ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------***------------
PHAN ĐÌNH QUANG
XÁC ĐỊNH MỨC Ô NHIỄM CÁC HỢP CHẤT PEFLO HÓA (PFCs)
TRONG CÁ NUÔI THẢ TẠI MỘT SỐ HỒ THUỘC KHU VỰC HÀ NỘI
VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƢỜI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------***------------
PHAN ĐÌNH QUANG
XÁC ĐỊNH MỨC Ô NHIỄM CÁC HỢP CHẤT PEFLO HÓA (PFCs)
TRONG CÁ NUÔI THẢ TẠI MỘT SỐ HỒ THUỘC KHU VỰC HÀ NỘI
VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƢỜI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60440301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Lê Hữu Tuyến
PGS.TS. Nguyễn Thị Loan
1.5.4.2. Đánh giá phơi nhiễm .............................................................................................21
1.5.4.3. Đánh giá độ độc hay phân tích liều phản ứng .....................................................22
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CƢ́U ................... 25
2.1. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu .................................................................... 25
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu: ................................................................................... 25
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu: ...................................................................................... 25
2.3.3.3. Phân tích mẫu ........................................................................................................29
2.3.3.4. Kiểm soát chất lượng quy trình phân tích ............................................................30
2.3.4. Phương pháp phân tích sắc ký lỏng khối phổ - khối phổ LC-MS/MS và
điều kiện thiết bị LC-MS/MS 8040 của Shimadzu .................................................. 31
2.3.4.1. Hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) ......................................................31
2.3.4.2. Detectơ khối phổ (MS)...........................................................................................32
2.3.4.3. Điều kiện phân tích của thiết bị LC-MS/MS 8040, Shimadzu ............................32
2.3.5. Phương pháp đánh giá và xử lý số liệu ......................................................... 33
2.3.6. Phương pháp đánh giá rủi ro sức khỏe (HRA)................................................ 34
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CƢ́ U VÀ THẢO LUẬN .............................. 35
3.1. Các thông số của các mẫu cá ........................................................................... 35
3.2. Đánh giá mƣ́c đô ̣ ô nhiễm các hơ ̣p chấ t PFCs trong cá t ại một số hồ thuộc
khu vực Hà Nội ........................................................................................................ 39
3.2.1. Kết quả hàm lượng các hợp chất PFCs trong cá ở khu vực hồ Yên Sở ...... 40
3.2.2. Hàm lượng các hợp chất PFCs trong cá thu thập tại hồ Tây ...................... 42
3.2.3. Đánh giá hàm lượng PFCs trong cá giữa các hồ khảo sát .......................... 45
3.2.4. Đánh giá hàm lượng các hợp chất PFCs trong các loại cá khác nhau ....... 47
3.2.6. Đánh giá hàm lượng các hợp chất PFOS trong các loại cá thu thập tại khu
vực Hà Nội ................................................................................................................ 49
3.2.7. Đánh giá hàm lượng các hợp chấ t PFCs tích lũy trong cáàvmôi trường sống 50
3.2.8. So sánh hàm lượng các hợp chất PFC trong cá thu thập tại Hà Nội và một
số báo cáo trên thế giới ............................................................................................. 51
Hình 2.3. Sắc đồ các hợp chất PFCs bơm trên máy LC-MS/MS .............................. 30
Hình 2.4. Sơ đồ cấu tạo thiết bị LC-MS/MS ............................................................. 31
Hình 3.1. Bản đồ vị trí lấy mẫu cá ta ̣i Hà Nô ̣i ........................................................... 37
Hình 3.2. Tổng hàm lượng các hợp chất PFCs trong mô thịt cá thu thập tại hồ Yên
Sở ............................................................................................................................... 40
Hình 3.3. Tổng hàm lượng các hợp chất PFCs trong mô gan cá thu thập tại hồ Yên
Sở ............................................................................................................................... 41
Hình 3.4. Tổng hàm lượng các hợp chất PFCs trong máu cá thu thập tại hồ Yên Sở42
Hình 3.5. Tổng hàm lượng các hợp chất PFCs trong mô thịt cá thu thập tại hồ Tây 43
Hình 3.6. Tổng hàm lượng các hợp chất PFCs trong mô gan cá thu thập tại hồ Tây 44
Hình 3.7. Tổng hàm lượng các hợp chất PFCs trong máu cá thu thập tại hồ Tây .... 45
Hình 3.8. Tổng hàm lượng trung bình các hợp chất PFCs trong mô thịt và mô gan cá
ở hồ Yên Sở và hồ Tây .............................................................................................. 46
Hình 3.9. Tổng hàm lượng trung bình các hợp chất PFCs trong máu cá ở hồ Yên Sở
và hồ Tây ................................................................................................................... 47
Hình 3.10. Tổng hàm lượng trung bình các hợp chất PFCs trong các loại cá khảo sát
ở hồ Yên Sở và hồ Tây .............................................................................................. 48
Hình 3.11. Sự phân bố của các hợp chất PFCs trong cá ........................................... 49
Hình 3.12. Hàm lượng của hợp chất PFOS trong cá ................................................. 50
Hình 3.13. So sánh hàm lượng PFCs trong cá và môi trường nước .......................... 51
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ADI
Liều tiếp nhận có thể chấp nhận được (Average daily intake)
ERA
Đánh giá rủi ro môi trường (Environment Risk)
Đánh giá độ an toàn (Formal Safety Assessment)
HR
Hệ số nguy hại (Hazard ratio)
HRA
Đánh giá rủi ro sức khỏe (Health Risk Assessment)
HTXL
Hệ thống xử lý
KPHT
Không phát hiện thấy
IRA
Đánh giá rủi ro công nghiệp (Industrial Risk Assessment
NJDEP
Cục bảo vệ môi trường New Jersey, Hoa Kỳ (New Jersey Department
of Environmental Protection)
PFAAs
PFASs
Muối peflodecansunfonat (Perfluorodecanesulfonate)
PFHpA
Axit pefloheptanoic (Perfluoroheptanoic acid)
PFHxA
Axit peflohexanoic (Perfluorohexanoic acid)
PFHxDA Axit peflohexadecanoic (Perfluorohexadecanoic acid)
PFHxS
Muối peflohexansunfonat (Perfluorohexanesulfonate)
PFNA
Axit peflononanoic (Perfluorononanoic acid)
PFOA
Axit peflooctanoic (Perfluorooctanoic acid)
PFODA
Axit peflooctadecanoic (Perfluorooctadecanoic acid)
PFOS
POPs
Các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững (Persistent Organic Polutants)
PTFE
Polytetrafloetylen (Polytetrafluoroethylene)
QLRR
Quản lý rủi ro
QRA
Đánh giá định lượng rủi ro (Quatitative Risk Assessment)
RfD
Liều tham chiếu (Refrences Dose)
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Lê Hữu Tuyến và
PGS.TS. Nguyễn Thị Loan đã giao đề bài, quan tâm hướng dẫn và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Em xin trân trọng cảm ơn Đề tài Nhiệm vụ Khoa học Công nghệ cấp Đại học
Quốc gia Hà Nội năm 2016, mã số: QG.16.11 do TS. Lê Hữu Tuyến chủ trì đã hỗ
trợ kinh phí để thực hiện luận văn này.
(PFOSF) đã được thêm vào danh mục các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững (POPs) tại Phụ
lục B của Công ước Stockholm vì tính bền vững, tích luỹ sinh học và tồn tại lâu dài
trong môi trường cũng như những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ con người [36].
Cũng như một số nước đang phát triển, Việt Nam có những lo ngại về sự gia
tăng ô nhiễm hoá học do sự phát triển công nghiệp nhanh chóng và thiếu kiểm soát hoá
chất có hiệu quả cũng như yếu kém trong việc qu ản lý chất thải đã tác động rất nghiêm
trọng đến môi trường thuỷ sinh, hầ u như toàn bô ̣ nư ớc thải sinh hoa ̣t đư ợc thải trực
tiế p vào nguồn nước mà không qua xử lý. Nước thải từ nguồ n tiếp nhận được sử dụng
cho tưới tiêu và nuôi trồng thủy sản đã vô tình làm tăng khả năng tích lũy của các h ợp
chất hữu cơ bền vững trong các hệ sinh thái thuỷ sinh cũng như ch ất lượng nước mặt.
Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấ y s ự có mặt c ủa PFOS và axit peflorotaonic
(PFOA) trong nước ở nồng độ thấp tại Hà Nội (ng/L - nano gam trên lít) [31].
Trong những năm gần đây, Hà Nội đang trong tiến trình đô thị hóa, công nghiệp
hóa với tốc độ nhanh, điều đó cũng kéo theo môi trường Hà Nội bị ô nhiễm và suy
thoái nghiêm trọng. Khi dân số ngày càng gia tăng, lượng chất thải sinh hoạt ngày
càng lớn. Hệ thống cấp thoát nước chưa được hoàn chỉnh và xuống cấp không đáp ứng
được nhu cầu thoát nước thải của thành phố Hà Nội. Nước thải sinh hoạt của người
dân không được xử lý, đưa thẳng ra môi trường qua các sông, hồ như Tô Lịch, sông
1
Nhuệ, sông Sét, sông Kim Ngưu, hồ Tây, hồ Yên Sở dẫn đến các sông hồ này bị ô
nhiễm nghiêm trọng, bốc mùi hôi thối. Do đó, các loài thủy sinh tại đây cũng chịu tác
động và ảnh hưởng của các chất ô nhiễm rất cao.
Hồ Tây được xem là lá phổi của thành phố Hà Nội, với diện tích rộng hơn 500
hecta nằm ở phía Tây Bắc trung tâm thành phố Hà Nội. Hồ Tây là nơi chứa nước thải
khu vực dân sống xung quanh hồ, kết hợp là môi trường cảnh quan, vừa là nơi điều tiết
nước mưa và nuôi cá. Các hoạt động nuôi cá và khai thác sử dụng làm nguồn thực
phẩm trong bữa ăn hàng ngày cho người dân khu vực Hà Nội. Các loại cá phổ biến ở
hai khu vực này bao gồm các loại cá nước ngọt như cá chép, cá mè, cá trôi và rô phi.
PFCs được tìm thấy trong môi trường nước, không khí, đất và sinh vật. Do tính chất phân
cực nên các hợp chất PFCs có thể hòa tan trong nước, vì vậy nước uống cũng được tính là
một nguồn có nguy cơ tiếp xúc đưa PFCs đến cơ thể con người. Người ta còn tìm thấy
một số PFCs trong mô sinh vật thủy sinh như PFOS, PFNA [34]. Nhóm hợp chất PFCs
được chia làm hai loại chính là các axit peflo-cacboxylic (PFCAs) và các ankylsunfonat
được poly flo hóa (PFASs).
- Các axit peflo-cacboxylic (PFCAs) với độ dài chuỗi cacbon bắt đầu từ C6 trở
lên, bao gồm axit peflo-octanoic (PFOA) và các đồng đẳng của nó.
- Các ankylsunfonat được poly flo hóa (PFASs) với chuỗi cacbon bắt đầu từ C4
trở lên, bao gồm muối peflo-octansunfonat (PFOS) và các đồng đẳng của nó.
3
Bảng 1.1. Danh sách các hợp chất PFCs quan tâm trong nghiên cứu này
STT
Tên hợp chất
Tên viết tắt
Công thức
phân tử
1
Axit peflobutanoic
PFBA
PFOA
C8F15COOH
6
Axit peflononanoic
PFNA
C9F17COOH
7
Axit peflodecanoic
PFDA
C10F19COOH
8
Axit pefloundecanoic
PFUdA
C11F21COOH
9
13
Axit peflooctadecanoic
PFODA
C18F35COOH
14
Muối peflobutansunfonat
PFBS
C4F9SO3-
15
Muối peflohexansunfonat
PFHxS
C6F13SO3-
16
Muối peflooctansunfonat
PFOS
nhiệt độ cao trên các bề mặt tiếp xúc với axit mạnh [18].
5
Với sự phổ biến và tính độc hại của hợp chất chất PFOS và muối của nó đã
có mặt trong nhiều công ước quốc tế: năm 2009, PFOS và các muối của nó được
thêm vào phụ lục B của công ước Stockholm về các hợp chất hữu cơ khó phân hủy
(POPs) [36]. Năm 2010, tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã có cuộc
khảo sát về các sản phẩm có chứa hợp chất PFCs và lượng phát thải ra môi trường
của chúng. Cơ quan bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) đã cấm sản xuất và sử dụng
PFOS cũng như các đồng đẳng và các muối của nó kể từ năm 2001 [13]. Trong
chương trình quản lý toàn cầu về axit peflo-octanoic (PFOA) và các hóa chất liên
quan, các ngành công nghiệp cam kết giảm phát thải PFOA và các hóa chất liên
quan xuống 95% trước năm 2010, cùng với việc hướng tới loại bỏ tổng PFOA trong
phát thải cũng như trong sản phẩm trước năm 2015 [16].
Việt Nam tham gia vào Công ước Stockholm từ ngày 22 tháng 7 năm 2002,
trở thành thành viên thứ 14 trong tổng số 172 nước ký tham gia Công ước tính đến
nay. Công ước Stockholm ra đời với mục đích để bảo vệ sức khoẻ con người và
môi trường trước các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy. Các chất ô nhiễm hữu cơ
khó phân hủy hay các chất POPs là các hoá chất hữu cơ độc hại, tồn tại bền vững
trong môi trường, có khả năng phát tán rộng, tích lũy sinh học trong các hệ sinh
thái trên cạn và dưới nước, gây hủy hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người và
môi trường. Trong đó các hợp chất PFCs được biết đến là những hợp chất POPs
mới (new POPs) và đang được Tổng cục Môi trường Việt Nam xây dựng Kế hoạch
hành động quốc gia thực hiện kiểm kê các hợp chất PFOS và các muối của chúng
trong các sản phẩm tiêu dùng và trong môi trường. Tuy nhiên, việc kiểm kê các hợp
chất PFCs yêu cầu phòng thí nghiệm có năng lực cao và hệ thống phân tích hiện
đại. Theo tác giả được biết, hiện nay tại Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Công
nghệ Môi trường và Phát triển Bền vững (CETASD) là đơn vị duy nhất có đầy đủ
năng lực thực hiện việc phân tích xác định các hợp chất PFCs trong các mẫu môi
kể đến nhiều hệ thống cơ quan và các con đường trao đổi chất. Ví dụ, cả PFOS và
PFOA gây ra gan, tuyến vú và khối u tuyến tụy. PFOS cũng gây ra các khối u tuyến
giáp trong khi PFOA gây ra các khối u tinh hoàn. Ngoài ra, PFOS và PFOA cũng là
nguyên nhân gây tử vong ở con non với liều lượng mà liều đó không ảnh hưởng đến tỷ
lệ tử vong của động vật trưởng thành. PFOS đã được nghiên cứu có thể gây ra suy
tuyến giáp ở chuột non ở liều thấp nhất được thử nghiệm. Suy tuyến giáp bẩm sinh là
yếu tố nguy cơ quan trọng cho sự phát triển não bộ.
PFCs có thể gây tử vong ở động vật thí nghiệm ở liều thấp hơn nhiều so với hầu
hết các hóa chất công nghiệp độc hại khác. Ví dụ, hàm lượng PFOS gây ra tỷ lệ tử
7
vong đáng kể ở loài khỉ lớn khi tiếp xúc với 0,75 mg/kg-ngày cho đến 26 tuần. Liều
PFOS với 4,5 mg/kg-ngày gây chết 100 % ở khỉ chỉ trong vòng 7 tuần [22]. Liều phơi
nhiễm PFOA với 3 mg/kg-ngày trong 26 tuần cũng có thể gây tử vong ở khỉ [33].
Trong khi đó, khỉ có thể sống khi cho phơi nhiễm với 20 mg/kg/d dicloro diphenin
triclorotan trong 130 tháng [30].
PFOS và PFOA gây độc đối với thai động vật nhiều hơn so với động vật trưởng
thành. Liều lượng các PFCs này có thể gây chết thai động vật mà không gây chết động
vật bố mẹ [22, 32]. Cả hai PFOS và PFOA có thể gây ra các khối u của gan, tuyến vú
và tuyến tụy ở chuột [22, 7, 32]. Các khối u tuyến tụy gây ra bởi PFOS gây ra ung thư
biểu mô tế bào tiểu đảo, trong khi PFOA gây u tuyến tế bào tụy [32]. Ngoài ra, PFOS
cũng gây ra u tuyến tế bào nang tuyến giáp [22, 7] và PFOA gây ra u tinh hoàn [32].
Sử dụng các nghiên cứu trên động vật trong phòng thí nghiệm để ước tính tiềm
năng gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người là rất khó khăn, trong trường hợp này để
thực hiện được điều đó còn khó khăn hơn bởi thực tế độc tính của các hợp chất PFCs
có sự khác biệt đáng kể giữa các loài động vật và thậm chí giữa các giới tính khác
nhau của cùng một loài [20]. Ví dụ, thời gian bán hủy của PFOA trong chuột đồng cái
(rat) là khoảng bốn giờ, trong khi ở các con chuột đực cùng một chủng là gần sáu
ngày. Ở những con chuột nhắt (mice), thời gian bán hủy được xem như dài hơn (17 19 ngày) nhưng tác động của giới tính ít được nhắc tới [26]. Ở con người, dữ liệu cho
còn lại chỉ được xử lý sơ bộ hoặc trong các bể tự hoại, các bể lắng trong các tuyến thoát
9
nước chung. Nước thải có chất dịch đen gồm các chất thải rất nguy hiểm đối với môi
trường và sinh vật như lignin, sunfua hữu cơ, axit béo và các hợp chất hữu cơ [5].
Hồ Yên Sở với diện tích 173 hecta, thuộc quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Hồ có hệ thống 5 hồ nhỏ thông nhau qua các kênh đào rộng 5 m nối các hồ với nhau.
Nước thải đô thị từ các con sông Kim Ngưu, Sét và Tô Lịch từ trung tâm thành phố Hà
Nội chảy vào hồ Yên Sở qua các đập tràn. Một bộ phận nước thải của sông Kim Ngưu
được xử lý qua hệ thống nhà máy xử lý nước thải Yên Sở đổ ra hồ Yên Sở. Tuy nhiên,
hệ thống đập tràn được thiết kế để khi lượng nước sông Kim Ngưu dâng lên, nước sẽ
chảy qua đập tràn đi vào hồ mà không qua xử lý. Gần đây, hệ thống khu đô thị khép
kín chung cư Gamuda được xây dựng quanh hồ và tiềm ẩn nước thải khu đô thị này sẽ
chảy vào khu vực hồ chứa xung quanh.
Nhìn chung các loại cá được nuôi phổ biến tại hồ Yên Sở như cá chép, cá mè,
cá trôi Ấn Độ và cá rô phi, trong đó cá rô phi phát triển tự nhiên trong hồ. Cá sau khi
thu hoạch được mang ra chợ cá Yên Sở, một trong chợ đầu mối thủy sản lớn nhất Hà
Nội tại quận Thanh Trì, Hà Nội. Từ đây, các tiểu thương nhập cá và mang đi tiêu thụ
chủ yếu tại các chợ bán lẻ trong trung tâm thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, những cá lớn
được thu hoạch và bán cho các tiểu thương còn những cá nhỏ như rô phi được cơ sở
nuôi trồng làm chả cá ngay tại chợ cá Yên Sở và cung cấp cho các nhà hàng tại Hà Nội
có nhu cầu.
Hồ Tây là hồ khá rộng lớn với diện tích hơn 500 hecta là hồ nước tự nhiên lớn
nhất ở quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Các loại cá phổ biến tại đây ngoài cá chép,
mè, trôi và rô phi, còn có cá trê, cá quả với số lượng ít, cá vàng do người dân thả cúng
vào các dịp lễ cũng được đánh bắt làm chả cá cung cấp thực phẩm cho người dân.
Hình thức đánh bắt cá chủ yếu là đánh bắt tỉa bằng phương pháp thả lưới. Hoạt động
khai thác cá tại đây diễn ra quanh năm với số lượng lớn được thực hiện bởi Xí nghiệp
hướng cao hơn hồ Tây và hàm lượng PFCs trong mùa mưa cao hơn so với mùa khô.
Điều này cũng đã được giải thích do thời điểm lấy mẫu vào đầu mùa mưa, do đó các
hợp chất PFCs trên các bề mặt thành phố Hà Nội được rửa trôi và đưa xuống hồ [31].
Theo khảo sát sơ bộ của tác giả, mỗi năm đơn vị khai thác cá hồ Tây bán ra thị
trường khoảng 400 tấn cá, lượng cá khai thác tại hồ Yên Sở vào khoảng 20 tạ mỗi
ngày. Cá thu hoạch được bán cho người dân và sử dụng làm thức ăn nên có nguy cơ
cao phơi nhiễm các hợp chất PFCs đến sức khỏe con người.
1.4. Một số loại cá sống phổ biến tại khu vực nghiên cứu
Cá là loài động vật có xương sống, chủ yếu là động vật biến nhiệt và sống
dưới nước. Hiện người ta biết khoảng trên 31 900 loài cá, điều này làm chúng trở
thành nhóm đa dạng nhất trong số các động vật có xương sống. Về mặt phân loại
học, cá là một nhóm cận ngành mà quan hệ chính xác của nó còn gây tranh cãi
nhiều; sự phân chia phổ biến là chia chúng thành cá không hàm (siêu lớp Agnatha
với 108 loài), cá sụn (lớp Chondrichthyes với 970 loài, bao gồm các loại cá mập và
cá đuối), với lớp còn lại là cá xương (lớp Osteichthyes).
Một số loại cá phổ biến tại khu vực nghiên cứu và được tác giả lựa chọn
trong đánh giá hàm lượng các hợp chất PFCs là các loài cá nước ngọt gồm cá chép,
cá mè hoa (sau đây gọi là cá mè), cá trôi Ấn Độ (sau đây gọi là cá trôi) và cá rô phi.
1.4.1. Cá chép
Cá chép (tên khoa học là Cyprinus carpio) là một loài cá nước ngọt phổ biến
rộng khắp có quan hệ họ hàng xa với cá vàng và chúng có khả năng lai giống với
nhau. Tên gọi của nó cũng được đặt cho một họ là họ cá chép (Cyprinidae). Cá
chép có nguồn gốc ở châu Âu và châu Á và hiện nay sống phổ biến ở môi trường
nước ngọt trên toàn thế giới. Cá chép có thể lớn tới độ dài tối đa khoảng 1,2 mét và
cân nặng tối đa 37,3 kg cũng như tuổi thọ cao nhất được ghi lại là 47 năm. Những
giống cá chép sống trong tự nhiên hoang dã có xu hướng nhỏ và nhẹ hơn khoảng từ
20 - 33% các kích cỡ và khối lượng lớn nhất. Cá chép là loài cá đẻ trứng, một con
cá chép cái trưởng thành có thể đẻ tới 300 000 trứng trong một lần đẻ. Một số loại
cá chép như Koi là giống được nuôi làm cá cảnh có nguồn gốc từ Nhật Bản và
Trung Quốc. Loài cá này cũng được dùng rộng khắp trên thế giới như một loại thực
cám gạo, hạt ngũ cốc, các loại bèo dâu, bèo tấm, các loại rau. Cá trôi Ấn Độ có tốc
độ lớn nhanh, trong điều kiện ao nuôi có màu tối được bón phân và thức ăn đầy đủ,
1 năm thường đạt 0,5 – 1 kg.
13
1.4.5. Cá rô phi
Cá rô phi là tên gọi chỉ chung cho các giống cá thuộc họ Cichlidae gồm có
nhiều chủng, có nguồn gốc phát sinh từ châu Phi và Trung Đông. Một trong những
loài đặc hữu của họ cá này là Cá rô phi đỏ (Oreochromis), cá rô phi xanh
(Oreochromis aureus) và rô phi vằn (Oreochromis niloticus). Là loài cá có giá trị
kinh tế và thông dụng trong bữa ăn, cá rô phi được du nhập đi nhiều nơi và nhiều
loài đã trở thành loài xâm lấn.
So với các loài cá khác thì cá rô phi sớm gần gũi với đời sống của con người.
Những hình ảnh cá rô phi đã có ở các bức khắc trên đá trong các kim tự tháp của Ai
Cập. Cá rô phi cũng là loài cá được con người đưa vào nuôi đầu tiên vào năm 1924
và sau đó nuôi rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới vào những năm 1940 - 1950, nhất
là ở những nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, thời gian gần đây nuôi rô phi mới thực
sự phát triển mạnh mẽ trở thành một ngành nuôi có quy mô công nghiệp, cho sản
lượng thương phẩm lớn và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Cá rô phi sử dụng được hầu hết các loại thức ăn tự nhiên, mùn bã hữu cơ
trong ao nuôi, rô phi vừa có tác dụng tiêu diệt các loại động vật nhỏ mang mầm
bệnh vừa có tác dụng làm sạch môi trường và cho sản phẩm có giá trị. Khi còn nhỏ,
cá rô phi ăn sinh vật phù du (tảo và động vật nhỏ) là chủ yếu (cá 20 ngày tuổi, kích
thước khoảng 18 mm). Cá rô phi dễ nuôi và sống được ở những môi trường nước bị
ô nhiễm cao. Cá rô phi có thể sống ở môi trường nước ngọt, nước lợ (độ mặn tới 32
%o) và nước phèn nhẹ. Loại cá này có thể sống được ở những nguồn nước có hàm
lượng amôniắc tới 2,4 mg/lít và lượng oxy chỉ có 1 mg/lít, nhiệt độ từ 11oC - 42oC,
giới hạn pH đối với chúng từ 5-10.
Khi cá trưởng thành ăn mùn bã hữu cơ lẫn các tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng,
thể vì nó đảm trách cũng như điều hòa rất nhiều các phản ứng hóa sinh mà các phản
ứng này chỉ xảy ra ở một số tổ chức đặc biệt của cơ thể.
1.4.6.3. Mô thịt cá
Mô thịt (mô cơ) cá là một phần của hệ vận động. Mô cơ là một loại mô liên kết
trong cơ thể động vật. Mô cơ gồm ba loại: mô cơ vân, mô cơ tim và mô cơ trơn. Mô cơ
vân là cơ thường gắn với xương và vận động có ý thức. Mô cơ trơn và mô cơ tim là cơ
vận động vô thức, trong đó cơ trơn tạo nên thành nội quan như dạ dày, ruột, mạch máu
và cơ tim tạo thành tim.
Phần lớn các loài cá chuyển động bằng cách co các cặp cơ ở hai bên xương
sống một cách so le. Sự co cơ này tạo ra đường cong làm cơ thể cá chuyển động xuống
15