thị trường trái phiếu quốc tế hoạt động phát hành trái phiếu quốc tế của việt nam - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM

 MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 

BÀI THUYẾT TRÌNH

THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ
HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ CỦA
VIỆT NAM

GVHD: Nguyễn Thị Hồng Vinh

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ NHÓM 3
HỌ VÀ TÊN

MSSV

NHIÊM VỤ


Tìm tài liệu phần các
công cụ giao dịch trên thị
1

trường trái phiếu quốc tế.
Tổng hợp word,thuyết
trình phần 1.
Tìm tài liệu, trình bày

2


2


MỤC LỤC

PHẦN 1:

THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ

I) Khái niệm và đặc điểm:
1) Khái niệm:
- Thị trường trái phiếu là thị trường mà các trái phiếu được phát hành và giao dịch
xuyên các biên giới quốc gia
- Là kênh huy động vốn, vừa bổ sung vừa cạnh tranh trực tiếp với thị trường trái
phiếu nội địa truyền thống.
2) Phân loại:
Về cơ bản có 2 loại: thị truờng trái phiếu Eurobond và thị trường trái phiếu nước
ngoài (foreign bond).

 Thị trường trái phiếu Eurobond:
Là thị trường mua bán trái phiếu ngoại biên mà chủ thể phát hành là người trong
nước hay nước ngoài đều được. Eurobond là trái phiếu được phát hành bằng đồng tiền
khác với đồng tiền của nơi mà nó được phát hành. Ví dụ: công ty Pháp phát hành trái
phiếu tính bằng đồng Bảng Anh ở Đức, Thụy Sỹ đều được gọi là Eurobond.
Đặc điểm:
- Trái phiếu Eurobond được phát hành cùng lúc ở nhiều quốc gia khác nhau, nó đã
trở thành loại trái phiếu bao trùm để huy động vốn đồng thời từ các nền kinh tế trên
thế giới.
- Việc phát hành trái phiếu Eurobond cho phép chọn lựa loại đồng tiền nên các
chủ nợ có thể yêu càu được hoàn trả bằng một trong những đồng tiền khác nhau, nhờ

- Đối với bên phát hành lẫn bên mua, trái phiếu có lãi suất cố định được yên thích
vì nó có kỳ hạn trả lãi với dòng tiền thanh toán được biết trước.
2) Trái phiếu có lãi suất thả nổi (floating-rate note, floating coupon bond):
Trái phiếu có lãi suất thả nổi là loại trái phiếu có lãi suất được tính theo một giá trị
tham chiếu nhất định. Thông thường giá trị tham chiếu đó là lãi suất cho vay ngắn hạn
các đồng tiền trên thị trường liên ngân hàng London do hiệp hội ngân hàng Anh tính
toán và công bố. Lãi suất coupon của trái phiếu bao gồm lãi suất tham chiếu trên thị
trường tiền tệ cộng với biên độ phản ánh mức độ tín nhiệm của chủ thể phát hành.

4


3) Trái phiếu không trả lãi(zero coupon bond):
- Trái phiếu không trả lãi là loại trái phiếu không trả lãi coupon trong suốt thời
gian đáo hạn của trái phiếu. Khi đáo hạn chủ thể phát hành thanh toán lại tiền cho nhà
đầu tư theo mệnh giá được ghi trên trái phiếu. Thông thường, trái phiếu này được bán
cho nhà đầu tư quốc tế với giá thấp hơn mệnh giá.
- Đối với bên phát hành, trái phiếu không trả lãi là một công cụ tài trợ lý tưởng
cho các dự án không có dòng tiền thu về trong một số năm nhất định. Tuy nhiên toàn
bộ số nợ từ việc phát hành trái phiếu tập trung vào một thời điểm nên dễ dẫn tới rủi ro
tín dụng. Vì thế thị trường này thường chỉ giới hạn cho một số chủ thể phát hành nhất
định có mức tín nhiệm được xếp hạng cao.
4) Trái phiếu chuyển đổi (convertible bonds):
- Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu cho phép nhà đầu tư có thể chuyển từ
việc nắm giữ trái phiếu sang nắm giữ tài sản khác theo một tỷ lệ chuyển đổi được xác
định vào thời điểm phát hành trái phiếu. Tài sản có thể là cổ phiếu của công ty phát
hành trái phiếu hay cổ phiếu của công ty con thuộc sở hữu của công ty phát hành trái
phiếu.
- Trái phiếu chứng quyền (bond with warrants) có đặc điểm giống như trái phiếu
chuyển đổi và kèm theo một quyền chọn mua( call option) được giao dịch riêng biệt

bằng lợi tức do chính phủ Mỹ áp dụng vào năm 1963 thuế này đánh lên thu nhập từ
đầu tư chứng khoán ở nước ngoài của công dân Mỹ và đầu tư vào các trái phiếu do
người nước ngoài phát hành tại Mỹ nhằm hạn chế dòng vốn ra nước ngoài. Trước tình
hình đó các chủ thể đi vay đã phát hành trái phiếu để vay vốn bằng USD ở ngoài nước
Mỹ từ các nhà đầu tư quốc tế. Các trái phiếu này được gọi là Eurobond.
- 1965 chính phủ Mỹ đưa thêm một chương trình giới hạn tín dụng nước ngoài
nhằm giảm bớt nguồn vốn chảy ra FCRP –Hạn chế lượng tín dụng mà các ngân hàng
Mỹ cấp cho người nước ngoài chính biện pháp này buộc người nước ngoài phải tìm
đến thị trường Eurobond.
- 1970 nhiều nước châu Âu ban hành các biện pháp kiểm soát vốn trong nước
hình thành nên thị trường Eurobond với các đồng tiền phát hành đa dạng.
- Theo tiến trình tự do hóa các biện pháp điều tiết của Mỹ và quốc gia khác dần
bãi bỏ nhưng thị trường Eurobond vẫn ngày một phát triển vì không chịu bất cứ ràng
buột nào từ chính phủ nên vẫn là kênh tài trợ vốn dài hạn hấp dẫn đối với người đi vay
cũng như các nhà đầu tư quốc tế.

6


2) Nét đặc trưng của Eurobond:
Được phát hành dưới dạng chi phiếu hoặc cupon thanh toán hàng năm. Một vài
loại Eurobond có khả năng chuyển sang một số lượng nhất định cổ phần thường.
Eurobond có một vài điều khoản bảo vệ là có một lợi thế cho các nhà phát hành. Một
vài loại Eurobond gọi là giấy nhận nợ có lãi suất thả nổi (FRN S) có lãi suất được điều
chỉnh theo thời gian phụ thuộc vào lãi suất thịnh hành của thị trường.
3) Tổ chức thị trường Eurobond:

 Thị trường sơ cấp:
Các nhà quản trị đa quốc gia sẽ bán trái phiếu cho một nhóm bảo lãnh phát hành.
Eurobond được bảo lãnh phát hành bởi một nhóm các ngân hàng đầu tư đa quốc gia và

Bước 2: Người quản lí chính mời thêm các ngân hàng khác tham gia để thành lập
nhóm quản lí
Bước 3: Nhóm quản lí cùng với một số ngân hàng khác làm người bảo lãnh phát
hành trái phiếu và tổ chức một nhóm bán trái phiếu để bán trái phiếu cho các nhà đầu
tư công chúng
Bước 4: Hoàn tất giao dịch phát hành kết thúc đợt phát hành nhà phát hành nhận
được tiền bán trái phiếu sau khi trừ đi mọi chi phí liên quan
5) Thủ tục thanh toán Eurobond:
- Sau khi phát hành trên thị trường sơ cấp các Eurobond được giao dịch trên thị
trường thứ cấp thông qua hệ thống thanh toán và chuyển giao quyền sở hữu giữa các
thành viên thị trường hai hệ thống thanh toán quốc tế đã được thiết lập năm 1969 và
1970 là Euroclear và Cedel đến năm 2000 thì hệ thống clearstream đi vào hoạt động

8


IV)

Xếp hạng tín nhiệm trên thị trường trái phiếu quốc tế:

- Thông thường trước đợt phát hành trái phiếu quốc tế các tổ chức xếp hạng tín
nhiệm quốc tế tiến hành đánh giá hệ số tín nhiệm để xác định mức độ tin cậy của các
quốc gia hay tổ chức phát hành về rủi ro đầu tư và khả năng hoàn trả các khoản vay.
Đây là cơ sở để xác định chi phí huy động vốn của nhà phát hành trên thị trường trái
phiếu quốc tế
- Thường thì chủ thể phát hành không được xếp hạng tín nhiệm cao hơn chính phủ
của quốc gia của chủ thể đó cư trú
- Standard & poor’s,Fitch ratings và Moody’s investor service là ba tổ chức xếp
hạng tín nhiệm đã hoạt động nhiều năm trên thị trường thế giới


giới, Bộ Tài chính Việt Nam đã học tập kinh nghiệm xây dựng đề án phát hành trái
phiếu quốc tế với sự đánh giá hệ số tín nhiệm quốc gia của 3 công ty xếp hạng tín

-

nhiệm uy tín trên thế giới là Standard & Poor’s, Moody’s và Fitch.
Năm 2005, thời cơ đã đến khi các yếu tố “thiên-thời-địa-lợi” chín muồi: Kinh tế trong
nước phát triển, nợ nước ngoài ở mức an toàn, thị trường tài chính thế giới ổn định

-

cộng với nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngày một lớn.
Ngày 27/10/2005, Chính phủ Việt Nam lần đầu tiên chính thức phát hành ra thị trường
vốn quốc tế trái phiếu quốc tế kì hạn 10 năm tại New York. Bảo lãnh phát hành chính

-

là Ngân hàng Credit Suisse First Boston của Thụy Sỹ.
Dự định ban đầu, Việt Nam sẽ phát hành ở mức 500 triệu USD với lãi suất 7,5%/năm
nhưng do nhà đầu tư đăng ký lên đến 4,5 tỷ USD, Việt Nam đã quyết định phát hành
750 triệu USD, giá bán 98,223% so với mệnh giá với mức lãi suất 7,125% . Trong đó,
số lượng trái phiếu được các nhà đầu tư nắm giữ tính theo khu vực (châu Á 38%, châu
Âu 32% và Mỹ 30%). Phân theo đối tượng các nhà đầu tư: Các quỹ đầu tư tài chính là
đối tượng quan tâm nhiều nhất đến trái phiếu chính phủ Việt Nam (chiếm tới 51%),
còn lại là các ngân hàng (25%), các công ty bảo hiểm (17%) và các tổ chức tài chính
khác (7%). Trong khi các công ty bảo hiểm chính là những nhà kinh doanh rủi ro lại

-

chỉ nắm giữ 17% số lượng trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam phát hành.


- Sau 1 năm phát hành, trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam đã được Tạp chí Tài
chính quốc tế và các nhà đầu tư khu vực châu Á đánh giá là trái phiếu phát hành thành
công nhất của năm 2005.

- Đây là một đợt phát hành trái phiếu quốc tế tạo bước ngoặt đặc biệt và tạo nền tảng
quan trọng cho các đợt phát hành sau vì sự thành công của đợt phát hành này đã có ý
nghĩa tác động đến các nhà đầu tư quốc tế để họ xây dựng các hạn mức tín dụng đầu
tư vào Việt Nam trong tương lai.

12


V) Phát hành trái phiếu quốc tế năm 2010:
1) Thực trạng phát hành:

- Ngày 26-01-2010, Việt Nam đã đánh dấu sự trở lại thị trường trái phiếu quốc tế với
đợt phát hành 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm với lãi suất danh nghĩa
6,75%/năm và lợi tức phát hành là 6,95%/năm dưới sự phối hợp của tổ hợp bảo lãnh
bao gồm Barclays Capital, Citi, Deutsche Bank.

- Trái phiếu này được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Singapore và đáo hạn
vào ngày 29/1/2020. Ngân hàng Citibank là ngân hàng được chọn làm đại lý thanh
toán trái phiếu cho Bộ Tài chính.

- Cơ cấu các nhà đầu tư tính theo khu vực: hơn một nửa số trái phiếu quốc tế của Chính
phủ Việt Nam được mua bởi các nhà đầu tư đến từ Mỹ (56%), tăng mạnh so với lần
phát hành đầu tiên; 28% từ các nhà đầu tư châu Á và 16% từ các nhà đầu tư châu Âu.
Tính theo lĩnh vực: 73% là các quỹ đầu tư và công ty quản lý tài sản, 10% là các quỹ
bảo hiểm và hưu trí, 10% là các ngân hàng và 7% là các nhà đầu tư khác.

- Trái phiểu Chính phủ Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm từ những luồng vốn chất
lượng. Cụ thể là, 56% giao dịch thuộc về các nhà đầu tư Mỹ, 16% là các nhà đầu tư
châu Âu và 28% là châu Á. Có thể nói, đây cũng là một đợt phát hành thành công của
TP Việt Nam.

14


VI)
-

Phát hành trái phiếu 1 tỷ USD năm 2014:

Đợt chào bán trái phiếu lần này diễn ra vào lúc 1 giờ chiều ngày 6/11/2014 (giờ San
Francisco Mỹ) (tức ngày 7/11/2014 giờ Việt Nam), đồng thời với giao dịch hoán đổi
hai trái phiếu chính phủ đã phát hành ra thị trường vốn quốc tế trước đó với hạn thanh
toán vào năm 2016 và 2020. Đợt phát hành trái phiếu lần này giúp giảm rủi ro tái cấp
vốn và rủi ro lãi suất đối với danh mục nợ nước ngoài của Chính phủ. Đây là việc chủ
động thực hiện nghiệp vụ quản lý rủi ro đối với danh mục nợ công, tiếp cận với thông
lệ quản lý nợ công của quốc tế.

-

Tổng khối lượng phát hành là 1 tỷ USD, tổng giá trị đăng ký mua lên đến hơn 10,6 tỷ
USD, gấp hơn 10 lần so với lượng chào bán ra. Tư vấn bảo lãnh lần này là các ngân
hàng Deusche Bank, HSBC và Standard Chartered Bank.

- Với điều kiện thị trường vốn quốc tế diễn biến thuận lợi và nhu cầu nắm giữ trái phiếu
Chính phủ Việt Nam của các nhà đầu tư quốc tế đạt mức kỷ lục so với khối lượng phát
hành, trái phiếu quốc tế của Chính phủ đạt mức lãi suất cố định 4,8%/năm, thấp hơn

-

Moody’s nâng hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam lên một bậc từ B2 lên B1 vào
cuối tháng 7/2014, và Fitch nâng bậc tín nhiệm của Việt Nam từ B+ lên BB- ngày
3/11/2014 (3 ngày trước phiên đấu thầu trái phiếu quốc tế), đánh giá triển vọng đều ở
mức ổn định. Điều này đã củng cố niềm tin của Việt Nam đối với những nhà đầu tư
quốc tế.

16


-

Thứ ba, cơ hội tốt để nhà đầu tư quốc tế đa dạng hóa danh mục. Trong số gần 450 nhà
đầu tư tham gia vào phiên đấu thầu, có đến 84% là các quỹ đầu tư, 12% là ngân hàng
và 4% là công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí.

-

Với phần lớn nhà đầu tư tham gia là các quỹ đầu tư, mục đích chính bên cạnh tìm
kiếm lợi tức hấp dẫn thì một nguyên nhân khác khiến nhà đầu tư chú ý đến phiên đấu
thầu trái phiếu của Việt Nam là tìm kiếm những công cụ tài chính hấp dẫn khác để đa
dạng hóa danh mục.

-

Lượng trái phiếu lưu hành trên thị trường quốc tế của nước ta trước phiên đấu thầu
này chỉ từ 1.75 tỷ USD, một con số rất khiêm tốn và đợt đấu thầu gần đây nhất đã diễn
ra gần 5 năm. Điều này đã giúp trái phiếu quốc tế Việt Nam thực sự là một công cụ
hấp dẫn, đem lại nguồn lợi tức cùng khả năng đa dạng hóa danh mục đối với những

Có thêm nguồn vốn vay nước ngoài để trang trải cho thâm hụt ngân sách và thâm hụt
cán cân thanh toán do nhập siêu.
2) Tác động tiêu cực:




Hiện tại Việt Nam đã phải mượn với lãi suất cao hơn thị trường.
Hơn thế nữa, chính cách dùng số tiền vay được là mối quan tâm của giới phân tích, lo
ngại rằng việc sử dụng không hợp lý sẽ đè nặng thêm trên nền tài chính Việt Nam vốn



đang gặp khó khăn.
Nếu như việc sử dụng nguồn vốn vay này là không có hiệu quả thì khi đó áp lực trả nợ
gia tăng, làm cho chính phủ phải cắt giảm chi tiêu cho đầu tư. Sự cắt giảm này sẽ làm



cho nền kinh tế trở nên trì trệ hơn.
Nợ Chính phủ gia tăng và rủi ro tài chính cao.

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status