BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
TỐNG THỊ HỒNG
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH DỒN ĐIỀN
ĐỔI THỬA ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
TỐNG THỊ HỒNG
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH DỒN ĐIỀN
ĐỔI THỬA ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu
lý luận và tích lũy kinh nghiệm từ thực tế của bản thân. Những kiến thức mà
các thầy cô giáo truyền đạt đã làm sáng tỏ những ý tưởng, tư duy của tác giả
trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều
cá nhân cũng như các tổ chức, cơ quan. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
Ban chủ nhiệm khoa sau đại học, toàn thể các thầy cô giáo trong khoa kinh tế,
phòng thống kê nông nghiệp huyện Kim Sơn, cùng toàn thể các cá nhân, tổ
chức khác và đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn nhất tới thầy giáo TS. Lê
Minh Chính, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
làm luận văn.
Hà Nội, ngày tháng
năm 2012
Tác giả luận văn
Tống Thị Hồng
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan .................................................................................................. i
Lời cảm ơn .....................................................................................................ii
3.1- Tình hình thực hiện dồn điền đổi thửa tại huyện Kim sơn.................. 28
3.1.1- Các thông tin chung về chính sách dồn điền đổi thửa ở huyện..... 28
3.1.2 Kết quả của dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn........................... 33
3.1.3 Sự thay đổi diện tích đất canh tác của huyện sau dồn điền đổi thửa . 36
3.1.4- Tình hình dồn điền đổi thửa ở các xã điều tra ............................. 37
3.2. Thực trạng dồn điền đổi thửa ở các hộ điều tra................................... 42
3.2.1 Những thông tin chung về nhóm hộ điều tra.................................. 42
3.2.2 Quỹ đất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra................................... 45
3.2.3 Quá trình dồn điền đổi thửa của nhóm hộ điều tra........................ 49
3.2.4 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của các hộ điều tra trước và sau
dồn điền đổi thửa................................................................................... 51
3.2.5- Tác động của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông hộ ................ 57
3.2.6- Một số vấn đề khó khăn và nảy sinh trong dồn điền đổi thửa....... 68
3.3 Đánh giá chung về quá trình dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn....... 70
3.4- Định hướng và giải pháp.................................................................... 72
3.4.1 Định hướng................................................................................... 72
3.4.2 Giải pháp...................................................................................... 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................... 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
1.1
1.2
Tên bảng
Diện tích và số thửa ruộng của mỗi hộ nông dân Trung Quốc
Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước
Sự thay đổi đất canh tác của huyện sau khi dồn điền đổi thửa
35
37
3.4
Tình hình dồn điền đổi thửa ở các xã điều tra
38
3.5
3.6
Một số kết quả của dồn điển đổi thửa ở các xã điều tra
Những thông tin chung về nhóm hộ điều tra
40
43
3.7
3.8
Diện tích các loại bình quân của nhóm hộ điều tra
Sự tham gia của các hộ điều tra trong quá trình dồn điền đổi thửa
46
50
3.9
điền đổi thửa
Kết quả giá trị sản xuất của ngành trồng trọt của nhóm hộ điều tra
Tình hình cơ cấu lao động của nhóm hộ điều tra trước và sau khi
dồn đổi
62
3.16
3.17
Trang
10
12
56
58
64
66
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1- Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là loại tài nguyên vô cùng quý giá, trong sản xuất nông nghiệp
ruộng đất là tư liệu sản xuất rất quan trọng và đặc biệt không gì thay thế được.
Hiệu quả ruộng đất của hộ sử dụng đất đai đang là vấn đề cấp bách và lâu dài
của nước ta, đặc biệt là trong tình trạng hiện nay khi mà dân số ngày càng
tăng còn diện tích đất thì đang bị thu hẹp. Đất đai không chỉ là một mảng
đã và đang diễn ra mạnh mẽ trong cả nước và được ủng hộ đồng tình của đông
đảo các hộ dân. Tuy chưa có sự chỉ đạo của UBND huyện nhưng nhiều hộ
trong huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đã tiến hành đổi dồn điền đổi thửa hưởng
ứng phong trào chung của cả nước.
Để hiểu rõ hơn về những tác động của việc dồn điền đổi thửa tới việc
sản xuất nông nghiệp trong cả nước nói chung và sản xuất nông nghiệp ở
huyện Kim Sơn nói riêng. Đặc biệt là với mong muốn đưa ra bằng chứng cho
thấy việc dồn điền đổi thửa đem lại lợi ích như thế nào để từ đó chính quyền
huyện Kim Sơn có thể tiến hành phong trào đồng loạt trên địa bàn huyện tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử
dụng đất Nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”
2- Mục tiêu nghiên cứu.
-
Mục tiêu tổng quát
Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử
dụng đất Nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”.
-
Mục tiêu cụ thể
+ Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về tích tụ
và tập trung đất đai trong nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất trong nông
nghiệp.
3
+ Đánh giá kết quả thực hiện chính sách trên địa bàn huyện Kim Sơn.
+ Đánh giá tác động chính sách đất đai đến hiệu quả sử dụng đất nông
bản lớn hơn, thông qua việc các nhà tư bản thôn tính nhau hay liên doanh, liên
kết với nhau” .
Hai phương thức này đều làm tăng quy mô tư bản, chúng có liên quan
chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện và thúc đẩy nhau.
Như vậy, tập trung đất đai trong nông nghiệp là phương thức làm tăng
quy mô diện tích của thửa đất và chủ thể sử dụng đất thông qua các hoạt động
dẫn tới tập trung ruộng đất như: chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê đất, thuê lại
đất, thừa kế, thế chấp...
Hay nói cách khác, tập trung ruộng đất là việc sát nhập hoặc hợp nhất
ruộng đất của những chủ sở hữu khác nhau vào một chủ sở hữu hoặc hình thành
một chủ sở hữu mới có quy mô ruộng đất lớn hơn. Tập trung ruộng đất diễn ra
theo hai con đường: một là hợp nhất ruộng đất của các chủ sở hữu cá biệt nhỏ hơn
thành một chủ sở hữu cá biệt khác lớn hơn. Con đường này được thực hiện thông
qua việc xây dựng HTX sản xuất nông nghiệp ở nước ta trước đây.
Hai là, con đường sát nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ cá biệt để
5
tạo ra quy mô lớn hơn. Con đường này được thực hiện thông qua biện pháp
tước đoạt hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất. Con đường này diễn ra
mạnh mẽ ở các nước tư bản.
Việc tập trung ruộng đất vào tay chủ sở hữu mới tạo ra kết quả hai mặt
là: Một mặt làm cho một bộ phận nông dân trở thành không có ruộng đất,
buộc họ phải đi làm thuê hoặc rời quê hương tìm kế sinh nhai. Mặt khác, tạo
cho chủ đất có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đầu tư thâm canh
tăng năng suất cây trồng, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các
kinh tế ngành khác, mà trước hết là công nghiệp.
Ở nước ta, việc tập trung ruộng đất diễn ra do một số nguyên nhân sau:
- Một số hộ làm ăn khá giả, có vốn, có trình độ kỹ thuật và quản lý kinh
doanh muốn có thêm đất đai để sản xuất.
sản xuất, thì nó có giá là điều hiển nhiên. Như vậy, trong điều kiện của kinh tế
thị trường, đất đai trở thành đối tượng của sự mua bán, chuyển nhượng, cầm
cố, thuê mướn. Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2004
của Chính phủ đã quy định các chủ thể sử dụng đất có thể chuyển đổi, thế
chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt, là một
trong các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Trên thị trường, nó là loại
hàng hoá đặc biệt. ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất quản lý, vì vậy việc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đều được thông qua nhà nước. Vì thế đất đai là hàng hoá, do vậy nó cũng phải
tuân theo quy luật cung- cầu như những hàng hoá khác.
1.1.3 Tác động của dồn điền, đổi thửa đến quyết định sản xuất và sản xuất
nông nghiệp của nông hộ
Dồn điền đổi thửa phát huy được tính tự chủ của đơn vị kinh tế hộ nông
dân trong việc ra các quyết định sản xuất nông nghiệp. Đó chính là sự tăng
7
quy mô sản xuất, đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng các thành tựu
khoa học kỹ thuật để làm tăng giá trị và hiệu quả sử dụng đất, thâm canh tăng
vụ, tăng năng suất... Khi dồn điền đổi thửa tiến hành sẽ có các ô thửa lớn, diện
tích được tập trung lại thành vùng, các hộ dân có kế hoạch bố trí cơ cấu sản xuất,
cơ cấu thời vụ, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào đồng
ruộng, tăng năng suất và chất lượng, đưa thu nhập ngày công lao động cao, đưa
nền nông nghiệp nước ta thành một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá tập trung,
quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến và có khả năng cạnh tranh trên thị
trường quốc tế. Dồn điền, đổi thửa đã làm thay đổi cách nghĩ, cánh làm, tập quán
trước đây của người nông dân quen canh tác trên thửa đất nhỏ, chần chừ, do dự, ỷ
lại không muốn đầu tư thâm canh. Khi có ô thửa ruộng lớn, thì nếp nghĩ của họ
thay đổi cho phù hợp với tiến trình của công nghiệp hoá nông nghiệp. Hộ nông
cơ cấu cây trồng sang những loại hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao hơn, hoặc
phù hợp với điều kiện canh tác của mình hơn. Gây sự phức tạp tốn kém trong
công tác quản lý ruộng đất, xây dựng hồ sơ địa chính (chi tăng từ 35%-50%
nếu như ruộng đất vẫn còn manh mún), dễ phát sinh tiêu cực trong quản lý đất
đai. Hạn chế các quyền sử dụng đất của hộ nông dân và không phù hợp với
sản xuất hàng hoá. Công tác quy hoạch lại đồng ruộng (giao thông, thuỷ lợi,
cải tạo đất,...) bị hạn chế, không thực hiện được toàn diện triệt để.
Sau hội nghị chuyên đề về chuyển đổi ruộng đất do Tổng cục Địa chính
tổ chức lần 1 vào tháng 7/1997 tại Hà Nội, tổ chức lần 2 tại Hà Tây vào tháng
8/1998 cho đến nay các các tỉnh đã có phong trào chuyển đổi ruộng đất, dồn
điền đổi thửa ngày càng phát triển sâu rộng hơn. Có thể thấy được những ảnh
hưởng của việc dồn điền đổi thửa như ở Hải Dương, đã tác động tích cực đối
với nhiều mặt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Đây là
điều kiện để hợp tác kinh tế nảy nở: từ mô hình tổ hợp tác, mô hình doanh
nghiệp nông nghiệp đến hợp tác kinh tế vùng, tiểu vùng. Từ đó đẩy hoạt động
9
chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đầu tư và xúc tiến thị trường tiêu thụ cho sản
xuất nông sản hàng hoá. Sau dồn điền, đổi thửa các vùng chuyên canh lớn
hình thành đồng thời với tăng cường hợp tác vùng sẽ hạn chế được nhiều cơ
sở chế biến ra đời không gắn với vùng nguyên liệu và ngược lại.
1.3 Quá trình tích tụ và tập trung đất đai trong nông nghiệp của một số
nước trên thế giới và Việt Nam
* ở Trung Quốc: Vào những năm cuối của thập kỷ 70, Trung Quốc đã
tiến hành công cuộc cải cách kinh tế mà trước tiên là cuộc cải cách nông thôn,
xoá bỏ chế độ sở hữu tập thể, vì vậy mà loại hình kinh tế HTX không còn mà
thay vào đó là hình thức khoán đến hộ, theo đó đất đai từ sở hữu HTX chuyển
thành sở hữu của thôn còn quyền sử dụng đất được giao cho hộ. Cuộc cải cách
này đã tạo ra động lực mới cho sự phát triển nông nghiệp. Người nông dân được
0,446
5,85
0,08
1988
0,466
5,67
0,078
1990
0,420
5,52
0,076
1998
0,470
3,02
0,18
thửa ruộng sau khi chuyển đổi phải đạt diện tích tối thiểu 3000 m2 nhưng phải
tiếp giáp với mương, máng, đường giao thông. Quá trình chuyển đổi này kéo
dài từ 5- 6 năm, hình thức thực hiện chuyển đổi là do tổ hợp cộng đồng nông
nghiệp từ 15 hộ trở lên đứng ra xin phép và Uỷ ban nông nghiệp cấp tỉnh có
quyền cho phép. Kết quả của quá trình chuyển đổi này là mỗi hộ bình quân có
1,8 thửa trên hộ. Việc chuyển đổi xử lý đất nông nghiệp đã làm tăng năng suất
của máy móc nông nghiệp, tăng sức sản xuất của đất đai, làm tăng năng suất
lao động của nông dân, tạo điều kiện phát triển hàng hoá để nâng cao sức
cạnh tranh của nông nghiệp. Hiện nay việc chuyển đổi xử lý ruộng đất được
tiếp tục khuyếch trương lên, diện tích mỗi thửa là 10.000 m2 - 20.000m2.
* ở Mỹ: Tuy tỷ trọng giá trị sản lượng các sản phẩm nông nghiệp trong
tổng sản phẩm quốc dân không đáng kể (khoảng 2%) nhưng Chính phủ Mỹ
vẫn rất quan tâm đến sản xuất nông nghiệp. Chính phủ cấp đất cho hộ và đồng
thời cho phép mua bán hoặc thuê đất để hình thành trang trại. Sản phẩm nông
nghiệp chủ yếu do 2,2 triệu trang trại sản xuất ra, trong đó có trang trại gia đình
(có quy mô 180-200 ha) chiếm gần 90%. Do quy mô các trang trại loại này nhỏ
nên chỉ chiếm khoảng 65% diện tích canh tác, các trang trại liên doanh và hợp
doanh chiếm hơn 10%, có quy mô bình quân khoảng 800-900ha. Có khoảng
20% nông trại đã sử dụng máy tính hiện đại để lập chương trình phát triển sản
xuất cho ngành trồng trọt và chăn nuôi. Việc tích tụ và tập trung ruộng đất để đi
12
vào công nghiệp hoá và tạo ra ưu thế cạnh tranh về chất lượng nông sản và giá
thành ở nước Mỹ.
*Tình hình manh mún ruộng đất ở Việt Nam.
Luật Đất đai năm 1999 và được sửa đổi bổ sung năm 2003 đã thực hiện
công bằng xã hội, sau đó là Nghị Định 64/CP của Chính phủ ngày 27/09/1993
và gần đây là về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; theo phương châm có tốt,
Trung du miền núi Bắc bộ
2
Đồng bằng sông Hồng
7
25
300-400
100-150
3
Duyên hải bắc trung bộ
7-10
30
300-500
200-300
4
Duyên hải Nam trung bộ
1000-5000
7
Đồng bằng sông cửu long
3
10
3000-5000
500-1000
(Nguồn Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003)
Theo số liệu Bộ Tài nguyên và Môi trường thì cả nước hiện có khoảng
7.843 ha đất nông nghiệp chia thành 75 triệu mảnh cho 10.824 nghìn hộ. Tính
trung bình cả nước, một hộ sử dụng 0,72ha đất nông nghiệp và diện tích mỗi
mảnh là một 1.045m2. Nhưng nếu chỉ xét riêng khu vực miền Bắc thường từ
13-25 thửa, ngay trên một số đồng một hộ cũng có nhiều thửa. Có thể nói đó
13
là một thách thức lớn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là theo hướng sản
xuất hàng hoá.
Kết quả điều tra của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cũng đã
phản ánh rõ mức độ manh mún đất nông nghiệp ở 7 tỉnh thuộc vùng đồng
bằng sông Hồng. Qua bảng ta thấy tỉnh Nam Định có tổng số thửa trung bình
nhỏ nhất là 5,7 thửa/hộ có thể thấy tỉnh Nam Định diện tích đất nông nghiệp
khác đồng đều về chất đất, diện tích các thửa tương đối cao 288 m2/thửa.
bình
1
Hà Tây
3
29
9,5
20
700
216
2
Hải Phòng
5
18
7
20
10
5868
228
5
Nam Định
3,1
19
5,7
10
1000
288
6
Hà Nam
7
37
đai ở mỗi địa phương và một độ dân số. Do được khai phá từ rất sớm, ruộng
14
đất của các làng, xã đã bị các đê phân cắt thành ô thửa có địa hình cao thấp
khác nhau. Mỗi làng, mỗi xã đều có ruộng cao, ruộng thấp khác nhau và
ruộng vàn khá phức tạp. Nguyên nhân thứ 2 là chế độ thừa kế bằng cách chia
đều ruộng đất cho tất cả con cái, ở Việt Nam ruộng đất của bố mẹ thường chia
đều cho tất cả các con cái sau khi tách từ ở chung ra ở riêng. Nguyên nhân thứ
3 phải kể đến tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ. Nhìn chung do quy
mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại đứng trước mỗi thay đổi, nhất là
những thay đổi liên quan đến ruộng đất. Kết quả điều tra của trung tâm Khoa
học xã hội và Nhân văn Quốc gia năm 2001 cho thấy ở đồng bằng có đến
86,5% số hộ được hỏi không muốn điều chỉnh lại ruộng đất cho phù hợp với
sản xuất. Và nguyên nhân cuối cùng mà hầu như tất cả những ai quan tâm đến
sự manh mún ruộng đất đều nhất trí, đó là nguyên nhân liên quan đến phương
pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có xa, có gần, có
thấp, có cao khi thực hiện Nghị định 64/CP của Chính phủ về giao quyền sử
dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho hộ nông dân. Việc chia nhỏ các
ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã góp phần không nhỏ làm tăng tình
trạng manh mún ruộng đất ở Việt Nam.
1.4 Các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên
quan đến tập trung ruộng đất
- Nghị quyết 06 của Bộ chính trị, tháng 11/1999 đã xác định “về tích tụ
ruộng đất, việc chuyển nhượng quyền sử dụng, tích tụ và tập trung ruộng đất
là hiện tượng sẽ diễn ra trong trong quá trình phát triển nông nghiệp lên sản
xuất hàng hoá lớn. Việc tích tụ và tập trung ruộng đất phải được kiểm soát,
quản lý chặt chẽ của Nhà nước”.
- Đai hội lần thứ VII- 6/1991 đã xác định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước thống nhất quản lý và giao cho nông dân quyền sử dụng lâu dài''.
dụng đất; hình thức chuyển đổi quyền sử dụng đất; quyền và nghĩa vụ của các
16
bên chuyển đổi quyền sử dụng đất.
- Điều 102, Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 29/10/2004
về việc hướng dẫn thi hành luật đất đai năm 2003 “ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng
đất nông nghiệp do Nhà nước giao đất hoặc chuyển đổi, nhận chuển nhượng,
nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì được
chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp đó cho hộ gia đình, cá nhân khác
trong cùng xã, phường, thị trấn để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Hộ gia đình, cá nhân chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp theo
chủ trương chung về “dồn điền đổi thửa” thì không phải nộp thuế thu nhập từ
việc chuyền quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính.
Như vậy có thể nói, chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật của
Nhà nước về việc chuyển đổi ruộng đất thực hiện “dồn điền đổi thửa” trong
nông nghiệp đã tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho việc tích tụ và tập trung
đất đai. Tuy nhiên, văn bản pháp luật ban hành chậm. Bên cạnh đó Chính phủ
chưa có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể đối với các tỉnh, thành phố để
hướng dẫn nông dân thực hiện chuyển đổi ruộng đất, thực hiện dồn điền đổi
thửa mà để các tỉnh thành phố thấy cần thiết thì triển khai.
1.5 Dồn điền đổi thửa hướng đi tất yếu
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đang là một chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm hình thành nên nông nghiệp hàng
hóa phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái từng vùng, góp
phần tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của
thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trong thời toàn cầu hóa thị
trường. Trong bối cảnh hiện nay, không còn sự lựa chọn nào khác, dồn điền
đổi thửa là hướng đi tất yếu để đưa nền nông nghiệp vốn manh mún, nhỏ lẻ
thực sự trở thành một ngành sản xuất hàng hoá, quy mô lớn. Hơn 10 năm dồn
theo hướng hàng hóa. Song thực tế ruộng đất ở nông thôn, miền núi mỗi hộ
18
đều có năm, bảy mảnh đầu làng cuối xã, thổ nhưỡng khác nhau, rất manh
mún, làm sao có thể sản xuất được chuyên canh cây trồng với số lượng lớn,
cây có giá trị kinh tế đủ tiêu chuẩn về chất lượng, giá thành hạ… đáp ứng yêu
cầu thị trường và tham gia xuất khẩu?
Để vươn tới nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, đủ sức cạnh tranh
trong tương lai thì lại cần phải phấn đấu loại bỏ dần tư tưởng sản xuất tiểu
nông, nhỏ lẻ. Công tác DĐĐT rất quan trọng, tạo “bước đệm” để sản xuất
nông nghiệp nâng cao giá trị, tạo ra những sản phẩm hàng hóa chất lượng,
khai thác hết tiềm năng của mỗi địa phương. Nhưng nếu chỉ làm bằng khẩu
hiệu mà không có những giải pháp cụ thể, kịp thời thì mục tiêu sẽ khó thành
hiện thực. Và nếu không đẩy mạnh việc quy hoạch, DĐĐT, thay đổi cơ cấu
cây trồng để sản xuất hàng hóa quy mô lớn thì công cuộc CNH, HĐH nông
nghiệp vẫn chỉ nằm trên “bàn giấy”. Việc Dồn điền - tích tụ ruộng đất ở các
nước phát triển, có nền sản xuất lớn đã trở thành “điển hình” tạo cho họ thành
tựu lớn trong ứng dụng công nghệ, tiến bộ KHKT, cho năng suất, chất lượng
tốt. Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới cũng đồng thời là nước có nền sản
xuất nông nghiệp lớn. Không những thế, đây còn là quốc gia được đánh giá
cao nhất thế giới về “nền văn minh trang trại”. Nông nghiệp của họ trở thành
ngành kinh doanh lớn nhất thế giới hiện nay.
Nền kinh tế Việt Nam đã thực sự hội nhập sâu trong nền kinh tế thế
giới. Tức là sự cạnh tranh trong sản xuất ngày càng được đẩy lên cao. Việc
DĐĐT, tích tụ ruộng đất đối với nền sản xuất nông nghiệp hơn lúc nào hết rất
cần được chỉ đạo quyết liệt, làm cho được. Có như vậy, chúng ta mới đi đến
chuyên canh sản xuất được, đưa máy móc, thiết bị hiện đại, đi cùng việc ứng
dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, tạo ra hướng làm ăn mới theo phương
thức sản xuất hàng hóa. Bởi vì, sản xuất thời hội nhập là làm ra các sản phẩm