MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị - xã hội xuất hiện ở Trung Quốc
và đã du nhập vào Việt Nam từ thời Tây Hán do người phương Bắc truyền vào, học
thuyết này đã có mặt ở Việt Nam hàng nghìn năm. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX Nho
giáo ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội Việt Nam, góp phần tạo dựng diện mạo của
dân tộc Việt Nam. Phải nói rằng, ngay từ đầu các triều đại phong kiến đã giành cho
Nho giáo địa vị ngày một quan trọng trong hệ tư tưởng chính thống trong quá trình
hình thành và phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam, giai cấp phong kiến thống
trị Việt Nam đã nhìn Nho học với hai tính chất: học thuyết chính trị - đạo đức và tôn
giáo. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp nhận và chủ yếu sử dụng Nho giáo
làm hệ tư tưởng và công cụ để trị nước, đào tạo ra những con người phù hợp với
yêu cầu và mục đích của giai cấp phong kiến thống trị. Là một bộ phận của kiến
trúc thượng tầng xã hội, là ý thức hệ và công cụ thống trị của các triều đại phong
kiến Việt Nam, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu của
đời sống xã hội và con người Việt Nam, đến quá trình hình thành, phát triển của xã
hội và chế độ phong kiến Việt Nam.
Những năm gần đây, trước những biến động hết sức phức tạp của đời sống xã
hội, việc nhìn nhận, đánh giá về sự thể hiện của Nho giáo ở Việt Nam trong lịch sử
và hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách đối với sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng
giữa truyền thống và hiện tại, nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam
ngày nay.
Xuất phát từ những suy nghĩ trên, việc lựa chọn đề tài “Một số giá trị cơ bản
và hạn chế của học thuyết chính trị - đạo đức xã hội Nho giáo” làm đối tượng
nghiên cứu chủ yếu với hy vọng góp phần tiếng nói của mình làm sáng tỏ thêm sự
thể hiện của Nho giáo trong lịch sử với những mặt, những yếu tố tích cực và tiêu
cực căn bản của nó.
2
là: tôn giáo, chính trị, đạo đức. Châu Công Đán tin có một ông trời chi phối việc
người, việc xã hội, có thể thưởng thiện phạt ác, tuỳ theo con người đó… Chính tư
tuởng có tính chất tôn giáo này đã ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng của khổng
tử sau này. Nho trong giai đoạn đầu, giai đoạn của Khổng Tử, Mạnh Tử chưa mang
tính chất tôn giáo. Nó chỉ mang tính chất tôn giáo khi chế độ phong kiến trung ương
tập quyền Trung Quốc xác lập, khi nhà Hán phải dựa vào thần quyền để củng cố địa
vị thống trị của mình.
Về tôn giáo, nhà Chu đề cao tư tưởng “kính trời”, “hợp mệnh trời”, “thờ
thượng đế”, “trời và người hợp nhất”. Nhà Chu cho rằng, Trời (còn gọi là thượng
đế) là lực lượng có nhân cách, có ý chí và có uy quyền tuyệt đối. Chính vì vậy mà
nhà Chu cho rằng, vì nhà Ân không biết mệnh trời, hành động không hợp với mệnh
trời, do vậy Thượng đế đã trừng phạt và để cho nhà Chu thay thế nhà Ân cai trị dân.
Về chính trị, những tư tưởng của tầng lớp quý tộc nhà Chu khẳng định rằng, vì
nhà Chu biết và làm theo “mệnh trời” mà được “nhân dân” từ tay nhà Ân để “hưởng
dân” và “trị dân” suốt đời; nếu kẻ nào chống lại “mệnh trời” đó, thì nhà Chu vâng
mệnh trời và thay trời trừng phạt, chém giết. Vua nhà Chu là chủ sở hữu tối cao về
ruộng đất và mọi người trong xã hội đều là thần dân của nhà vua; vua là thiên tử
(con trời) được thay trời thống trị thiên hạ, cai trị dân. Rõ ràng, tư tưởng chính trị
dưới thời nhà Chu là hết sức phản động nhưng lại được phủ lên một lớp son tôn
giáo về “ý trời”, “mệnh trời”.
Về đạo đức, tư tưởng đạo đức của nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu làm nòng
cốt. Từ quan niệm chính trị - tôn giáo “trời và người hợp nhất”, nhà Chu khẳng định
rằng, vì các bậc tiên vương nhà Chu có đức mà được sánh cùng thượng đế, được
thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân…, cho nên các vua đời sau phải biết kính
cái đức đó, phải biết bồi dưỡng nó để cho con cháu được hưởng nước, hưởng dân
lâu dài. Hiếu là thờ phụng tổ tiên, phải nhớ công lao của tổ tiên mà giữ gìn phép tắc
tổ tiên để lại. Có cái đức Hiếu như vậy, mới nhận được mệnh trời mà được hưởng
tính này. Đặc biệt ông khẳng định rằng, cái bản tính ban đầu ấy của con người có
thể bị biến đổi bởi các điều kiện, yếu tố ngoại cảnh, bởi sự tu dưỡng đạo đức của
con người.
Dù coi tính người là cái vốn ban đầu do trời phú cho hay có nguồn gốc tự
nhiên, các nhà Nho đều đi tới khẳng định rằng, cái tính ấy không phải là nhất thành
4
bất biến mà có thể thay đổi được. Bằng học thuyết tính người, các nhà Nho đều đề
cao đến mức tuyệt đối hóa vai trò của tu dưỡng đạo đức theo các chuẩn mực của
Tam cương, Ngũ thường và phù hợp với những yêu cầu của giai cấp thống trị.
Quan niệm và sự luận giải về tính người là một trong những cơ sở, tiền đề để
từ đó, các nhà Nho đề xuất tư tưởng về vị trí, vai trò của con người, của mỗi giai
cấp trong xã hội và xây dựng những học thuyết, tư tưởng khác nhằm hoàn thiện con
người và ổn định trật tự, kỷ cương xã hội, phù hợp với yêu cầu của chế độ phong
kiến và phục vụ lợi ích của giai cấp phong kiến thống trị.
Dù có những yếu tố, nhân tố hợp lý (coi trọng việc giáo dục, tu dưỡng đạo
đức, thừa nhận ở mức độ nhất định vai trò nỗ lực chủ quan của con người trong việc
hình thành và hoàn thiện nhân cách của con người v.v..), nhưng cơ bản, học thuyết
“Tính người” của Nho giáo là duy tâm siêu hình. Nó đề cao đến mức tuyệt đối hóa
vai trò của đạo đức, giáo dục đạo đức cũng như vai trò của trời, mệnh trời, của cá
nhân nhà vua trong việc hoàn thiện con người và ổn định, phát triển xã hội.
1.2.2. Quan niệm của Nho giáo về vai trò của con người
Những quan niệm về nguồn gốc, bản tính của con người là cơ sở, căn cứ và là
nguyên lý xuất phát của quan niệm về vai trò của con người - nội dung chủ yếu, cơ
bản nhất trong quan điểm của Nho giáo về con người. Nho giáo sở dĩ quan tâm và ở
mức độ nhất định, đề cao vai trò của con người cũng là vì trước tình trạng hết sức
rối loạn của xã hội và nhằm khắc phục có hiệu quả tình trạng đó, không thể không
quan tâm đến con người, vai trò của con người trong xã hội, trong những biến động
Theo quan niệm của các nhà Nho, vai trò của con người được biểu hiện trong
các mối quan hệ xã hội cơ bản. Việc phân chia các mối quan hệ xã hội của con
người xuất phát từ việc các nhà Nho nhìn nhận con người từ nhiều phương diện. Từ
phương diện đạo đức, Nho giáo đề cập tới quan hệ Quân tử - tiểu nhân; từ phương
diện lao động xã hội, Nho giáo bàn đến quan hệ Lao lực - lao tâm; từ phương diện
chính trị, Nho giáo đề cập tới các mối quan hệ Thống trị - bị trị, Vua (thiên tử) dân, Vua - tôi, Quan - dân; từ phương diện thiết chế xã hội, Nho giáo đưa ra các
quan hệ: trong gia đình, đó là các quan hệ: cha - con, chồng - vợ, anh - em, trong xã
hội, đó là các quan hệ: bằng hữu (bạn bè), trên - dưới, thiên tử - thiên hạ... Ứng với
mối quan hệ ấy, Nho giáo lại đưa ra những quy phạm, những chuẩn mực đạo đức để
ràng buộc, cột chặt con người vào trong những mối quan hệ này, định rõ trách
6
nhiệm của con người với con người trong gia đình, ngoài xã hội.
1.2.3. Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng.
Theo quan niệm của các nhà Nho, xã hội lý tưởng là một xã hội thái bình, ổn
định, có trật tự, có kỷ cương, mọi cái trong xã hội đều là của chung, mọi người
trong xã hội đều có quyền lợi, được chăm sóc, đều bình đẳng, sống hòa mục, thân
ái. Để tạo lập, duy trì một xã hội như vậy, từ chỗ coi gia đình là tế bào của xã hội,
mọi sự rối loạn của xã hội đều bắt đầu từ sự rối loạn trong gia đình, các nhà Nho
đều cho rằng, xã hội muốn có trật tự, kỷ cương, ổn định thì trước hết gia đình phải
có trật tự, kỉ cương và ổn định sao cho "cha ra cha, con ra con, vợ ra vợ, chồng ra
chồng". Nhằm đạt được mục đích trên, các nhà Nho đều khẳng định, mọi người
phải được giáo dục, giáo hóa theo những chuẩn mực, nguyên lý đạo đức của đạo
Tam cương, Ngũ thường. Cho nên, các nhà Nho đều chú trọng, đề cao giáo dục,
giáo hóa tinh thần “Hữu giáo vô loại”, “Phú nhi hậu giáo”; đồng thời còn coi đó là
một trong những biện pháp chính trị căn bản nhất để duy trì trật tự, kỉ cương, ổn
định xã hội. Quan niệm của Nho giáo về xã hội bình đẳng, đại đồng lý tưởng, về
thực chất cũng để nhằm tuyên truyền và bảo vệ cái thuyết “chính trị thần quyền” và
hình thức những quy định và những đánh giá trên cơ sở xác lập những giá trị luân
lý, được mọi người thừa nhận và chấp hành một cách tự giác. Nó được củng cố
bằng những tấm gương đạo đức.
Các nhà Nho từ Khổng Tử trở đi đều đặc biệt đề cao vai trò của đạo đức, coi
đạo đức là công cụ, phương tiện chủ yếu nhất, hữu hiệu nhất để đạt được những
mục đích chính trị. Nho giáo coi đạo đức, lễ giáo có vai trò quyết định trong việc
duy trì địa vị, quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị, trong việc củng cố, duy
trì chế độ phong kiến, trong việc trị nước, quản lý xã hội. Trong sách Luận ngữ,
Khổng Tử nói: ''Nếu dẫn dắt bằng đạo đức, sửa trị bằng lễ giáo, thì dân không
những có lòng hổ thẹn mà còn cảm hoá quy phục'' [10, tr.245]. Khổng Tử còn khẳng
định rằng, đạo đức là biện pháp hiệu quả nhất trong việc thu phục nhân tâm, nhân
lực, trong việc “bình thiên hạ”. Như ông nói: ''Làm chính trị bằng đức, thì tự mình
sẽ giống như sao Bắc Đẩu, ở nguyên một chỗ, mà mọi vì sao khác chầu quanh
mình'' [10, tr.244]. Trong sách Mạnh Tử, Mạnh Tử cũng khẳng định rằng, nhà vua,
kẻ cầm quyền nếu thực hành đạo nhân, thi hành đường lối ''Nhân chính'' sẽ giữ gìn
được bốn biển, bảo tồn nền xã tắc, ngôi vị của con cháu mình được duy trì. Ngược
8
lại nếu thi hành đường lối ''bất nhân'', tàn bạo với dân thì nhà vua sẽ nguy hiểm đến
tính mạng, nước nhà sẽ bị diệt vong [10, tr.716]. Mạnh Tử còn tuyệt đối hoá vai trò
của đường lối Đức trị (còn gọi là Nhân trị, Vương đạo), coi việc trị nước bằng đạo
đức là vô địch: ''Người có đức nhân thì không ai địch nổi'' [6, tr.17].
Bên cạnh đó, Nho giáo còn cho rằng, đạo đức và việc thi hành đạo đức còn là
biện pháp tốt nhất để loại trừ tình trạng phi nhân, phi đạo đức trong xã hội, là
phương tiện để duy trì trật tự, kỷ cương và sự ổn định của xã hội. Ở Nho giáo thì cái
điều đáng sợ nhất của một quốc gia, của một nền chính trị không phải là nước
nghèo, của cải ít, mà là không có phép tắc không có đạo đức.
Ở Nho giáo, muốn có xã hội lý tưởng, xã hội có đạo đức, tất nhiên phải có con
định hướng và chỉ đạo việc thực hiện đường lối cai trị, quản lý xã hội bằng những
chuẩn mực, quy phạm đạo đức. Ngoài ra, cái phạm trù đạo đức căn bản của Nho
giáo không chỉ là những chuẩn mực đạo đức cần có của người, là phương tiện để
tạo ra và hoàn thiện nhân cách đạo đức của con người, của xã hội mà còn là công cụ
có tính chính trị để ràng buộc con người, cai trị và quản lý xã hội đáp ứng nhũng
yêu cầu và mục đích chính trị của giai cấp phong kiến thống trị. Vì vậy có thể nói, ở
Nho giáo, đạo đức và chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự thống nhất và mối
quan hệ chặt chẽ giữa đạo đức và chính trị được biểu hiện tập trung trong tư tưởng
đức trị, đường lối trị nước bằng đạo đức.
Những biện pháp chủ yếu để thực hiện đường lối đức trị trong học thuyết
chính trị - xã hội của Nho giáo bao gồm:
Thứ nhất: Nhân, Lễ, Chính danh
Nhân và Lễ là hai phạm trù trung tâm và cơ bản nhất trong tư tưởng đức trị nói
riêng và của học thuyết chính - xã hội của Nho giáo nói chung. Nó còn là biện pháp
để thi hành đường lối đức trị. Về vấn đề này, sách Kinh lễ đã viết: “Đạo đức nhân
nghĩa phi lễ bất thành'' (nghĩa là: ''đạo đức nhân nghĩa không do lễ không thành'')
[11, tr.734].
Tuy nhiên, ở Nho giáo, Nhân, Lễ, Chính danh là thống nhất với nhau trong tư
tưởng đức trị, trong việc thực thi đường lối đức trị. Trong đó Nhân là nội dung, là
hạt nhân của Lễ, còn Lễ là hình thức thể hiện của Nhân và trên bình diện chính trị,
sự thống nhất của Nhân và Lễ là Chính danh.
Chính danh là một phạm trù, một nội dung cơ bản của tư tưởng Đức trị, là một
10
trong những biện pháp chính trị để thi hành đường lối Đức trị, Lễ trị.
Xuất phát từ việc cho rằng, trong xã hội mỗi một người, mỗi một đẳng cấp đều
có vị trí và bổn phận riêng của mình, các nhà Nho đều khẳng định rằng, để loại bỏ
tình trạng rối loạn, để duy trì trật tự, kỷ cương và sự ổn định của xã hội thì điều có ý
định của đạo đức, của những cá nhân có đạo đức trong việc cai trị, quản lý xã hội,
trong những diễn biến của lịch sử. Do vậy mà quan niệm của Nho giáo về đạo đức,
về vai trò của đạo đức cá nhân không tránh khỏi tính chất duy tâm, siêu hình.
Thứ ba: Về vai trò của dân trong tử tưởng Đức trị.
Nho giáo luôn quan tâm đến dân và đặc biệt là vai trò của dân. “Dân” trong
kinh sách Nho giáo được đặt trong mối quan hệ đối lập với tầng lớp khác - tầng lớp
trị dân. Sự phân biệt giữa hai tầng lớp này chủ yếu là do sự khác nhau về đạo đức và
tài trí. Theo đó, tầng lớp trị dân còn được coi là người hiền, người trí, người quân
tử, còn tầng lớp bị cai trị được gọi là kẻ bất nhân, tiểu nhân. Chính sự khác nhau về
đạo đức và tài trí giữa hai tầng lớp này mà dẫn đến sự khác nhau về địa vị và vai trò
xã hội của mỗi một tầng lớp. Sở dĩ được ở địa vị cai trị, sai khiến và giáo hoá người
là bởi tầng lớp này là do mệnh trời, có chí tu thân, học tập mà có đạo đức, tài trí và
biết đem cái đức, cái tài trí ấy nêu gương cho mọi người noi theo. Còn sở dĩ dân ở
địa vị bị cai trị, bị sai khiến và đối tượng của giáo hoá là do bởi họ không được
mệnh trời, không bẩm thụ được cái ''linh khí'' của trời đất, không có chí khí, thiếu
đạo đức, kém tài trí, không học tập, không hiểu đạo lý.
Các nhà Nho đều coi “dân là gốc của nước”. Bởi dân không chỉ do trời sinh ra,
mà điều cơ bản, họ là một bộ phận to lớn trong xã hội, họ là đối tượng của “cai trị”,
không có họ thì cũng không thể tồn tại mặt đối lập - đó là giai cấp thống trị. Theo
đó, không có dân thì không có nước, không có vua. Họ không chỉ là những người
nuôi dưỡng, phục dưỡng mà còn là lực lượng bảo vệ nhà vua, người cai trị. Cũng
bởi vậy mà các nhà Nho đều khuyên vua hãy coi dân, lấy dân là trời, coi dân còn
quý trọng hơn cả xã tắc và nhà vua.
Như vậy, trong quan niệm về dân, vai trò của dân, Nho giáo là một trong ít học
thuyết từ rất sớm đã nhận thấy vai trò của dân như là một lực lượng sản xuất to lớn
và có ảnh hưởng nhất định đối với sự thịnh - suy, hưng - vong của chế độ chính trị,
sự ổn định của xã hội. Mặc dù vậy, do bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử, do
đứng trên lập trường của giai cấp thống trị và nhằm phục vụ địa vị, quyền lợi của
12
duy trì trật tự, kỷ cương xã hội và thực hiện những nhiệm vụ thực tiễn của công
cuộc giữ nước và phát triển đất nước về mọi mặt, giai cấp phong kiến Việt Nam đã
tiếp thu, khai thác tư tưởng đức trị và thực hiện tư tưởng đó trong việc cai trị, quản
lý xã hội.
Cũng như Nho giáo Trung Quốc trong quan niệm của các nhà Nho, nhà tư
tưởng, nhà vua Việt Nam đều đặc biệt đề cao vai trò của đường lối đức trị. Họ coi
đó là cái gốc, cái căn bản để tiến hành xây dựng và duy trì xã hội phong kiến ổn
định và thịnh vượng.
2.1.1. Ảnh hưởng tới sự định hướng và mục đích của đường lối Đức trị.
Trong các tác phẩm như Khuyên Lý Công Uẩn lên ngôi của nhà sư Vạn Hạnh,
Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt,
v..v.. đã phác hoạ bước đầu những nét đặc trưng cơ bản của XHLT theo tinh thần
Nho giáo.
Trong lời của nhà sư Vạn Hạnh và của Đào Cam Mộc khuyên Lý Công Uẩn
lên ngôi, thì xã hội lý tưởng là một xã hội mà nhà vua là người đứng đầu muôn dân,
là người khoan thứ, nhân từ được lòng dân [3, tr.352,353]. Trong Chiếu dời đô của
Lý Công Uẩn, một xã hội lý tưởng là một xã hội mà trong đó, nghiệp đế thịnh
vượng lớn lao; vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh; dân chúng được đông đúc,
giàu có, trăm họ không hao tổn; muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh [3, tr.358].
Trong Văn bia tháp Sùng Thiện Diêu Linh, xã hội lý tưởng là một xã hội ''Dân
chúng giàu nhiều, hoàn vũ thanh bình, văn hoá thống nhất, trong ngoài cùng gôm,
ngũ hành thuận thứ tự, trăm giống thóc dồi dào, ngoài cửa ải không khói bụi, trong
cõi nước hết tai ương'' [5, tr.64].
Những lời trong Văn bia chùa Linh Xứng nhằm ca ngợi Lý Thường Kiệt,
14
những đặc trưng cơ bản của xã hội đó được cụ thể thêm. Đó là một xã hội mà sự no
ấm của người dân là điều cơ bản nhất, người già cả được nuôi dưỡng, chăm sóc, yên
ra khỏi giới hạn chặt hẹp và tính chất gò bó, khắc nghiệp của Nho giáo. Tất nhiên xã
hội lý tưởng ấy cũng chỉ là xã hội phong kiến, không vượt qua khuôn khổ phong
kiến với những hạn chế của nó. Do vậy mà quan niệm đó cũng nhằm mục đích duy
trì sự tồn tại của chế độ phong kiến và góp phần bảo vệ, duy trì địa vị và quyền lợi
của giai cấp phong kiến thống trị.
2.1.2. Việc thực hiện đường lối Đức trị.
Nhà Nho thời Lý - Trần, trong tư tưởng đức trị đều luôn coi đạo đức của nhà
vua là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công đường lối đức trị và là biện pháp
hiệu quả nhất để làm cho đất nước thái bình thịnh trị, nhân dân yên ổn. Vì vậy mà,
nhà Nho luôn yêu cầu, luôn khuyên nhà vua thường xuyên tu đức, chuyên tâm vào
việc nước, giáo hoá dân, xa lánh vật dục, sử dụng hiền tài.
Đến thời Lê sơ, chế độ phong kiến Việt Nam đã được phát triển lên một bước
so với thời Lý - Trần. Gắn liền và là bệ đỡ của chế độ phong kiến, là công cụ chủ
yếu của Nhà nước phong kiến tập quyền quan liêu, Nho giáo và tầng lớp Nho sĩ
cũng phát triển và ngày càng có vai trò nhiều hơn trong các mặt chủ yếu của đời
sống xã hội. Do vậy mà, các ông vua cũng như các nhà Nho thời kỳ này càng đề cao
vai trò của đạo đức, vai trò của đức trị theo tư tưởng của Nho giáo. Từ đó, các triều
đại phong kiến Lê sơ đều hết sức quan tâm việc triển khai, thực thi đường lối đức
trị, nhằm mục đích Nho giáo hoá toàn bộ đời sống xã hội, chi phối mọi mối quan hệ
xã hội chủ yếu của con người. Trong đó họ đặc biệt coi trọng, đề cao đường lối Tu,
Tề, Trị, Bình của Nho giáo, luôn lấy đạo đức của vua Nghiêu, vua Thuấn và xã hội
Trung Hoa thời Nghiêu, Thuấn làm chuẩn mực đạo đức lý tưởng cho nhà vua tu
dưỡng để trị nước an dân và làm mô hình xã hội lý tưởng cho đất nước.
Triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX, trước khi chấm dứt vai trò lịch sử khi thực
dân Pháp thống trị nước ta, là triều đại phong kiến đã lâm vào suy thoái, nhưng về
hình thức, trong tất cả những chủ trương, đường lối cai trị, thì đây là triều đại đề cao
đường lối đức trị hơn so với các triều đại phong kiến Việt Nam trước đó. Nhằm
phục hồi chế độ phong kiến vốn đã suy yếu và nhanh chóng ổn định trật tự, kỷ
cương xã hội, ngay sau khi giành được chính quyền, vua Gia Long đã có nhiều chủ
không đối lập lý và khí như bọn trình, chu mà lại còn xác lập lý vào trong khí, đem
lý làm một thuộc tính của khí. Cái thuộc tính ấy là gì? Lý là thuộc tính của khí , của
vật chất.
17
Rất tiếc, khuynh hướng lý luận của Lê Quý Đôn mặc dù ảnh hươngr lớn đến
một số nhà nho đương thời, nhưng cung cách khoa cử đã làm cho nó nhạt dần. Bởi
vậy Nho giáo Việt Nam về đại thể và chủ yếu đi vào những vấn đề thiết thực, cấp
bách do đời sống xã hội đặt ra.
2.2.1 Ứng dụng của Nho giáo ở Việt Nam
Phạm trù Nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi. Nhân ở khổng Tử là phạm trù trung tâm
và mamg nhiều ý nghĩa khác nhau. Trong “Luận ngữ” có tới 105 chỗ nói tới Nhân,
nhưng mỗi nơI một khác. Nhân là người, tính người, lòng thương người, đạo làm
người, các đức tính của con người,v.v… Khổng Tử Nhân gắn liền với nghĩa. Mạnh
Tử bổ sung phạm trù nghĩa vào phạm trù nhân và trở thành phạm trù nhân nghĩa. Tư
tưởng Nhân Nghĩa là cơ sở, nền tảng để xây dựng nên những quan hệ đạo đức,
nhằm ổn định trật tự xã hội.
Do đất nước phải chống lại giặc ngoại xâm hung bạo, nên Nhân ở Nguyễn Trãi
là “khử bạo cho dân” ở ông, Nhân không phải là thứ đạo đức chung chung trừu tượng
mà chính là yêu nước, nhân đạo. Đó là “chí nhân”. Nghĩa là điều lên làm. Trong hoàn
cảnh nước mất nhà tan thì điều lên làm là gì? Điều lên làm là đứng lên đánh giặc cứu
nước, gánh vác nhiệm vụ giải phóng giang sơn đất nước đang bị quân thù dày xéo.
Đó mới là “Đại nghĩa”. Như vậy Nhân Nghĩa ở đây không phải ở trong phạm vi quan
hệ cá nhân mà là quan hệ của công dân đối với đất nước, dân tộc. ở đây, đối tượng
của Nhân là dân, đối tượng của Nghĩa là nước. Ngay ở chữ Trung ở Nguyễn Trãi
cũng khác, ở ông Trung quân phải gắn liền với ái quốc. Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa
vua với nước thì nước được đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy mà ông quyết định đi theo
Lê Lợi chư không đi theo con cháu nhà Trần. ở Nguyễn trãi , “Đại Nghĩa”sẽ dẫn đến”
Nho giáo và pháp luật đều biểu hiện ý chí và là công cụ của giai cấp phong
kiến thống trị nhằm chế thúc, ràng buộc mọi người vào khuôn khổ của chế đọ
phong kiến và nhằm duy trì trật tự, kỷ cương của xã hội, bảo vệ và duy trì sự tồn tại
của chế độ đó.
Song song với việc gia tăng vị trí, vai trò của Nho giáo trong đời sống xã hội
và vận dụng Nho giáo vào việc cai trị, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã ban hành
nhiều bộ luật và các văn bản dưới luật khác nhằm phục vụ những mục đích chính trị
của gia cấp phong kiến. Như năm 1042 dưới triều Lý, Lý Thánh tông đã cho biên
19
soạn Hình thư - bộ luận thành văn đầu tiên trong lịch sử pháp luật Việt Nam; năm
1341 dưới triều Trần, vua Trần Dụ Tông sai Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán
Siêu soạn bộ Hình luật (còn gọi là Quốc triều hình luật). Dưới thời Lê Thánh Tông
cho ra đời bộ Luật Hồng Đức; dưới thời triều Nguyễn, vua Gia Long sai đình thần
soạn bộ Hoàng Triều luật lệ (còn gọi là Luật Gia Long) được soạn thảo năm 1812
và công bố vào năm 1815.
Bộ Hình thư dưới triều Lý, như sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép, được áp
dụng thống nhất trong cả nước, phạm vi điều chỉnh rộng rãi đến nhiều lĩnh vực đời
sống xã hội và con người. Như nhiều người khẳng định, bộ luật này chịu ảnh hưởng
của tư tưởng khoan dung, độ lượng của Phật giáo. Nhưng không chỉ Phật giáo mà
cả Nho giáo cũng ảnh hưởng tới bộ luật này, kể cả ở một số văn bản dưới luật khác
trong việc triển khai, thi hành bộ Hình thư. Tư tưởng Đức trị, quan niệm về dân
đậm tính nhân văn, nhân bản của Khổng Tử, Mạnh Tử, như yêu cầu nhà vua, người
cầm quyền phải luôn yêu thương dân chúng, đặc biệt là người già, kẻ cô đơn, trẻ
con thể hiện khá rõ ở bộ luật này. Đồng thời, bộ Hình thư cũng bảo vệ địa vị, quyền
lợi của nhà vua và tầng lớp trên trong xã hội, bảo vệ Nhà nước Trung ương tập
quyền.
Pháp luật thời Trần, đặc biệt là bộ Quốc triều hình luật thể hiện rất rõ tinh thần
Pháp luật từ thời Lê sơ đến thời Nguyễn đều biểu hiện đậm nét, sâu sắc của
Nho giáo cả trong nội dung và tính chất của nó. Những quan niệm “tôn quân
quyền”, “chế độ tông pháp” và “phân biệt trật tự đẳng cấp”, “Tam cương”, “Ngũ
thường”, “Chính danh”, .. là cơ sở tư tưởng hình thành và chi phối nội dung, tính
chất của pháp luật.
Tóm lại: Nhằm củng cố ngôi vua và duy trì trật tự xã hội, pháp luật Việt Nam
thời phong kiến cho thấy sự biểu hiện của Nho giáo. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Nho
giáo pháp Luật Việt Nam cũng có giới hạn. Bởi vì:
Thứ nhất; Mặc dù các triều đại phong kiến Việt Nam khi xây dựng các bộ luật,
các văn bản pháp luật khác có tiếp thu pháp luật Trung Quốc, có tiếp thu Hán Nho,
Tống Nho, có chịu ảnh hưởng của Pháp gia, nhưng đã biết cách ''hoá giải'', ''làm
mềm đi'' nhiều yếu tố cứng nhắc, khắc nghiệt của ''Tam cương'', ''Ngũ thường'',
''trung'', ''hiếu'' của Nho giáo và tính chất ''hà khắc'', ''tàn khốc'' của pháp trị và pháp
luật phong kiến Trung Quốc.
21
Thứ hai: Không chỉ có Nho giáo, mà cả Phật giáo, phong tục tập quán và
những giá trị truyền thống của dân tộc cũng chi phối triều đình phong kiến trong
việc hình thành và thực thi pháp luật. Và chính những yếu tố này đã giảm bớt ''sức
ép'', tính chất ''cứng nhắc'' của Hán Nho, Tống Nho.
Thứ ba: Pháp luật nảy sinh và phản ánh cơ sở kinh tế- xã hội của xã hội trong
một giai đoạn phát triển nhất định đồng thời góp phần thực hiện những nhiệm vụ
thực tiền chung của dân tộc, quốc gia. Pháp luật Việt Nam thời phong kiến cũng
vậy. Cho nên, điều kiện kinh tế - xã hội, những yêu cầu và nhiệm vụ chung đặt ra
cho giai cấp phong kiến và dân tộc ở mỗi một giai đoạn phát triển đóng vai trò là
nhân tố chi phối không chỉ phạm vi, mức độ, tính chất và nội dung của Nho giáo,
mà còn chi phối sự hình thành, nội dung, tính chất của pháp luật cũng như sự khác
biệt của pháp luật và việc thực thi pháp luật trong các giai đoạn phát triển của chế
thể hiện trước hết ở tài liệu dạy, học và thi cử. Trong hệ thống nhà trường do Nhà
nước và nhân dân tổ chức, quản lý cũng như việc giáo dục trong gia đình, tài liệu dạy
và học chủ yếu là Ngũ kinh, Tứ thư và các lời dạy của các bậc Thánh hiền.
Nội dung dạy, học và thi cử trong hệ thống giáo dục nước ta thời phong kiến
về cơ bản không ngoài những tri thức trong kinh, sách Nho giáo. Người đi học, đi
thi, đỗ đạt, làm quan, làm thầy chủ yếu cốt sao thông thạo cái khối kiến thức đó. Rõ
ràng Nho giáo đã ảnh hưởng, chi phối các khâu, các mặt của nền giáo dục khoa cử
Việt Nam. Nền giáo dục khoa cử Nho học đã tạo ra một truyền thống “tôn sư trọng
đạo”, tinh thần ham học, hiếu học, trọng người có học, tạo ra những nhân tài đóng
góp vào việc giữ nước, xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, cái tri thức của
người có học, đỗ đạt, làm quan chỉ bó hẹp trong các kinh, sách của Nho giáo phục
vụ vương quyền, bảo vệ ngai vàng của các ông vua, lợi ích trực tiếp của triều đình
phong kiến thống trị. Nội dung, phương thức học, thi hết sức sáo rỗng, đồng thời
dẫn tới một tâm lý tiêu cực ở nhiều người chỉ duy nhất một con đường tiến thân là
đi học, đi thi, làm quan mới có thể “vinh thân, phì gia”.
Tất nhiên, giai cấp phong kiến Việt Nam chỉ khai thác tiếp nhận và vận dụng
những nội dung, yếu tố nào của Nho giáo có lợi và cần thiết cho những mục đích
chính trị của mình, tức là chỉ tiếp nhận và vận dụng từng mảng chứ không tiếp nhận
một cách hệ thống và toàn diện các nguyên lý, yếu tố của Nho giáo truyền thống.
Ngoài ra, việc tiếp nhận yếu tố nào, tính chất nào của Nho giáo còn phụ thuộc vào
23
vai trò và tính chất tiến bộ hay phản động của chế độ phong kiến và triều đại trong
mỗi giai đoạn phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam.
24