SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP
I.Tính cấp thiết
Nghề nghiệp luôn được coi là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến
tương lai của mỗi cá nhân. Vì thế, việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp được
nhiều người đặc biệt quan tâm.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn nghề nghiệp của mỗi người như:
gia đình, bạn bè, bản thân cá nhân,… Một trong những yếu tố ảnh hưởng tới việc
lựa chọn nghề nghiệp phải kể đến ở đây chính là sự khác biệt về giới. Những sự
khác biệt trong 2 giới nam và nữ phần lớn quyết định đến công việc của họ.
Sự khác biệt về giới không chỉ quyết định đến việc lựa chọn nghề nghiệp mà từ
đó nó còn là nguyên nhân trực tiếp kéo theo hàng loạt những hệ quả của sự bất bình
đẳng giới trong xã hội hiện nay.
Khảo sát của các nhà khoa học Mỹ cho thấy, sở dĩ phụ nữ ít chọn nghề nghiệp
trong lĩnh vực khoa học, toán học và kỹ thuật là do họ có nhiều lựa chọn hơn chứ
không phải họ có ít khả năng học tập liên quan đến những lĩnh vực đó. Nghiên cứu
đã cho thấy rằng, phụ nữ theo đuổi ngành nghề ít liên quan đến khoa học, toán học
và kỹ thuật không phải vì có sự thiếu sót hay khác biệt trong kỹ năng đối với nam
giới. Vì vậy, nữ giới có cơ hội định hướng nghề nghiệp rộng rãi hơn nam giới.
Nhưng trên thực tế, phụ nữ chiếm số đông trong một số ngành như: Giáo dục, y tế,
dịch vụ,.. vì những ngành nghề này nhẹ nhàng đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ, giao tiếp
tốt,… Có 34% phụ nữ tham gia vào các hoạt động khoa học và công nghệ trong khi
đó nam giới chiếm 66%; Bởi lẽ, nam giới thường có sức khỏe nên thích hợp trong
những công việc nặng nhọc, đòi hỏi nhiều sức bền dẻo dai cũng như sự linh hoạt
nhạy bén trong các công việc như: kĩ sư, xây dựng, giao thông, quân đội, điện lực,
hàng hải,…
Phải chăng là do sự khác biệt giới đã ảnh hưởng tới sự lựa chọn của cả 2 giới nam
và nữ?
kiểu truyền thống/bảo thủ.
Holland cũng cho rằng hầu hết các môi trường làm việc sẽ phù hợp với những
kiểu loại nhân cách đã được liệt kê ở trên. Holland đưa ra ý kiến, quá trình phát triển
ở tuổi ấu thơ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con người sau này. Tuy
nhiên, lý thuyết của Holland bị chỉ trích là quá đơn giản và mang tính phân biệt giới.
Lý thuyết thứ ba trong phân loại lý thuyết nhân cách là lý thuyết của Ann Roe.
Nhấn mạnh sự tương tác giữa con người và môi trường trong quá trình lựa chọn
nghề nghiệp. Lý thuyết của Roe bắt nguồn từ phân tâm học, những kinh nghiệm từ
thuở ấu thơ sẽ liên quan chặt chẽ đến việc lựa chọn nghề nghiệp sau này. Roe cho
rằng vô thức có vai trò quan trọng trong quá trình quyết định nghề nghiệp. Việc lựa
chọn nghề nghiệp sẽ giúp mối cá nhân thỏa mãn nhu cấu của bản thân mình.
Lý thuyết của Roe cũng gắn chặt với thang nhu cầu của Maslow. Những nhu cầu
cơ bản của con người cần phải được thỏa mãn trước khi thõa mãn những nhu cầu
tiếp theo và việc tìm kiếm nghền nghiệp nhằm thõa mãn nhu cầu cơ bản. Roe đã đưa
ra 8 lĩnh vực nghề nghiệp đó là: dịch vụ, kinh doanh, tổ chức, công nghệ, việc ngoài
trời, khoa học, văn hóa, nghệ thuật, giải trí.
Các lý thuyết dựa trên quá trình phát triển: Tất cả các lý thuyết về quá trình
phát triển đều tập trung tìm hiểu các giai đoạn thay đổi trong cuộc sống con người
và ảnh hưởng của những thay đổi trong các giai đoạn phát triển của con người đến
quyết định lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân.
Theo Ginzberg thì việc phát triển nghề nghiệp có 3 giai đoạn chính.(1) Giai
đoạn yêu thích, giai đoạn này kéo dài đến 11 tuổi.(2) Giai đoạn chú ý, tập trung, từ
11 tuổi đến 17 tuổi. Đay là giai đoạn khả năng và mối quan tâm của cá nhân cần
được kiểm nghiệm.(3) Giai đoạn thực tế, từ 17 tuổi trở lên. Ở giai đoạn này, những
lạu chọn được đưa ra dựa trên sự cân nhắc về khả năng, nhu cầu.
Lý thuyết của Gottfredson được gọi là lý thuyết điều kiện và thỏa hiệp.
Gottfredson lấy khái niệm cái tôi “self-concept” là một thành phần quan trọng trong
việc lựa chọn nghề nghiệp. Có 4 giai đoạn chính trong phát triển nghề nghiệp. (1)
dệt may, 60% trong chế biến lương thực. Các công việc của phụ nữ được trả lương
thấp hơn so với các công việc của nam giới( Theo điều tra lao động và việc làm của
Bộ lao động, thương binh và xã hội năm 2000 – 2003)
•
Trong công việc phụ nữ khó cạnh tranh so với nam giới là những người có sức
khỏe, trình độ cao hơn, lại rảnh hơn so với các chức năng tái sinh sản: tái sinh sản
sinh học và tái sinh sản sức lao động. Nhiều nhà tuyển dụng không muốn tuyển phụ
nữ vì ngại thực hiện chính sách xã hội và năng suất bị giảm sút. Tình trạng thất
nghiệp của phụ nữ đã khiến họ phải chấp nhận các công việc nặng nhọc, lương thấp
và chế độ làm việc không đảm bảo
• Công việc gia đình và thiên chức làm mẹ cũng gây bất lợi cho phụ nữ trong
tuyển dụng lao động. Theo Sở lao đông- Thương binh và xã hội Thành Phố Hà Nội,
cho biết từ đầu năm đến nay, chỉ có 4 trong số hàng trăm doanh nghiệp ở địa bàn
đăng kí sử dụng nhiều lao động nữ. Vì nhận phụ nữ vào làm, sự đóng góp của phụ
nữ cho lợi nhuận của doanh nghiệp chưa thấy đâu đã thấy phải trả rất nhiều khoản
như: chế độ thai sản, giờ cho con bú… Vì điều này mà ngay cả chủ doanh nghiệp là
nữ cũng rất ngại khi nhận lao động nữ.
Do quan niệm của xã hội
• Theo quan niệm phong kiến, nam giới có quyền tham gia việc ngoài xã hội, thực
hiện chức năng sản xuất, gánh vác trách nhiệm và quản lý xã hội, còn phụ nữ trông
nom việc nhà, con cái. Nam giới có toàn quyền chỉ huy định đoạt mọi việc lớn trong
gia đình, nữ giới thừa hành, phục vụ chồng con.
•
Người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới, không có bất kỳ quyền định
lao động nữ từ 15 tuổi trở lên làm công việc khai khoáng chỉ chiếm 31,1%, trong khi
đó nam giới chiếm 68,9%; tham gia hoạt động khoa học và công nghệ thì nữ chiếm
34% và nam chiếm 66%; quản lý nhà nước về an ninh, quốc phòng,bảo đảm xã hội
thì nữ chiếm 24,7% và nam giới chiếm 75.3%. Phụ nữ chỉ mới chiếm trên 5% tổng
số giáo sư, phó giáo sư trong nghề dạy học và nghiên cứu.
Tuy vậy, có một số công việc vốn được coi là “truyền thống” của phụ nữ thì tỷ lệ
nữ tham gia vẫn còn rất cao. Chẳng hạn, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên làm việc
trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng chiếm 71,6%, trong khi nam giới chỉ chiếm
28,4%; giáo dục đào tạo, nữ chiếm 69,2% và nam chiếm 30,8%; y tế và cứu trợ xã
hội, nữ chiếm 59,6%, nam chiếm 40,4%.
Nhìn chung, phân bố cơ cấu nam, nữ trong các ngành nghề cho thấy, nam giới
vẫn thường chiếm tỷ lệ cao hơn ở những nhóm việc như công nhân, lãnh đạo, công
việc chuyên môn kỹ thuật và lực lượng vũ trang. Phụ nữ thường chiếm tỷ lệ cao ở
một số nhóm nghề khác như nông nghiệp, buôn bán nhỏ, nhân viên văn phòng. Mặc
dù chưa có số liệu thống kê chính thức, phụ nữ cũng tham gia rất nhiều vào lực
lượng lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, ước tính khoảng 70% đến
80%. Về chuyên môn và kỹ năng, tỷ lệ phụ nữ được đào tạo ở tất cả các hình thức
đều thấp hơn nam giới, trong khi tỷ lệ phụ nữ tự học lại cao hơn hẳn nam giới. Về vị
thế nghề nghiệp, phụ nữ được đề nghị tuyển dụng ở nhóm việc nhân viên, còn nam
giới được đề nghị vào vị trí lãnh đạo nhiều hơn hẳn nữ giới.
Cũng bàn về việc này nhưng sự khác biệt giới tính trong lựa chọn nghề nghiệp
lại diễn ra khá phổ biến trong nhận thức của các bậc phụ huynh khi định hướng nghề
nghiệp cho con. Bài viết “Về dự định nghề nghiệp cho con của các bậc cha mẹ trong
bối cảnh phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta” của Nguyễn Thị Lan cho biết sự khác
biệt trong lựa chọn nghề nghiệp theo giới:
Các nhóm nghề
1.
2.
3.
4.
12.3
1.1
16.8
13.5
8.4
1.9
3.9
6.5
So sánh việc lựa chọn nghề nghiệp cho con khi chúng trưởng thành theo các tiêu
chí nhân khẩu. Cho thấy có tới 35.5% phụ nữ chọn nghề công chức, viên chức cho
con trong khi chỉ có 19.6% nam giới lựa chọn nghề này cho con. Đối với nghề kinh
doanh 25.3% nam giới dự định cho con theo nghề kinh doanh chỉ có 16.8% nữ giới
lựa chọn nghề kinh doanh cho con.
Lý giải sự khác biệt giữa nam và nữ trong lựa chọn một số nghề là do sự khác
biệt giới quy định: phụ nữ vốn bản tính thích sự ổn định và ít mạo hiểm hơn nam
giới. Đối với họ nghề công chưc, viên chức không chỉ được xem là một nghề nhàn
nhã “Mưa không đến mặt nắng không đến đầu” mà vẫn có thu nhập ổn định đảm
bảo được cuộc sống và có nhiều thời gian giành cho gia đình và con cái; trong khi
kinh doanh là nghề vất vả không ổn định và đầy mạo hiểm
Sự khác biệt giới một phần do sự khác biệt trong cấu tạo não bộ giữa nam và nữ.
Đặc điểm đặc trưng của não bộ nam giới khiến cho hoạt động của não bộ phần lớn
thiên về lý giải một cách tập trung và xây dựng mọi thứ một cách có hệ thống.
Trong khi đó hoạt động não bộ của phụ nữ phần lớn lại thiên về hoạt động cảm xúc.
Đối với các công việc mang tính kết hợp nhiều thao tác cần sự tỷ mỷ khéo léo, phụ
nữ luôn thực hiện tốt hơn so với nam giới (Nghiên cứu của chuyên gia tâm lý
học_K.Laws tại trường ĐH Anh) cho thấy điều đó.
3. Theo điều tra lao động – việcc làm năm 2007 của tổng cục thống kê