BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN QUANG VĨNH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG BẢO TỒN CÁC LOÀI
THỰC VẬT THUỘC NGÀNH HẠT TRẦN (GYMNOSPERMAE)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG, QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN QUANG VĨNH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG BẢO TỒN CÁC LOÀI
THỰC VẬT THUỘC NGÀNH HẠT TRẦN (GYMNOSPERMAE)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG, QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
Do điều kiện hạn chế về thời gian và kinh phí, địa hình khó khăn, kinh
nghiệm còn thiếu nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong được sự góp ý của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp
để đề tài hoàn thiện hơn.
Tôi xin cam đoan đề tài này là của tôi, các kết quả phân tích nêu trong đề tài là
khách quan, trung thực và chưa được công bố. Nếu có thừa kế kết quả nghiên cứu
của người khác thì đều được trích dẫn rõ nguồn gốc./.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Quang Vĩnh
ii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn ……………………………………………………………………..
i
Mục lục ………………………………………………………………………..
ii
Danh mục các từ viết tắt …………………………………………………….….. iv
Danh mục các bảng ……………………………………………………..............
v
Bàng. ................................................................................................................. 28
2.4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 28
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 29
2.4.2. Phương pháp xữ lý số liệu ...................................................................... 32
Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................... 35
3.1. Thành phần các loài lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN -KB ..... 35
3.2. Diện tích phân bố các loài lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN-KB .............. 36
3.3. Hiện trạng bảo tồn của các loài lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN-KB ...... 37
3.4. Đặc điểm về hình thái, phân bố, khẳ năng tái sinh và hiện trạng của các loài
thuộc lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN-KB ...................................................... 38
3.4.1. Lớp Tuế (Cycadopsida) .......................................................................... 38
3.4.2. Lớp Thông (Pinopsida)........................................................................... 45
3.5. Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thực vật thuộc lớp Tuế (Cycadopsida)
và lớp Thông (Pinopsida) tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng VQG PN-KB81
3.5.1. Giải pháp về kỹ thuật..................................................................................
3.5.2. Giải pháp về tuần tra, bảo vệ .....................................................................
3.5.3. Giải pháp về chính sách và kinh phí ..........................................................
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 82
1. Kết luận ............................................................................................................. 82
2. Kiến nghị........................................................................................................... 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT
TT
1
2
BQL
BTTN
BVNN
CPC
D1.3
Dt
ĐTQHR
DVHC
EN
EOO
Hdc
HN
Hvn
IUCN
LE
LR
NE
OTC
PHST
PNKB
SĐVN
UBND
UNESCO
VMR
VQG
VQG PN-KB
VU
WWF
Viết đầy đủ
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Sẽ nguy cấp/sẽ bị đe dọa tuyệt chủng (Vulnerable)
Quỹ Bảo tồn Động vật hoang dã quốc tế
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Tên bảng
Trang
1.1
Diện tích các phân khu chức năng VQG PN-KB
10
1.2
Diện tích VQG PN-KB phân theo địa bàn các xã/huyện
10
1.3
Thành phần các loài Hạt trần tại VQG PN-KB
35
3.2
Diện tích phân bố các loài Hạt trần tại VQG PN-KB
36
3.3
Hiện trạng bảo tồn các loài Hạt trần tại VQG PN-KB
37
3.4
Các điểm phân bố của Đỉnh tùng tại VQG PN-KB
47
3.5
Tổ thành loài cây mọc cùng với Đỉnh tùng
48
3.6
3.12 Tổ thành loài cây mọc cùng Thông nàng
59
3.13 Mật độ và khả năng tái sinh của Thông nàng
60
3.14 Cấp chiều cao cây tái sinh của Thông nàng
60
3.15 Tổ thành các loài cây mọc cùng Hoàng đàn giả
64
3.16 Mật độ và tổ thành cây tái sinh của Hoàng đản giả
65
3.17 Phân cấp chiều cao cây tái sinh của Hoàng đàn giả
65
3.18 Các điểm phân bố của Kim giao núi đá tại VQG PN-KB
68
vi
79
3.27 Cấp chiều cao cây tái sinh Dẻ tùng vân nam
80
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
Tên hình
Trang
1.1
Bản đồ hành chính VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
9
1.2
Bản đồ thảm thực vật rừng VQG PN-KB
26
3.6
Bản đồ phân bố Đỉnh tùng
47
3.7
Hình thái cành nón đực (a), nón hạt non (b) và nón hạt sắp chín (c)
52
của Bách xanh đá
3.8
Bản đồ Phân bố của Bách xanh đá tại VQG PN-KB
53
3.9
Hình thái nón đực (a), nón hạt (b) của Thông nàng
57
3.10 Bản đồ phân bố Thông nàng tại VQG PN-KB
58
3.11 Hình thái nón đực (a), nón hạt (b) và thân cây (c) của Hoàng đàn giả
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng - Di thiên nhiên thế giới là khu vực
có tính đa dạng sinh học cao, là nơi phân bố của nhiều loài động thực vật đặc hữu,
quý hiếm được WWF đánh giá là một trong 200 trung tâm đa dạng sinh học của thế
giới (WWF, 2000) [27]. Nằm ở vùng sinh thái Bắc Trung Bộ, về mặt địa lý thực vật
thì hệ thực vật của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (VQG PN-KB) thuộc tiểu
vùng địa lý thực vật Bắc Đông Dương của vùng hệ thực vật Đông Dương, dưới xứ
Ấn Độ - Mã Lai của xứ cổ nhiệt đới [13], là nơi giao thoa của thực vật phía Bắc
xuống và phía Nam lên. Chính vì vậy khu hệ thực vật của VQG PN-KB có tính đa
dạng sinh học cao với 193 họ, 907 chi, 2.694 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 6
ngành thực vật khác nhau là Quyết lá thông (Psilotophyta), Thông đất
(Lycopodiophyta), Mộc tặc (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần
(Gymnospermae) và Hạt kín (Magnoliophyta). Trong số đó có 79 loài được thống
kê trong Sách Đỏ Việt Nam, 35 loài được pháp luật bảo vệ tại Nghị định số
32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [27],
[28]. Một trong các nhóm thực vật có giá trị kinh tế, khoa học và ý nghĩa bảo tồn
đối với hệ thực vật của VQG PN-KB là ngành Hạt trần (Gymnospermae) trong đó
quan trọng hơn cả là lớp Thông (Pinopsida) và lớp Tuế (Cycadopsida). Theo kết
quả cập nhật và bổ sung đến tháng 12 năm 2011, trong danh lục thực vật của VQG
PN-KB, lớp Thông (Pinopsida) đã thống kê được 9 loài gồm Đỉnh tùng
(Cephalotaxus mannii), Bách xanh đá (Calocedrus rupestris), Pơ mu (Fokienia
hodginsii), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Hoàng đàn giả (Dacrydium
elatum), Kim giao núi đá (Nageia fleuryi), Kim giao (Nageia wallichiana), Thông
tre lá ngắn (Podocarpus annamensis), Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), và
lớp Tuế (Cycadopsida) có 3 loài gồm Thiên tuế lược (Cycas pectinata), Thiên tuế
xiêm (Cycas siamensis), Thiên tuế (Cycas taiwaniana) [28]. Tuy vậy, cho đến nay
xuất hiện trên trái đất trước lớp Thông từ kỷ Carbon cách đây 300 triệu năm. Các
loài của lớp này đã gắn với hoạt động của con người từ 7.000 năm trước đây với tác
dụng làm thức ăn, nước uống, làm thuốc và làm cảnh, nhiều loài gây độc cho người
và gia súc vì có hoạt chất Cycanine. Hiện tại các loài của lớp Tuế đều được buôn
bán phổ biến trên thị trường trong nước và quốc tế, chính vì vậy nó được quan tâm
bảo vệ và được đưa vào phụ lục I hoặc II trong công ước Quốc tế về buôn bán các
loài động thực vật hoang dã có nguy cơ bị tuyệt chủng (CITES). Giống như lớp
Thông, các họ trong lớp Tuế cũng được các chuyên gia của tổ chức IUCN (IUCNSSC) đặc biệt quan tâm chú ý nghiên cứu về thành phần loài, sinh học và tình trạng
bảo tồn. Trên thế giới, chi Tuế được biết tới khoảng 100 loài, phân bố rất rộng tại
nhiều quốc gia Châu Á, Châu Phi, Châu Úc trải dài 13.000 km từ Đông sang Tây
và 6.000 km từ Bắc xuống Nam của trái đất [38]. Nhiều chuyên khảo về Tuế trên
thế giới và khu vực đã được công bố như Tuế Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc,
Australia, trong đó Việt Nam là quốc gia có mức đa dạng về Tuế cao thứ hai trên
thế giới chỉ xếp sau Australia [38].
1.1.1.2. Lớp Thông (Pinopsida)
Hiện tại trên thế giới còn tồn tại khoảng 615 loài, thuộc 70 chi đã được chấp
nhận, nằm trong 6 họ (Pinaceae, Araucariaceae, Podocarpaceae, Sciadopityaceae,
Cupressaceae, và Taxaceae) [37]. Chúng phân bố hầu khắp thế giới, ngoại trừ các
vùng cực, vùng núi cao nhất, những sa mạc khô hạn nhất, và một vài đảo ngoài đại
4
dương [38]. Chúng thuộc nhóm thực vật cổ nhất trong hai ngành thực vật có hạt
hiện đại có lịch sử tiến hóa lâu đời từ hơn 250 triệu năm trước, chúng được coi là
“hóa thạch sống” còn lại, nhiều loài trong chúng đang tiến gần tới tuyệt chủng vì có
những giá trị đặc biệt cho gỗ, nhựa, hương liệu và y học.
Trên thế giới, đặc biệt các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan,
Lào đều đã có các nghiên cứu sâu về thành phần loài các loài Thông về phân loại học.
Dựa trên các thành tựu mới nhất về phân loại học, nhóm chuyên gia Thông trên thế
Nam. Những tên gọi Cycas circinalis L., Cycas rumphii Miq., Cycas undulata Desf.
Ex Gaudich., Cycas miquelii Warb. và Cycas imersa Craib. cũng được trích dẫn
không chính xác đối với nghiên cứu Tuế tại Việt Nam. Như vậy trong suốt thế kỷ
20 từ đầu năm 1900, các loài Tuế tại Việt Nam biến động từ 8 tới 10 loài. Mãi tới
năm 1996, Nguyễn Tiến Hiệp và J.Vidal đã chính thức công nhận 8 loài Tuế Việt
Nam, trong đó có một loài nhập nội là Cycas revoluta trong tác phẩm “Flore du
Cambodge du Laos et du Vietnam” [33]. Tuy nhiên, trong vòng 12 năm từ 1992 tới
2004 nhiều đợt nghiên cứu thực địa tại 39 trên tổng số 58 tỉnh của Việt Nam, các
nhà thực vật Việt Nam là Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc đã hợp tác rất chặt chẽ
và có hiệu quả với các nhà thực vật quốc tế như: Si Ling Yang, Ding Yue Wang,
Fan Nan Wei và Chia Jui Chen (Trung Quốc), Anders Lindsstom (Thái Lan) và đặc
biệt là Ken D. Hill (Australia) đã mô tả mới và bổ sung thêm 22 loài, nâng số loài
Tuế tự nhiên của Việt Nam lên tới 27 loài (trong đó có 9 loài mới đối với khoa học,
8 loài bổ sung cho Việt Nam, 8 loài xác định chính xác về danh pháp và 2 loài
Cycas segmentifida và Cycas diannensis hy vọng sẽ tìm thấy ở Việt Nam) [34],
[35], [38]. Chính nhờ các nghiên cứu khoa học này, dựa trên công ước CITES và
tình hình thực tế về bảo tồn các loài Tuế tại Việt Nam, các nhà thực vật đã đề xuất
và được chính phủ Việt Nam chính thức công nhận tất cả các loài Tuế hoang dại của
Việt Nam nằm trong nhóm IIA Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử
dụng vì mục đích thương mại của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30 tháng 3
năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [9]. Trong
Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ Việt Nam (Phần thực vật) xuất bản 1996 và
2007, 12 loài Tuế mọc hoang đã được đánh giá tình trạng bảo tồn theo cách xếp
hạng của IUCN, 1994 [4], [5], [6].
1.1.2.2. Lớp Thông (Pinopsida)
Việc nghiên cứu phân loại Thông bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, đầu tiên phải kể tới
là nhà thực vật người Pháp- Hickel, trong năm 1931 ông đã mô tả 16 loài của lớp
Thông tại Việt Nam, Lào và Cam pu chia, tuy nhiên việc phân loại còn thiếu chính
công trình nghiên cứu đó vẫn chưa được cập nhật nên đã thể hiện nhiều hạn chế; Số
loài Thông tự nhiên ở Việt Nam đã tăng lên, hệ thống phân loại và danh pháp
Thông trên thế giới đã thay đổi. Theo quan điểm mới nhất hiện nay họ
7
Cephalotaxaceae được nhập vào họ Taxaceae [37], thì 34 loài Thông Việt Nam sẽ
được xếp vào 4 họ là: Cupressaceae Gray, Pinaceae Spreng. ex F.Rudolphi,
Podocarpaceae Endlicher và Taxaceae Gray. Vì vậy, việc đánh giá tình trạng bảo
tồn cho các loài dựa trên tiêu chuẩn IUCN cũng cần được được cập nhật.
1.3. Nghiên cứu tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Những nghiên cứu cụ thể về các loài Thông và Tuế tại VQG PN- KB không
có. Tuy nhiên những nghiên cứu về khu hệ và thảm thực vật tại VQG PN-KB từ
trước đến nay đã có một số tài liệu điều tra bước đầu bao gồm: Điều tra xây dựng
luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu bảo tồn Phong Nha của Viện điều tra quy hoạch
rừng (1991); dự án bảo tồn liên quốc gia (RAS/93/102/) (1996-1997); Kouznetsov,
A.N. và Phan Lương, Viện sinh học nhiệt đới Việt - Nga (2001); GS.TSKH Nguyễn
Nghĩa Thìn và cộng sự (2001 - 2003). Trong năm 2005, các nhà thực vật thuộc Viện
Sinh thái và tài nguyên sinh vật hợp tác với Viện thực vật Cô ma rốp, Viện Hàn lâm
khoa hoc Liên bang Nga đã tiến hành cuộc khảo sát đầu tiên về thảm thực vật và
tính đa dạng thực vật ở VQG PN-KB có kèm theo các mẫu vật khô và mẫu cây sống
thu thập làm bằng chứng khoa học. Cuộc khảo sát này được FFI tổ chức với sự hỗ
trợ của Counterpart International Vietnam, Food for Progress Program và có nhiệm
vụ kiểm kể họ Lan Orchidaceae kèm theo mô tả chi tiết các kiểu môi trường sống
và kiểu thảm thực vật ở VQG PN-KB. Kết qủa đã thu được 558 số hiệu mẫu vật và
mẫu cây sống, khoảng 355 số hiệu là Lan (tất cả đều là mẫu cây sống), thuộc 208
loài và 69 chi. Các mẫu cây sống được trồng trong Vườn thực vật của VQG PN-KB.
Báo cáo của đợt khảo sát kèm theo trích yếu tất cả các mẫu vật thu thập và chỉ ra
các nhóm Lan có triển vọng nhất để nuôi trồng rộng rãi vì mục đích thương mại,
Bách xanh đá (Calocedrus rupestris), Pơ mu (Fokienia hodginsii); họ Kim giao
(Podocarpaceae) có 5 loài Thông lông gà (Dacrycarpus imbricatus), Hoàng đàn giả
(Dacrydium elatum), Kim giao núi đá (Nageia fleuryi), Kim giao núi đất (Nageia
wallichiana) và Thông tre (Podocarpus neriifolius), Họ Thông đỏ (Taxaceae) có 2
loài: Dẻ tùng vân nam (Amentotaxus yunnanensis) và Đỉnh tùng (Cephalotaxus
mannii). Nổi bật đặc biệt là phát hiện khu phân bố mới quần thể Bách xanh đá
(Calocedrus rupestris Aver.), một loài Thông mới được phát hiện đối với khoa học
từ Việt Nam [1], [11].
Hầu hết các nghiên cứu chỉ mới tập trung vào điều tra, kiểm kê về thành phần
loài nói chung và các thảm thực vật mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu về thành
phần phân bố của các nhóm loài cụ thể, củng như chưa đánh giá hiện trạng của các
9
loài, đặc biệt là các loài thuộc ngành Hạt trần (Gymnospermae) kèm theo các mẫu
vật làm bằng chứng khoa học.
1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1. Vị trí địa lý
VQG PN-KB nằm ở khu vực Trung Trung bộ của Việt Nam, phía Tây tỉnh
Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới 40 km về phía Tây, cách thủ đô Hà Nội 500
km về phía Nam.
Có tọa độ địa lý:
170 21’12” - 170 44’59” vĩ độ Bắc,
1050 46’24” -1060 24’19” kinh độ Đông.
Phía Tây và Tây Nam giáp với nước CHDCND Lào (Khu bảo tồn thiên
nhiên Hin-Nậm-Nô);
PK PHST
Chưa QH
226.679
116.824
64.844
3.411
17.499
31.070
(Nguồn: Dự án đầu tư VQG, 2001; UBND tỉnh QB, 2008.)
Vùng lõi của VQG PN-KB bao gồm phần diện tích cũ (2001) là 85.754 ha
nằm trên địa bàn của 5 xã (Xuân Trạch, Phúc Trạch, Sơn Trạch, Tân Trạch, Thượng
Trạch) của huyện Bố Trạch và phần diện tích mở rộng (2008) là 31.070 ha nằm trên
địa bàn 2 xã (Thượng Hóa, Hóa Sơn) của huyện Minh Hóa.
Vùng đệm được xác định là các xã có đất nằm trong Vườn quốc gia hoặc có
ranh giới với Vườn quốc gia. Vùng đệm của VQG PN-KB được xác định gồm 13 xã
thuộc 3 huyện [27].
Bảng 1.2 Diện tích VQG PN-KB phân theo địa bàn các xã/huyện
TT
Huyện/xã
1.147
4.875
3
Xã Sơn Trạch
10.139
4.005
6.134
4
Xã Tân Trạch
36.282
25.986
10.296
5
Xã Thượng Trạch
72.573
98.467
1
Xã Trọng Hóa
18.712
18.712
2
Xã Dân Hóa
17.650
17.650
3
Xã Trung Hóa
9.440
9.440
4
Xã Thượng Hóa
77.428
Tổng cộng
343.503
15.360
31.070
116.824
67.397
226.679
(Nguồn: Dự án đầu tư VQG PN-KB, 2001; Cục thống kê tỉnh QB, 2008.)
1.2.1.3. Địa hình
Địa hình khu vực VQG PN-KB có 3 dạng chính [27]. Trong đó chủ yếu là
dạng địa hình núi đá vôi.
- Địa hình núi đất: Kiểu địa hình núi đất chiếm tỷ lệ thấp, phân bố ở phía
Đông Nam của Vườn quốc gia. Độ cao ở đây biến động từ 500 – 1.000 m, cao nhất
là đỉnh núi Ubò cao 1009 m. Địa hình núi đất nhưng độ chia cắt tương đối sâu và
độ dốc khá lớn, trung bình từ 25 - 300.
- Địa hình chuyển tiếp: Có sự xen kẽ phức tạp giữa các khối đá vôi và địa
hình lục nguyên. Dạng địa hình này là những vùng gò đồi thấp nằm dọc đường Hồ
Chí Minh nhánh Đông.
- Địa hình núi đá vôi: Kiểu địa hình núi đá vôi (101.543 ha) chiếm 87% tổng
diện tích của Vườn (116.824 ha). Khối núi đá vôi Kẻ Bàng trải rộng từ huyện Minh
Hóa tới giáp huyện Quảng Ninh có diện tích gần 200.000 ha. Nếu tính toàn bộ phần
núi đá vôi của cả Việt Nam và Lào thì khu vực Karst ở đây là một hoang mạc đá vôi
PN-KB là Di sản thiên nhiên của Thế giới.
1.2.1.5. Thổ nhưỡng
Theo Viện Điều tra qui hoạch rừng [26], [27], quá trình vận động của địa
chất khu vực đã tạo nên sự đa dạng của các loại đất trong Vườn quốc gia, trong đó
có các loại đất chủ yếu sau:
13
Bảng 1.3 Thống kê các loại đất chính trong khu vực VQG PN-KB
Phân loại đất
Theo Việt Nam
Đất đen Macgalit - Feralit phát
triển trên núi đá vôi (MgFv)
Đất Feralit màu đỏ, đỏ nâu trên
núi đá vôi (Fv)
Đất Feralit đỏ vàng phát triển
trên phiến thạch sét (Fs)
Đất Feralit vàng đỏ trên đá
Macma acid (Fa)
Đất Feralit vàng nhạt trên đá Sa
thạch (Fq)
Đất dốc tụ trong thung lũng đá
vôi (Tv)
Diện tích
Theo FAO-UNESCO
Rhodic/Acric Ferrasols
1,4
95.074
81,4
375
0,3
116.824
100
Accumulated silty soil in
Đất dốc tụ trong thung lũng hay
Accumulated silty soil in
máng trũng (T1, T2)
lime stone valley (T1, T2)
Núi đá vôi dạng khối uốn nếp có
Lime stone mountain with
Đất khác
hoại mạnh, thoát nước tốt, đất chuyển sang màu đỏ.
- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét (Fs): Diện tích 2.805 ha,
chiếm 2,4%, phân bố tập trung ở phía Đông Nam Vườn quốc gia. Độ dày tầng đất
từ dày đến trung bình, đất phân tầng rõ rệt, kém tơi xốp; thành phần cơ giới thịt
nặng, lượng mùn trung bình, lượng Ca++, Ma++ trao đổi và độ no Bazơ thấp. Khi lớp
thảm thực vật bị phá hoại thường có hiện tượng bị xói mòn hoặc kết von.
- Đất Feralit vàng đỏ trên đá Macma acid (Fa): Diện tích 5.062 ha, chiếm
4,3%, phân bố chủ yếu trên các sườn dốc hiểm trở. Đất tuy tơi xốp nhưng thường
mỏng lớp, đất chua, nhiều mùn, trong tầng đất còn tồn tại nhiều khoáng Thạch anh.
- Đất Feralit vàng nhạt trên đá Sa thạch (Fq): Diện tích 591 ha, chiếm 0,5%,
phân bố rộng rãi ở chân dông. Độ dày tầng đất từ mỏng đến trung bình, thành phần
cơ giới thịt nhẹ, đất chua, nghèo mùn.
- Đất dốc tụ trong thung lũng đá vôi (Tv): Diện tích 2.817 ha, chiếm 2,4%.
Đất dốc tụ chân núi đá vôi tích đọng lâu ngày lấp đầy các hang hốc đá vôi do quá
trình Karst hình thành. Độ dày tầng đất từ trung bình đến dầy, đất tơi xốp, khô, màu
xám đen, tầng B thường đỏ vàng hay vàng nhạt, có nhiều đá lẫn; thành phần cơ giới
thịt nặng, chủ yếu là sét, hàm lượng mùn khá cao, pH = 5,5 - 6,5.
- Đất dốc tụ trong thung lũng hay máng trũng (T1,T2): Diện tích 1.638 ha,
chiếm 1,4%, phân bố rải rác trong khu vực. Tầng đất dày, tơi xốp, khá màu mỡ; đất
màu nâu nhạt, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, pH = 5,5 - 6.
- Núi đá vôi dạng khối uốn nếp có quá trình Karst trẻ lại (K): Diện tích
95.074 ha, chiếm 81,4%. Dạng địa hình, địa chất này thể hiện một quá trình Karst
đang phát triển mạnh. Dòng chảy mặt hầu như không có hoặc không thấy, ngược lại
sông suối ngầm lại rất phát triển. Hệ thống hang động phong phú và khá phức tạp.
Bề mặt địa hình thường lởm chởm toàn đá, bị chia cắt mãnh liệt, độ dốc rất cao, rất
15
khó đi lại. Trên những núi đá này vẫn có cây rừng bao phủ. Cây cối bám rễ vào các
tháng 2, 3, 4 với tổng lượng mưa chỉ đạt 100 – 200mm. Số ngày mưa trung bình dao
động trong khoảng 130 – 160 ngày.
Biến trình năm của lượng mưa có hai cực đại, cực đại chính vào tháng 10 với
tổng lượng mưa từ 600 – 800mm (chiếm khoảng 30% lượng mưa cả năm), cực đại
phụ rơi vào tháng 6 với tổng lượng mưa khoảng 100mm; một cực tiểu thường rơi
vào tháng 2 hoặc tháng 3 với tổng lượng mưa từ 30 – 60mm. Mùa khô tuy có lượng
mưa thấp nhưng số ngày mưa bình quân tháng tối thiểu là 10 ngày do có các đợt
mưa tiểu mãn.
c. Chế độ ẩm
Lượng mưa lớn, số ngày mưa nhiều và rải đều trong năm đã tạo điều kiện ẩm
ướt lý tưởng cho một khu hệ rừng nhiệt đới trên núi đá vôi điển hình có giá trị mang
tính toàn cầu. Độ ẩm không khí trung bình 84%, dao động ít trong các mùa và vào
khoảng 80 – 90% ở những nơi thung lũng. Những nơi chịu ảnh hưởng của gió nhiều
thì độ ẩm dao động rất lớn. Mùa khô độ ẩm xuống thấp, trung bình khoảng 67%, cá
biệt có khi xuống thấp dưới 30%.
Khu vực có lượng bốc hơi khá cao, biến động từ 1.000 – 1.300mm. Lượng bốc
hơi lớn nhất vào các tháng 5, 6, 7 và 8, vì thời gian này chịu ảnh hưởng của gió Lào
khô và nóng.
d. Chế độ gió
Khu vực có 2 mùa gió chính trong năm đó là gió mùa đông và mùa hè.
Gió mùa Đông xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, thịnh hành hướng
gió Bắc và gió Đông Bắc. Xen giữa các đợt gió Bắc và Đông Bắc này là loại gió
quẩn do các dạng địa hình tạo ra. Gió mùa Hè xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 8. Do
yếu tố địa hình núi cao ngăn chặn hướng gió Tây Nam và đổi hướng thành gió Tây
Bắc. Gió này khô nóng gây không ít khó khăn cho sản xuất và công tác bảo vệ rừng.
Ngoài ra còn có gió Đông và Đông Nam thổi từ biển vào thịnh hành từ tháng 9
đến tháng 4 năm sau. Các loại gió này thường thổi đan xen với gió mùa Đông Bắc và
có tốc độ thấp (trừ trường hợp giông bão, sức gió mạnh nhất có thể lên tới cấp 12).