i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
dùng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào.
Hà Nội, ngày 08 tháng 12 năm 2015
TÁC GIẢ
Lương Thế Toán
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện làm luận văn này, tôi nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài nhà trường. Tôi
xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, các cơ quan, địa
phương trong huyện Lục Nam đã quan tâm, giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho tôi
hoàn thành luận văn này.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy GS.TS. Phạm Vân Đình đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Lâm
nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi nhiều mặt trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các anh, chị em đồng nghiệp bạn bè
thân thiết và người thân đã động viên, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn
để hoàn thành luận văn.
1.2.1. Tình hình phát triển trang trại chăn nuôi trên thế giới ................. 20
1.2.2. Tình hình phát triển kinh tế trang trại và kinh tế trang trại chăn
nuôi ở Việt Nam ................................................................................. 23
1.2.3. Tình hình phát triển kinh tế trang trại và kinh tế trang trại chăn
nuôi ở một số huyện trong tỉnh Bắc Giang ........................................... 25
iv
1.2.4. Bài học về phát triển kinh tế trang trại và kinh tế trang trại chăn
nuôi huyện Lục Nam ........................................................................... 27
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
.......................................................................................................... 29
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Lục Nam, tỉnh Bắc
Giang ................................................................................................. 29
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên ..................................................................... 29
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội .......................................................... 35
2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiện; kinh tế- xã hội
ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi của huyện .......... 41
2.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................. 42
2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu........................................... 42
2.2.2. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu ..................................................... 42
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu ..................................................... 44
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu ......................................................... 45
2.2.5. Phương pháp phân tích số liệu ................................................... 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ...................... 48
3.1. Thực trạng về kinh tế trang trại chăn nuôi ở huyện Lục Nam tỉnh
Bắc Giang........................................................................................... 48
3.1.1. Quá trình thành lập và phát triển ................................................ 48
3.1.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế trang trại
BQ
Bình quân
CC
Cơ cấu
CNH
Công nghiệp hóa
CN
Công nghiệp
DT
Diện tích
ĐVT
Đơn vị tính
GTSX
Giá trị sản xuất
HĐH
UBND
Ủy ban nhân dân
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
1.1
Các loại trang trại phân theo vùng, thời điểm 01/10/2013
23
2.1
Tình hình sử dụng đất huyện Lục Nam giai đoạn 2012 – 2014
32
2.2
2.3
Một số đặc điểm chủ trang trại chăn nuôi năm 2014
51
3.3
Tình hình lao động của các trang trại chăn nuôi năm 2014
52
3.4
Tình hình sử dụng đất đai của TTCN năm 2014
54
3.5
Tình hình huy động và sử dụng vốn của TTCN năm 2014
57
3.6
Nguồn vốn của TTCN năm 2014 (Tính BQ/TT)
57
3.7
Sự phát triển trang trại trên địa bàn huyện Lục Nam giai đoạn
2012 – 2014
kênh tiêu thụ thịt gia súc, gia cầm huyện Lục Nam
Trang
31
40
49
64
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Quá trình chuyển đổi từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa
là xu hướng phát triển tất yếu của kinh tế nông hộ. Theo xu hướng này, một số
nông dân phát triển kinh tế thành công, tích lũy được vốn liếng, thuê mướn
thêm lao động, mạnh dạn ứng dụng các thành tự khoa học vào sản xuất kinh
doanh, họ trở nên ngày càng có ưu thế hơn về năng lực, kết quả và hiệu quả sản
xuất so với các hộ khác. Sự phát triển kinh tế nông hộ sẽ dẫn tới xu hướng phân
hóa về quy mô và trình độ sản xuất… và kết quả làm xuất hiện loại hình kinh tế
trang trại.
Trang trại (TT) là loại hình sản xuất nông nghiệp khá phổ biến và đang
đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp ở hầu hết các quốc gia
trên thế giới. Trong những năm qua, kinh tế trang trại (KTTT) ở nước ta đã
góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội, phát huy được vai trò
to lớn, tạo ra sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông
thôn.
xứng, chưa khai thác tối đa lợi thế vùng.
Để kinh tế trang trại chăn nuôi (KTTTCN) thực sự trở thành thế mạnh
của Huyện, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, vừa đạt hiệu quả kinh
tế cao, vừa bảo vệ sinh thái môi trường, nâng cao thu nhập cho người nông
dân, giúp chính quyền và nhân dân có cái nhìn đúng đắn nhất, hiệu quả nhất
đối với việc khai thác tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế của Huyện, đây
là động lực thực hiện xây dựng nông thôn mới. Bởi vậy tôi đã chọn đề tài
"Giải pháp phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Lục
Nam, tỉnh Bắc Giang" làm đề tài luận văn Thạc sĩ kinh tế của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát
3
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích các nhân tố ảnh hưởng, đề
xuất những giải pháp phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện
Lục Nam tỉnh Bắc Giang.
- Mục tiêu cụ thể
+ Góp phần hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế
trang trại, kinh tế trang trại chăn nuôi.
+ Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở huyện
Lục Nam thời gian qua; chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế
trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang.
+ Đề xuất những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi
huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là các vấn đề kinh tế về phát triển kinh
tế trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện.
trại cần tiếp tục được đưa ra nghiên cứu thảo luận để hoàn thiện… Dưới đây
là trích dẫn một số khái niệm về trang trại của một số nhà nghiên cứu:
- Theo tác giả Trần Đức, trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ
sở trong nông lâm, thuỷ sản, có mục đích sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản
xuất thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được
tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ
thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường [8].
- Theo tác giả Nguyễn Điền, trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ
sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, sử dụng lao động tiền vốn của gia đình là
chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả [9].
- Theo tác giả Trần Hai, trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông
nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư
cách pháp nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phần
khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra nguồn thu
nhập chính và đáp ứng nhu cầu cho xã hội [13].
5
1.1.1.2. Khái niệm về kinh tế trang trại
Cũng như khái niệm về trang trại, trong thời gian qua cũng rất nhiều
nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về kinh tế trang trại:
- Theo tác giả Lê Trọng, Kinh tế trang trại (Hay kinh tế nông trại, lâm
trại, ngư trại…) là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã
hội, dựa trên cơ sở hiệp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số
người lao động nhất định, được chủ TT tổ chức trang bị những tư liệu sản
xuất nhất định để tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu của
nền kinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ [19].
- Theo Ban Kinh tế Trung ương, “KTTT mang tính chất sản xuất hàng
hoá, gắn liền với thị trường, chính vì vậy có nhu cầu cao hơn hẳn kinh tế hộ
- Phần lớn trang trại đều thuê mướn lao động.
- Các chủ trang trại đều có thu nhập cao hơn hộ nông dân bình thường.
1.1.1.3. Khái niệm về kinh tế trang trại chăn nuôi
Từ những khái niệm nêu trên có thể lý luận rằng: Kinh tế trang trại
chăn nuôi là một hình thức sản xuất kinh tế trong nông nghiệp với nông sản
hàng hoá là sản phẩm của chăn nuôi đại gia súc, gia cầm… Đó là tổng thể các
mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh nông
nghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi. Bao gồm các hoạt động trước và sau sản
xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang
trại chăn nuôi ở các vùng kinh tế khác nhau.
1.1.1.4. Những vấn đề cơ bản về lý thuyết phát triển
- Có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển. Theo Raaman Weitz
"Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của
con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội".
Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm phát triển với ý nghĩa rộng hơn bao gồm
cả những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị của con người,
đó là "sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do
7
công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối
quan hệ với nhà nước, với cộng đồng"[14]. Nhìn chung các ý kiến đều nhất trí
cho rằng mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân.
Phát triển kinh tế hiểu một cách chung nhất là một quá trình lớn lên hay tăng
tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả
sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội.
Từ các quan niệm trên ta thấy vấn đề cơ bản nhất của phát triển kinh tế là:
sự tăng thêm về khối lượng sản phẩm, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh
tố vật chất hết sức quan trọng cho sản xuất. Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, trang
trại có vốn tích luỹ nhiều hơn, mức độ đầu tư cho sản xuất ngày càng lớn hơn
chứng tỏ sự phát triển của kinh tế trang trại ngày càng rõ rệt. Vốn đầu tư ngày
càng lớn thể hiện sức mạnh kinh tế của trang trại. Vốn đầu tư được thể hiện dưới
hình thức là những tài sản như nhà xưởng, máy móc thiết bị, các công trình
phục vụ sản xuất kinh doanh và các loại tài sản lưu động khác. Các yếu tố vật
chất này càng nhiều và chất lượng càng cao, càng hiện đại thì càng chứng tỏ
sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế trang trại.
Thứ tư là, trình độ công nghệ và các biện pháp kỹ thuật mới được ứng
dụng vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại. Mức độ đầu
tư công nghệ và trình độ công nghệ được các trang trại đưa vào sử dụng càng
cao, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề
dịch vụ được áp dụng ngày càng nhiều sẽ là những yếu tố có tính quyết định
đến năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi, và trực tiếp ảnh hưởng đến
chất lượng sản phẩm của trang trại, một yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh
của kinh tế trang trại trên thương trường.
Thứ năm là, cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản xuất, mức độ chuyên
môn hoá, trình độ sản xuất hàng hoá.... của trang trại. Đây là những yếu tố
thể hiện sự tăng cường về mặt chất lượng trong quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế trang trại.
9
- Nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại
Năng suất, sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi, các loại sản phẩm
ngành nghề, dịch vụ... ngày càng tăng lên. Giá trị sản lượng, giá trị sản lượng hàng
hoá, doanh thu, thu nhập của trang trại là những chỉ tiêu kết quả nói lên sự
phát triển của kinh tế trang trại.
Phát triển kinh tế trang trại là quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
yếu là từ các trang trại gia đình. Kinh tế trang trại ở nước ta cũng có vai trò hết
sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước, được thể hiện rõ nét về kinh
tế, xã hội và môi trường.
- Về mặt kinh tế
Các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại
cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất
phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn hoá, tập trung hàng
hoá và thâm canh cao. Mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp
chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn. Do vậy, phát triển kinh tế trang trại
góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và
kinh tế nông thôn.
- Về mặt xã hội
Phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số hộ giàu
trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập cho lao động. Điều
này rất có ý nghĩa trong giải quyết vấn đề lao động và việc làm, một trong
những vấn đề bức xúc của nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay.
- Về mặt môi trường
Phát triển kinh tế trang trại góp phần cải tạo môi trường sống và
bảo vệ môi trường sinh thái. Thực hiện phát triển kinh tế trang trại ở
nước ta đã đem lại nhiều kết quả về kinh tế xã hội và môi trường. Nhưng
phát triển kinh tế trang trại phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế
của từng vùng, từng địa phương.
11
Đối với trang trại chăn nuôi, người chăn nuôi vẫn phải đối mặt với tình
trạng chất thải của gia súc, gia cầm gây ô nhiễm môi trường nhưng hiện nay
với kỹ thuật hầm biogas, sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi… đã
+ Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất: Là loại hình trang trại
mà toàn bộ vốn tài sản của trang trại thuộc quyền sở hữu của chủ trang trại.
+ Chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất và phải đi thuê một
phần: Là loại hình trang trại mà trong đó toàn bộ vốn và tài sản của trang trại
không thuộc quyền sở hữu của riêng chủ trang trại mà còn có của một hay
nhiều sở hữu khác.
+ Chủ trang trại thuê hoàn toàn tư liệu sản xuất: Là loại hình trang trại
mà toàn bộ phần tư liệu sản xuất và tài sản cố định không thuộc quyền sở hữu
của chủ trang trại, mà đó là đi thuê còn chủ trang trại chỉ bỏ chi phí lưu động
để sản xuất kinh doanh.
- Theo lĩnh vực sản xuất
Trang trại trồng trọt
Trang trại chăn nuôi
Trang trại lâm nghiệp
Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
Trang trại tổng hợp.
Trang trại chuyên ngành (Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng
thủy sản) là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của
ngành chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong
năm. Trường hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản
lượng hàng hóa thì được gọi là trang trại tổng hợp [3].
1.1.3. Đặc điểm của kinh tế trang trại và kinh tế trang trại chăn nuôi
Việc nghiên cứu đặc trưng của kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng trong
nghiên cứu cũng như trong thực tiễn quản lý. Bởi vậy khi nghiên cứu các loại hình
kinh tế trang trại chúng ta cần nắm những đặc trưng của chúng. Kinh tế trang trại có
các đặc trưng chủ yếu như sau [1]:
13
14
Ngoài các đặc trưng của KTTT nói chung, KTTTCN còn có các đặc
trưng riêng sau:
- Kinh tế trang trại chăn nuôi có đặc trưng là sản xuất sản phẩm hàng
hóa mà sản phẩm của nó là các loại thịt, trứng, sữa… đáp ứng nhu cầu của thị
trường, như vậy để đáp ứng được nhu của thị trường thì quy mô trang trại
chăn nuôi phải ở mức độ tương đối lớn, khác biệt với hộ gia đình.
- Các sản phẩm của KTTTCN như thịt, trứng, sữa… trong điều kiện
kinh tế thị trường đều phải xuất phát từ nhu cầu thị trường. Chính vì vậy, tất
cả các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, giống, khoa học kỹ thuật, cũng như
các yếu tố đầu ra như sản phẩm thịt, trứng, sữa… đều là sản phẩm hàng hóa.
- Đặc trưng sản xuất hàng hóa ngành chăn nuôi chi phối là phải đòi hỏi
tạo ra ưu thế cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh, để thực hiện yêu cầu tái
sản xuất mở rộng, hoạt động KTTTCN theo xu thế tích tụ, tập trung sản xuất
kinh tế ngày càng cao, tạo ra tỷ xuất hàng hóa cao, khối lượng hàng hóa ngày
càng nhiều, chất lượng tốt.
- KTTTCN cũng có nhiều loại hình khác nhau trong đó trang trại gia
đình vẫn là phổ biến, có đặc trưng rất linh hoạt trong từng hoạt động, vì có thể
dung nạp các trình độ sản xuất khác nhau về xã hội hóa, chuyên môn hóa.
Dung nạp các quy mô sản xuất các trang trại chăn nuôi khác nhau như các
trang trại chăn nuôi nhỏ, vừa và lớn, công nghệ sản xuất khác nhau từ thô sơ
đến hiện đại, riêng biệt đan xen. Liên kết các loại hình kinh tế khác nhau như
cá thể, tư nhân, hợp tác quốc doanh… với các hình thức hợp tác sản xuất kinh
doanh đa dạng. Do vậy KTTT chăn nuôi không chỉ thích ứng với các nước
đang phát triển mà ở cả các nước công nghiệp phát triển.
- Chủ trang trại chăn nuôi là người có ý trí, có năng lực tổ chức quản lý,
có kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất chăn nuôi, cũng như kinh doanh
trong cơ chế thị trường.
16
phong công nghiệp hầu như không có, dẫn tới kỷ luật trong lao động kém làm
ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả lao động. Lực lượng lao động không tập
trung mà phân bố rải rác khắp nơi, nên việc quy tụ lại một chỗ lại là cả nhiều
vấn đề như chỗ ăn, ở, quản lý con người vô cùng khó khăn, điều này cũng là
nhân tố tăng các chi phí đầu vào ảnh hưởng lớn tới việc tăng giá thành sản
phẩm.
- Vốn đầu tư của chủ trang trại
Đầu tư cho kinh tế trang trại vốn không cần lớn như sản xuất công
nghiệp, đầu tư dần trong suốt quá trình sản xuất hoặc chu kỳ sản phẩm. Điều
này có thể giãn cách thời gian huy động vốn cũng như đầu tư vốn. Hiện nay
Đảng và Nhà nước đang huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển cơ sở
hạ tầng nông thôn thông qua các chương trình dự án phát triển bền vững nông
nghiệp nông thôn như các vốn chương trình dự án: 135; ODA;... đây cũng là
một hình thức đầu tư gián tiếp và lâu dài. Bên cạnh đó nước ta là một nước
đang trong thời kỳ quá độ, sau những năm cải cách đổi mới nền kinh tế còn
khó khăn, chính vì vậy việc bảo hộ và bảo trợ cho nông nghiệp còn thấp, các
chủ kinh tế trang trại chủ yếu là từ các hộ kinh tế gia đình thành lập tự phát
với lượng vốn khởi điểm thấp. Vốn huy động từ nguồn vay của ngân hàng
nông nghiệp thì ít, do không có tài sản thế chấp, hoặc có thì cũng không đủ để
đáp ứng được lượng vốn cần thiết để phát triển với quy mô cao. Vốn đầu tư
cho nông nghiệp tuy không cần ồ ạt và đầu tư một lúc như trong công nghiệp,
nhưng do đặc thù của sản phẩm nông nghiệp là phải có chu kỳ của sản phẩm,
vì đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật sống, đòi hỏi phải có
thời gian sinh trưởng và phát triển nhất định, chính điều này đầu tư vốn cho
sản xuất nông nghiệp rất dài, hơn nữa trong thời gian như vậy sản phẩm nông
nghiệp lại chịu sức ép rất lớn về thời tiết và khí hậu, dịch bệnh. Bởi vậy rủi ro
thời gian sinh trưởng và phát triển phụ thuộc rất lớn đối với yếu tố tự nhiên.
Trong những năm vừa qua đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, bắt đầu
nền công nghiệp hoá đất nước hình thành, các nhà máy, công xưởng, nhà cửa
mọc lên như nấm, cũng đồng nghĩa với việc nạn phá rừng chàn lan gây nên