kinh tế, hoạch định chính sách, cơ
cấu kinh tế, lựa chọn công nghệ, xây dựng thị trường, xây dựng chiến lược cạnh
tranh...Việt Nam có thể vượt qua các trở ngại để phát triển kinh tế quốc tế nhờ
kinh nghiệm quý báu này.
Như vậy trong quá trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam có
những lợi thế nhất định so với đối tác nước ngoài. Việc vận dụng, khai thác hiệu
quả các lợi thế đó là điều kiện tiên quyết để nâng cao khả năng cạnh tranh của
hàng hoá trên thị trường. Tuy nhiên chúng ta cần nhận thức thấu đáo rằng lợi thế
so sánh chỉ là tiềm năng, được nhận thức thông qua tư duy lý luận và được biểu
hiện thông qua hoạt động thực tiễn sản xuất kinh doanh, mức độ của nó được xác
định thông qua chỉ số cạnh tranh. Những lợi thế của Việt Nam có được chỉ là
“lợi thế so sánh tĩnh”, nó chỉ có tác dụng trong một thời gian nhất định, đối với
một số loại hàng hoá trong những điều kiện cụ thể. Do vậy, Việt Nam cần nắm
bắt các biến động của kinh tế quốc tế, năng lực hiện có của nền kinh tế để khai
thác, vận dụng một cách có hiệu quả nhất các lợi thế của mình. Về lâu dài Việt
Nam cần tập trung xây dựng hệ thống “lợi thế so sánh động” thông qua các chiến
lược đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Đảng và Nhà nước.
Đây chính là chìa khoá, là cơ sở tiền đề quan trọng để Việt Nam tham gia quan
20
huống nào, bất cứ đội tượng nào, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống
nhất toàn vẹn lãnh thổ.
Đối với mỗi chúng ta trong quá trình học tập nghiên cứu tại học viện, để
hoàn thành được yêu cầu cao về nội dung chương trình đào tạo, cần phát huy
được lợi thế từ những kinh nghiệm đã tích luỹ trong quá trình công tác, sức mạnh
của môi trường sư phạm quân sự trong tổ chức, duy trì, thực hiện nội dung học
tập, nguồn tài liệu tri thức, phong phú, được bảo đảm chế độ trong quá trình học
tập....Đó là những lợi thế mà mọi người đều bình đẳng nhưng để biến những lợi
thế đó thành hiện thực lại phụ thuộc rất nhiều vào khả năng hoạt động thực tiễn
của cái nhân trong xác định phương pháp học tập; phương pháp tiếp cận, xử lý,
phân tích thông tin từ nguồn tri thức nhân loại thành kiến thức của riêng mình;
phương pháp khắc phục cũng như thái độ tiếp nhận khó khăn từ điều kiện cuộc
sống, hoàn cảnh gia đình, khả năng nhận thức có hạn của bản thân...để hoàn
thành nhiệm vụ. Đây chính là lợi thế thuộc về cá nhân học viên.
KẾT LUẬN
Lý luận về lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế là sự kế tục phát
triển các quan điểm, tư tưởng, học thuyết; phản ánh các giai đoạn phát triển của
nền sản xuất hàng hoá nói chung và thương mại quốc tế nói riêng, thông qua
hoạt động nghiên cứu lý luận của các đại biểu ở từng thời kỳ lịch sử khác nhau.
Đó là kết quả khái quát từ việc phân tích hoạt động trao đổi thương mại giữa các
quốc gia có những điều kiện tự nhiên, văn hoá lịch sử, chính trị xã hội, trình độ
kỹ thuật công nghệ...khác nhau để tìm ra những hàng hoá vượt trội về khả năng
cạnh tranh nhằm đạt được lợi nhuận tối đa cho chủ thể kinh tế. Tuy nhiên lợi thế
so sánh của một quốc gia lại tồn tại khách quan, gắn liền với điều kiện sản xuất,
lịch sử, chính trị xã hội cũng như hiện trạng mối quan hệ kinh tế của quốc gia đó
với các nước khác. Việc nhận thức, khai thác các lợi thế so sánh đó phụ thuộc rất
22
lớn vào đường lối, quan điểm, chính sách phát quan hệ triển kinh tế quốc tế của