BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------------
HOÀNG MINH TUÂN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đình Hợi
Hà Nội, 2014
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển và hội nhập kinh tế quốc
tế. Trong những năm đổi mới vừa qua nền kinh tế nói chung và nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam nói riêng đã đạt được nhiều thành quả to lớn. Đảng và
Nhà nước luôn xác định sự phát triển của đất nước luôn gắn chặt với sự phát
giáo viên chưa thực sự đủ mạnh để có thể truyền nghề cho học sinh. Từ thực
tiễn công tác đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng, chúng ta có thể
nhận thấy một nghịch lý tồn tại hiện nay là "thừa thầy thiếu thợ", chưa kể tâm
lý học trung cấp rất khó tìm được việc làm, nếu có thì thu nhập cũng ở mức
rất thấp.
Công tác đào tạo nghề cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước,
của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng LĐ nói chung và
LĐNT nói riêng để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Đào tạo nghề cho LĐNT nhằm giải quyết 3 vấn đề lớn:
1. Nâng cao tỉ lệ LĐ qua đào tạo, trong đó đặc biệt quan tâm đến lực
lượng LĐNT.
2. Nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và đào tạo nghề cho LĐNT
nói riêng .
3. Chuyển dịch dần lực lượng LĐ nông nghiệp sang lực lượng phi nông
nghiệp.
Hiện nay với một số lượng LĐ lớn tập trung chủ yếu ở khu vực nông
thôn và tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp, để giải quyết tốt 3 vấn đề trên thì
các giải pháp hữu hiệu nhất vẫn là nâng cao chất lượng đào tạo nghề, mở rộng
các hình thức đào tạo nghề cho LĐNT, đặc biệt cần phải có các chính sách để
thu hút LĐNT tham gia các lớp đào tạo về nghề.
3
Hoà Bình là tỉnh miền núi nên việc phát triển các ngành nghề thuộc
lĩnh vực nông nghiệp vẫn là lĩnh vực sản xuất quan trọng của tỉnh, thu hút
nhiều LĐNT. Tuy nhiên, một bộ phận lớn LĐNT có xu hướng dôi dư do quy
hoạch các khu, cụm công nghiệp nhưng lại rất khó để có thể bố trí việc làm
cho họ, do số LĐ này chưa được định hướng về nghề cũng như đào tạo nghề
khi tham gia vào LĐ sản xuất phi nông nghiệp, số ít đã được đào tạo nghề thì
LĐNT ở tỉnh Hòa Bình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.2. Mục tiêu cụ thể.
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về đào tạo nghề và nâng cao chất
lượng đào tạo nghề cho LĐNT trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào
tạo nghề cho LĐNT của tỉnh Hòa Bình thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
nghề cho LĐNT ở tỉnh Hòa Bình trong những năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nâng cao chất lượng đào tạo nghề
cho LĐNT.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Phạm vi về nội dung: Nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề cho
LĐNT.
+ Phạm vi về không gian: Tại tỉnh Hòa Bình.
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2012
4. Nội dung nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào
tạo nghề cho LĐNT ở tỉnh Hòa Bình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
- Thực trạng công tác đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo
nghề cho LĐNT tỉnh Hòa Bình trong những năm qua.
- Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT tỉnh
Hòa Bình.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ
Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra xong chưa được thống
nhất, chẳng hạn có định nghĩa nêu: Nghề là một tập hợp LĐ do sự phân công
LĐ xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương
đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do
nhu cầu xã hội. Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác
nhau song chúng ta có thể thấy một số nét đặc trưng nhất định; Nghề là hoạt
động, là công việc LĐ của con người được lặp đi lặp lại; Nghề là sự phân công
là động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội; Nghề là phương tiện để sinh sống;
Nghề là LĐ kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi
hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định.
Nghề trong giai đoạn hiện nay biến đổi một cách mạnh mẽ và nó được
gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đất nước.
Như vậy, nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử phổ biến, gắn chặt với
sự phân công LĐ, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại.
b. Khái niệm đào tạo nghề.
Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo nghề. Một số nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái niệm:
Đào tạo là một lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường
nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục cho học sinh, sinh viên. Đây là công
việc kết nối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, tổ chức
thực hiện chương trình và các vấn đề liên quan đến tuyển sinh, đào tạo, giám
sát, đánh giá, kiểm tra, tổ chức thực tập, thi tốt nghiệp cùng các quy trình
đánh giá khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng ở lĩnh
vực đào tạo chuyên nghiệp ở các cơ sở đào tạo nghề nghiệp.
Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm
thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp
ứng tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn.
Trong thực tế đào tạo nghề cho LĐNT được tiến hành linh hoạt dưới
8
nhiều hình thức khác nhau, như dạy nghề tại các cơ sở dạy nghề, dạy nghề
theo đơn đặt hàng của các DN, dạy nghề lưu động tại địa phương, dạy nghề
tại DN… trong đó dạy nghề nông nghiệp, phi nông nghiệp cho LĐNT được
tiến hành theo hai hình thức chủ yếu sau:
* Đào tạo nghề ngắn hạn (Dạy nghề thường xuyên).
+ Thời gian: Dưới 3 tháng
+ Đối tượng: LĐNT trong độ tuổi LĐ có nhu cầu học
nghề, có trình độ học vấn, sức khoẻ phù hợp với nghề cần học.
+ Nội dung: Gồm cả lý thuyết và thực hành, trong đó thực hành là chủ
yếu ( Phương châm cầm tay chỉ việc)
* Tập huấn kỹ thuật:
+ Đối tượng: LĐNT đang trực tiếp tham gia sản xuất nông
nghiệp, thiếu kiến thức KHKT, thiếu kiến thức quản lý, kinh doanh;
+ Nội dung: Tập huấn quy trình trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ
hải sản, tập huấn quy trình phòng trừ dịch bệnh, kinh nghiệm hay trong
quá trình sản xuất…
+ Thời gian: Linh hoạt theo mùa vụ, từ 1-2 ngày.
* Toạ đàm trao đổi kiến thức:
+ Đối tượng: Những lao đông ở nông thôn có nhu cầu cùng nói chuyện
với nhau về một vấn đề gì đó, thường là để nhằm truyền bá một tư tưởng nào đó.
+ Nội dung: Trao đổi về kiến thức khoa học kỹ thuật trồng trọt, chăn
nuôi, hay kiến thức về phát triển kinh tế xã hội…
Thời gian: Lúc nông nhàn. Từ 1-5 ngày.
1.1.1.3. Nội dung đào tạo nghề cho LĐNT.
Trong “Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11” được Quốc hội nước Cộng
- Thí điểm các mô hình dạy nghề cho LĐNT;
- Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề đối với các cơ sở
dạy nghề công lập;
10
- Phát triển chương trình, giáo trình, học liệu và xây dựng danh mục
thiết bị dạy nghề;
- Phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề;
- Hỗ trợ LĐNT học nghề.
1.1.1.4. Đặc điểm của đào tạo nghề cho LĐNT.
Là LĐ sống ở nông thôn, chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành
nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất đặc thù của ngành nông nghiệp nên
hoạt động đào tạo nghề cho LĐNT có những đặc điểm riêng biệt khác với các
lĩnh vực khác. Đó là:
Một là: Đối tượng đào tạo.
Đối tượng đào tạo là những người LĐ sống ở nông thôn, chủ yếu là sản
xuất nông nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp gắn với sản xuất nông
nghiệp và kinh tế nông thôn nên ngoài những ưu điểm như cần cù, chịu khó,
ham học hỏi, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất thì đại đa số nông dân
trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cũng như trình quản lý kinh doanh và khả
năng tiếp cận thì trường thấp; Phần đông nông dân nước ta còn mang nặng tư
tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và
thiếu năng động.
Đối với các vùng nông thôn ở nước ta hiện nay phần lớn nông dân còn
nghèo nên khả năng đầu tư cho việc học hành rất khó khăn, hạn chế. Với đối
tượng đào tạo là LĐNT như vậy nên đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải tìm ra các
hình thức đào tạo thích hợp và nhà nước phải ban hành và thực hiện nhiều
chính sách ưu đãi đối với người học
hiện tại cơ sở sản xuất, như tập huấn tại đồng ruộng (tập huấn đầu bờ), tại
chuồng trại chăn nuôi, ao ruông nuôi trồng thủy sản.v.v.
Năm là, về sử dụng LĐ sau đào tạo.
LĐ sau ĐTN ở nông thôn chủ yếu phục vụ cho sản xuất, kinh doanh
của chính bản thân họ và gia đình họ. Vì vậy, việc lựa chọn nghề cần đào tạo
12
và phương thức đào tạo phải thích hợp với nhu cầu người học ở từng địa
phương, tránh tình trạng các địa phương khác nhau về ngành nghề sản xuất,
nhưng ngành nghề đạo tạo lại giống nhau gây lãng phí cho người học.
1.1.2. Chất lượng đào tạo nghề LĐNT.
1.1.2.1. Khái niệm chất lượng đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề.
- Khái niệm chất lượng đào tạo nghề:
Chất lượng đào tạo nghề đối với LĐNT chính là sự phù hợp với mục
tiêu đề ra qua sự đánh giá của các đối tượng tham gia vào quá trình đào tạo
nghề đối với LĐNT. Bao gồm: Chính những cơ sở đào tạo đánh giá, thị trường
LĐ, cơ sở sử dụng LĐ đánh giá, hoặc vận dụng kiến thức vào thực tế để tăng
năng suất LĐ của người nông thôn được đào tạo.
Việc có đạt được mục tiêu hay không thể hiện khả năng tập hợp kiến
thức nghề nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ nghề nghiệp của người
nông thôn sau quá trình học nghề. Quá trình ĐTN đối với LĐNT có chất
lượng sẽ bảo đảm cho những nông thôn tích lũy và hình thành nên phẩm chất
và năng lực mới để hoàn thành công việc hiện tại một cách tốt hơn hoặc thích
ứng và làm được những công việc mới có hiệu quả.
Do đó, chất lượng ĐTN đối với LĐNT cũng có thể được nhìn nhận
như là sự tổng hòa những phẩm chất và năng lực tạo nên trong quá trình đào
tạo bồi dưỡng cho người học so với thang chuẩn giá trị của Nhà nước hoặc xã
hội quy định.
một cách tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường LĐ, của xã hội đối
với kết quả đào tạo. Đồng thời chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh cả kết
quả đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề và hệ thống đào tạo nghề.
* Các tiêu chí đánh giá chất lượng.
14
Một số quan điểm cho rằng “Chất lượng một cơ sờ đào tạo phụ thuộc
vào chất lượng hay số lượng đầu vào của cơ sở đó”. Quan điểm này được gọi
là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là:
Nguồn lực = chất lượng.
Theo quan điểm này, một cơ sở đào tạo tuyển được người học giỏi, có
đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các
phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có
chất lượng cao. Thực tế, theo cách đánh giá này, quá trình đào tạo được xem
là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và phỏng đoán chất
lượng “đầu ra”.
Một quan điểm khác về chất lượng lại cho rằng “đầu ra” có tầm quan
trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo. “Đầu ra” chính là sản
phẩm của cơ sở đào tạo nó thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của
người học tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường
đó. Có 2 vấn đề cơ bản có liên quan đến cách tiếp cận chất lượng của cơ sở
đào tạo. Một là, mối liên hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” không được xem xét
đúng mức. Trong thực tế mối liên hệ này là có thực, cho dù đó không phải là
quan hệ nhân quả. Một cơ sở có khả năng tiếp nhận những học viên xuất sắc,
không có nghĩa là học viên của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc. Hai là, cách
đánh giá “đầu ra” của các trường rất khác nhau.
Đánh giá chất lượng đào tạo là vấn đề phức tạp, không chỉ phụ thuộc
vào việc đánh giá đầu vào hay đầu ra đơn thuần, mà phải thấy được mục tiêu
Phương pháp đào tạo;
4-
Lực lượng đào tạo (người dạy);
5-
Đối tượng đào tạo (người học);
6-
Tổ chức đào tạo;
7-
Điều kiện đào tạo;
8-
Môi trường đào tạo;
9-
Quy chế đào tạo;
10.
Bộ máy đào tạo.
quyết định đến chất lượng hoạt động đào tạo.
Hoạt động đào tạo
Pháp luật, chính
sách
Cơ chế quản lý
Chất lượng đội
ngũ CBQL,
CBGD
Mục tiêu đào tạo
Các
Các
yếu
Mội trường tự
nhiên, xã hội
tố
bên
ngoài
Phát triển khoa
học, công nghệ
Nhu cầu của nền
kinh tế
dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có
đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có
sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả
năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Mục tiêu đào tạo nghề cũng được xác định cụ thể với từng trình độ đào
tạo: Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề và Sơ cấp nghề.
“Hệ thống mục tiêu đào tạo bao gồm: các mục tiêu ngành, quốc gia;
mục tiêu trường (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); mục tiêu đáp ứng yêu cầu
thực tiễn của thị trường chung; mục tiêu đáp ứng yêu cầu của DN hợp tác đào
tạo”.
Để nâng cao hoạt động đào tạo nghề đối với LĐNT cần phải đề ra các
mục tiêu sát với thực tế về yêu cầu và khả năng thực hiện. Do đó, khi xây
dựng mục tiêu đào tạo cần phải có sự khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng đối với
từng yếu tố.
Hai là: Nội dung đào tạo.
Nội dung đào tạo kết hợp với mục tiêu đào tạo sẽ là cơ sở quan trọng
xây dựng lên chương trình đào tạo.
Chương trình đào tạo nghề là một bảng thiết kế tổng thể cho một hoạt
động đào tạo, đó có thể là một khóa hoc kéo dài vài giờ, một ngày, một tuần
hoặc vài năm. Bảng thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung cần đào
tạo, chỉ rõ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa học, nó phác hoạ
18
ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho biết các
phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và
tất cả các cái đó được sắp xếp theo môt thời gian biểu chặt chẽ.
Chương trình đào tao nghề bao gồm 5 yếu tố cơ bản: Mục tiêu dạy học
- Nội dung dạy nghề trình độ trung cấp phải phù hợp với mục tiêu
dạy nghề trình độ trung cấp, tập trung vào năng lực thực hành các công
việc của một nghề, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo, bảo
đảm tính hệ thống, cơ bản, phù hợp với thực tiễn và sự phát triển của khoa
học, công nghệ.
- Nội dung dạy nghề trình độ cao đẳng phải phù hợp với mục tiêu
dạy nghề trình độ cao đẳng, tập trung vào năng lực thực hành các công việc
của một nghề, nâng cao kiến thức chuyên môn theo yêu cầu đào tạo của nghề,
bảo đảm tính hệ thống, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn và đáp ứng sự
phát triển của khoa học, công nghệ.
Ba là: Phương pháp đào tạo.
Phương pháp ĐTN đối với LĐNT trước hết phải gắn với mục tiêu và
nội dung đào tạo; đồng thời phải phù hợp với đối tượng đào tạo là nông thôn
có trình độ không cao.
Theo ba cấp trình độ ĐTN, sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng
nghề; phương pháp đào tạo nghề được xác định cụ thể như sau:
- Phương pháp dạy nghề trình độ sơ cấp phải chú trọng rèn luyện kỹ
năng thực hành nghề và phát huy tính tích cực, tự giác của người học nghề.
- Phương pháp dạy nghề trình độ trung cấp phải kết hợp rèn luyện năng
lực thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính tích
cực, tự giác, khả năng làm việc độc lập của người học nghề.
- Phương pháp dạy nghề trình độ cao đẳng phải kết hợp rèn luyện năng
lực thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính tích
cực, tự giác, năng động, khả năng tổ chức làm việc theo nhóm.
20
Bốn là: Đối tượng đào tạo (Học viên học nghề).
Nếu coi hoạt động đào tạo như một quá trình sản xuất đặc biệt, sản
trực tiếp lên chất lượng đào tạo: là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức
kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm cho các học viên trên cơ sở thiết bị dạy học.
Bất cứ hình thức đào tạo nào và ở cấp bậc đào tạo nào đội ngũ giáo
viên vẫn là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo. Vì vậy, mỗi
cơ sở đào tạo cần hết sức quan tâm đến tuyển dụng và đào tạo đội ngũ giáo
viên đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lương đào tạo. Đố với dạy nghề chất
lượng đội ngũ giáo viên không chỉ giỏi về lý thuyết mà điều hết sức quan trọng
là phải có khả năng thực hành (dạy nghề dòi hỏi rất cao học đi đôi với hành).
- Cán bộ quản lý đào tạo:
C.Mác đã từng cho rằng: “Quản lý là một trong những hoạt động khó
khăn phức tạp nhất của con người liên quan đến sự phân công và hợp tác
LĐ”. “Khó khăn, phức tạp” bởi vì đó “là quá trình hoàn thành công việc
thông qua con người và làm việc với con người”
Chức năng của những cán bộ quản lý đào tạo là lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo (điều hành) và kiểm tra. Trong hoạt động đào tạo nói chung và đào tạo
nghề đối với nông thôn nói riêng thì cán bộ quản lý đào tạo có vai trò hết sức
quan trọng; tác động gián tiếp trên phạm vi rộng, nhiều khía cạnh đến chất lượng
đào tạo. Với đặc điểm LĐ của những nhà quản lý là sản phẩm từ quá trình LĐ
của họ là những quyết định, tính đúng đắn, khả thi và hiệu quả của quyết định sẽ
phụ thuộc vào khả năng sáng tạo của nhà quản lý. Do đó, để nâng cao chất lượng
đào tạo nghề đối với LĐNT cần hết sức quan tâm đến chất lượng cán bộ quản lý
đào tạo nghề và kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý đào tạo
* Các yếu tố bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài tuy không tác động trực tiếp vào hoạt động đào
tạo nhưng thiếu nó quá trình đào tạo sẽ gặp rất nhiều khó khăn và nhiều hoạt
22
động sẽ không thực hiện được hoặc thực hiện được nhưng hiệu quả sẽ thấp.
dạy nghề trên phạm vi toàn quốc, chính sách đúng đắn sẽ tạo môi trường
thuận lợi cho sự phát triển dạy nghề, tạo việc làm, đáp ứng nhu cầu thị trường
LĐ và ngược lại.
Chủ trương và chính sách về đào tạo nghề có tác động rất lớn đến chất
lượng đào tạo nghề như chính sách đầu tư xây dựng các cơ sở đào tạo nghề
của nhà nước (bao gồm đầu tư xây dựng trường lớp, xây dựng chương trình,
biện soạn giáo trình, tài liệu phục vụ đào tạo, đầu tư đào tạo đội ngũ giáo
viên.v.v, chính sách đối với người đi học, nhất là với các đối tượng ưu tiên,
chính sách sử dụng LĐ sau đào tạo tập trung theo hướng đào tạo nghề gắn với
giải quyết việc làm tại chỗ là những nội dung quan trọng trong phát triển đào
tạo nghề hiện nay.
* Các nhân tố về phía học viên và xã hội.
Học viên học nghề là nhân tố có tính chất quyết định đối với công tác đào
tạo nghề, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác đào tạo nghề. Trình độ văn hóa, sự
hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thời gian,… của bản thân người
học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới quy mô và chất lượng đào tạo nghề.
Xã hội có tác động mạnh đến công tác đào tạo nghề, ảnh hưởng rõ rệt
nhất của nó là tới lượng học viên đầu vào cho các cơ sở dạy nghề. Trên thực
tế công tác đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho LĐNT nói riêng hiện
nay chưa được xã hội nhận thức đầy đủ và đúng đắn. Vì những hạn chế,
những rào cản của đào tạo nghề, tâm lý ưa chuộng bằng cấp của gia đình và
của người học nghề, coi việc vào các Trường đại học, cao đẳng như là con
đường duy nhất để kiếm được việc làm và để tiến thân.
Nếu mọi người trong xã hội có được cái nhìn khách quan hơn, nhìn
nhận và đánh giá đúng đắn hơn tầm quan trọng của việc học nghề, thì số
lượng LĐ tham gia học nghề, sẽ chiếm một tỷ lệ lớn hơn so với thực tế hiện
nay và sẽ có cơ cấu độ tuổi LĐ trẻ hơn, đa dạng hơn. Người LĐ nếu nhận thức
24