BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
PHẠM THỊ HƯƠNG GIANG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN
PHÁT TRIỂN GIỐNG LÚA QR1 TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN YÊN KHÁNH – TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2012
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn và kính
trọng tới tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Văn
Tuấn người đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học, Khoa
Kinh tế, các đơn vị liên quan của Trường Đại học Lâm nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp và phát
triển nông thôn tỉnh Ninh Bình, UBND huyện Yên Khánh, Phòng Nông
1.1.2. Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập
trung .......................................................................................................... 10
1.1.3. Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp .............................. 21
1.2. Kinh nghiệm thực tiễn về phát triển sản xuất hàng hóa tập trung ... 32
1.2.1. Trên thế giới ................................................................................... 32
1.2.2. Tại Việt Nam .................................................................................. 34
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 40
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình 40
2.1.1 Điều kiện tự nhiên .......................................................................... 40
2.1.2. Điều kiện KT - XH ......................................................................... 43
2.1.3. Tình hình sản xuất kinh doanh trong huyện ............................... 49
2.2. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 51
2.2.1. Chọn điểm nghiên cứu................................................................. 51
2.2.2. Thu thập thông tin thứ cấp .......................................................... 51
2.2.3. Thu thập tài liệu sơ cấp ............................................................... 52
iii
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 55
3.1. Thực trạng và hiệu quả sản xuất kinh doanh lúa tại huyện Yên Khánh.. 55
3.1.1. Tình hình phát triển SXKD cây lúa của huyện .......................... 55
3.1.2. Hiệu quả SXKD các giống lúa chủ yếu của huyện .................... 64
3.2. Hiệu quả kinh tế của giống lúa QR1 thí điểm tại huyện Yên Khánh 65
3.2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng giống lúa QR1 thí điểm tại
huyện Yên Khánh ................................................................................... 65
3.2.2. Chi phí sản xuất cho 1 ha giống lúa QR1 .................................. 71
3.2.3. Thu nhập trên 1 ha giống lúa QR1 ............................................. 73
3.2.4. Một số chỉ tiêu HQKT của giống lúa QR1.................................. 74
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
DT
Diện tích
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
ĐVT
Đơn vị tính
FAO
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
Ha
Hecta
HQKT
Hiệu quả kinh tế
HTNN
TMDV
Thương mại dịch vụ
SXCN
Sản xuất công nghiệp
SXHH
Sản xuất hàng hóa
SXKD
Sản xuất kinh doanh
SXNN
Sản xuất nông nghiệp
UBND
Ủy ban nhân dân
XDCB
Xây dựng cơ bản
42
2.2
Tình hình dân số và lao động của huyện năm 2011
45
2.3
Một số chỉ tiêu KT - XH của huyện năm 2011
50
2.4
Bảng phân tích SWOT
53
3.1
Tình hình sản xuất lúa huyện Yên Khánh (2009 - 2011)
55
3.2
Kết quả sản xuất nông nghiệp vụ đông 2010 - 2011 của huyện Yên
Kết quả sản xuất giống lúa QR1 qua 4 vụ sản xuất
70
3.8.
Chi phí sản xuất cho 1 ha giống QR1
72
3.9
Thu nhập trên 1 ha giống QR1
74
3.10
Một số chỉ tiêu HQKT của giống lúa QR1
75
3.11
So sánh 1 số chỉ tiêu giống QR1 so với các giống lúa khác tại
huyện Yên Khánh
77
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Sự cấp thiết của đề tài
Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay.
Trong đó ngành trồng lúa là một trong những ngành sản xuất lương thực vô
cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở
thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Vì vậy, cây lúa giữ vai trò
to lớn trong đời sống kinh tế, xã hội của Việt Nam, việc tăng năng suất cho
cây lúa có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngày nay giống vẫn được xem là
một trong những yếu tố hàng đầu trong việc không ngừng nâng cao năng suất
cây trồng. Các nhà khoa học ước tính khoảng 30 - 50% mức tăng năng suất
hạt của các cây lương thực trên thế giới là nhờ việc đưa vào sản xuất những
giống tốt mới.
Những năm 60, ở nước ta hầu như chỉ có những cánh đồng lúa 1 vụ với
những giống lúa địa phương cao cây, dài ngày, tuy chất lượng khá nhưng
năng suất thấp. Trong thời gian 20 năm trở lại đây, nhiều cơ quan nghiên cứu
đã cho ra đời nhiều giống lúa cao sản ngắn ngày, có phẩm chất tốt, đảm bảo
đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, cho phép tạo ra những cánh đồng lúa 2 - 3 vụ với
năng suất có thể đạt 6 - 7 tấn lúa/ha/vụ, đã thay thế hầu hết những cánh đồng
lúa 1 vụ dùng giống lúa địa phương, năng suất thấp, phẩm chất kém. Thực
tiễn sản xuất đang đòi hỏi cấp bách phải nghiên cứu tìm ra những giống lúa có
năng suất cao, chất lượng đảm bảo xuất khẩu, nhưng đồng thời phải kháng
sâu bệnh, tạo ra hạt giống lúa khỏe phục vụ sản xuất, có như vậy mới tạo cho
sản xuất lúa an toàn, bền vững lâu dài, giữ vững an toàn lương thực, đảm bảo
xuất khẩu, từng bước nâng cao đời sống người nông dân.
Yên Khánh là một huyện đồng bằng thuộc tỉnh Ninh Bình, với trên
93% dân cư sống ở nông thôn và 71% lao động nông nghiệp. Với điều kiện tự
3
+ Làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển giống lúa QR1
tại huyện Yên Khánh;
+ Đề xuất được giải pháp để phát triển giống lúa QR1 tại huyện Yên
Khánh - Tỉnh Ninh Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu tập trung vào các hoạt động tổ chức sản xuất và
hiệu quả kinh tế trong SXKD cây lúa tại huyện Yên Khánh - Ninh Bình.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Phạm vi về nội dung:
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vào khía cạnh kinh tế mà không có
điều kiện nghiên cứu về các vấn đề kỹ thuật trong SXKD cây lúa tại địa bàn
nghiên cứu.
+ Phạm vi về không gian:
Tập trung nghiên cứu các hộ gia đình áp dụng trồng giống lúa QR1 thí
điểm tại 2 xã Khánh Cường và Khánh Trung thuộc huyện Yên Khánh, tỉnh
Ninh Bình.
+ Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập từ năm 2009 đến nay.
4. Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất và phát triển vùng sản xuất lúa tập
trung;
- Thực trạng và hiệu quả sản xuất kinh doanh một số giống lúa chủ yếu
trên địa bàn huyện Yên Khánh giai đoạn 2009 đến nay;
- Những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển giống lúa QR1 tại huyện Yên
Khánh;
- Các giải pháp chủ yếu góp phần phát triển giống lúa QR1 tại huyện
Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
5
sinh lý khác nhau, nhu cầu dinh dưỡng và điều kiện phát triển khác nhau. Vì
vậy, tùy vào điều kiện mà có các biện pháp chăm sóc hợp lý để cung cấp đầy
đủ các điều kiện cần thiết giúp cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt đem
lại năng suất cao [9].
Cũng như các cây trồng khác cây lúa chịu sự tác động lớn của các yếu
tố điều kiện tự nhiên như: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, lượng mưa, lũ lụt, hạn
hán….Nếu cấy lúa gặp điều kiện thuận lợi cây sẽ sinh trưởng phát triển tốt
cho năng xuất cao. Ngược lại nếu gặp thời tiết khắc nghiệt tùy theo mức độ
khác nhau mà cây có thể bị chết hoặc còi cọc, sinh trưởng và phát triển chậm
cho năng suất thấp.
Bảng 1.1. Tổng hợp sản lượng lúa Thế giới và Châu lục (2001- 2005)
Đơn vị tính: Triệu tấn
TT
Thế giới, Châu lục 2001
Cộng Toàn Thế giới
2002
2003
2004
2005
1.457
1.574
1.344
4
Nam Mỹ
19.784
19.601
19.973
23.726
24.020
5
Bắc, Trung Mỹ
12.260
12.195
11.623
hợp. Ngoài ra sản xuất lúa còn mang nặng tính thời vụ. Thời gian gieo cấy và
thu hoạch dồn dập đã gây sức ép lớn về lao động khi thời vụ đến nhưng sau
khi thời vụ qua đi thì lao động lại nhàn rỗi nhiều. Do đó phải có thêm nghề
phụ để ổn định cuộc sống, giải quyết vấn đề lao động trong lúc nông nhàn.
1.1.1.2. Vai trò sản xuất lúa gạo
a) Gạo dùng làm lương thực - một trong những nhu cầu cơ bản của con người
Cây lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới: lúa mì,
lúa, ngô. Lúa gạo là nguồn cung cấp dinh dưỡng quan trọng của con người.
Lúa cung cấp tinh bột: giá trị nhiệt lượng của lúa là 3594 calo. Lúa cung cấp
các vitamin, protein, lipit. Từ đặc điểm dinh dưỡng của hạt, đã từ lâu lúa gạo
được coi là nguồn thực phẩm và dược phẩm có giá trị. Tổ chức Quốc tế đã gọi
hạt gạo là “hạt của sự sống’’. Lúa cung cấp lương thực cho 1/2 dân số thế
giới. Trong cơ cấu sản xuất lương thực của thế giới: lúa mì chiếm 30,5%, lúa
gạo 26,5%, ngô 24%, còn lại các loại ngũ cốc khác.
Lúa là cây trồng thân thiết, lâu đời nhất của nhân dân ta và nhiều dân
tộc khác trên thế giới, đặc biệt là các nước ở châu Á. Lúa gạo là loại lương
thực chính của người dân châu Á, cũng như bắp của người dân Nam Mỹ, hạt
kê của dân châu Phi, hoặc lúa mì của dân châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, có
thể nói, trên khắp thế giới, ở đâu cũng có dùng đến lúa gạo hoặc các sản phẩm
từ lúa gạo. Khoảng 40% dân số trên thế giới lấy lúa gạo làm nguồn lương
thực chính. Trên thế giời có hơn 110 quốc gia có sản xuất và tiêu thụ gạo với
các mức độ khác nhau. Lượng lúa được sản xuất ra và mức độ tiêu thụ gạo
cao tập trung ở khu vực châu Á. Năm 1980, chỉ riêng ở châu Á đã có hơn 1,5
tỷ dân sống nhờ lúa gạo, chiếm trên 2/3 dân số châu Á.
Đặc biệt đối với dân nghèo, gạo là nguồn thức ăn chủ yếu. Các nước
nghèo thường dùng gạo là nguồn lương thực chính, khi thu nhập tăng lên mức
7
11.4
9.6
8.5
1
Protein
2
Chất béo
(%)
2.2
5.7
4.5
2.6
3
Chất đường bột
(%)
1.6
3
1.6
6
Năng lượng
(cal/100g)
436
461
447
447
7
Thiamin (B1)
(mg/100g)
0.52
0.37
4.7
10 Fe
(mg/100g)
5
4
10
3
11 Zn
(mg/100g)
3
3
2
2
12 Lysine
(g/16gN)
3.9
15 Tryptophan
1
0.6
1
1.1
(g/16gN)
(Nguồn: McCanco và Widdowston, 1960: Khan và Eggum, 1978 và Eggum, 1979)
8
Giả sử một người trung bình cần 3200 calo mỗi ngày thì một hecta lúa
có thể nuôi 2055 người/ngày hoặc 5,63 người/năm, trong khi lúa mì chỉ nuôi
được 3,67 người/năm; bắp 5,3 người/năm. Hơn nữa, trong gạo lại có chứa
nhiều acid amin thiết yếu như: Lysine, Threonine, Methionine, Tryptophan…
hơn hẳn lúa mì.
Trong hạt gạo, hàm lượng dinh dưỡng tập trung ở các lớp ngoài và
giảm dần vào trung tâm. Phần bên trong nội nhũ chỉ chứa chủ yếu là chất
đường bột. Cám hay lớp vỏ ngoài của hạt gạo chiếm 10% trọng lượng khô là
thành phần rất bổ dưỡng của lúa, chứa nhiều protein, chất béo, khoáng chất và
vitamin đặc biệt là các vitamin nhóm B.
Ngoài việc sử dụng làm lương thực chủ yếu, các sản phẩm của cây lúa
còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
b) Gạo dùng để chăn nuôi
Nói chung, gạo dùng để chăn nuôi gia súc chủ yếu là tấm và gạo có
chất lượng xấu. Trước đây, khoảng 5% tổng sản lượng gạo được dùng để
cả các loại ngũ cốc trên thị trường thế giới tăng vọt, giá gạo từ 147 đôla/tấn
(1972) tăng lên đến 350 đôla/tấn (1973), lúa mì từ 69 đôla (1972) lên 137
đôla/tấn (1973) và bắp từ 56 đôla/tấn (1972) lên 98 đôla/tấn (1973). Giá gạo
đã đạt đỉnh cao vào năm 1974 là 542 đôla/tấn, trong khi gạo thơm đặc sản
Basmati (gạo số 1 thế giới) lên đến 820 đôla/tấn. Sau đó, giá gạo giảm dần và
tăng lên trở lại trên 430 đôla/tấn trong những năm 1980 - 1981 để rồi giảm
xuống và có khuynh hướng ổn định ở khoảng 200 - 250 đôla/tấn, tức vẫn ở
mức gấp đôi giá lúa mì và gấp 3 bắp.
Giá gạo thế giới trong những năm 90 biến động khá lớn, trong đó năm
1993 thấp nhất, sau đó tăng dần lên và tương đối ổn định từ năm 1997 - 1998.
Giá gạo Việt Nam (5% tấm) bán trên thị trường thế giới ở mức trung bình từ
220 - 290 đôla/tấn. Từ năm 2000 trở đi, giá gạo thế giới tăng đều và ổn định ở
mức 10%/năm.
10
Việt Nam là một trong ba nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới, đem
lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế. Trong những năm tới chúng ta sẽ
chú ý sản xuất lúa đặc sản có mùi, dạng hạt đẹp để tăng chất lượng gạo, tăng
giá trị xuất khẩu. Hiện tại có nhiều doanh nghiệp đã chú trọng đến vấn đề này.
Công tác lai tạo giống có chất lượng cao phù hợp với điều kiện ngoại cảnh
đang được đẩy mạnh. Chủ chương liên kết 4 nhà: nhà nước, nhà khoa học,
nhà nông nhà doanh nghiệp trong nông nghiệp sẽ giúp cho việc xuất khẩu gạo
của Việt Nam phát triển.
e) Lúa gạo tham gia ổn định an ninh lương thực của thế giới
Đứng trước sự khó khăn về lương thực ở nhiều nước và các châu lục.
Hội nghị thượng đỉnh lương thực thế giới do FAO tổ chức tháng 10 năm 1996
tại Roma đã nêu rõ “ vấn đề đói và không an ninh lương thực là vấn đề mang
tính toàn cầu và ngày càng có xu hướng trầm trọng thêm ở một số khu vực,
nhằm tăng tỷ trọng nông sản hàng hoá. Vì vậy, để sản phẩm đưa ra thị trường
vẫn đảm bảo chất lượng, đòi hỏi các hộ cần đầu tư hợp lý trong các khâu của
quá trình sản xuất [28].
Nhiệm vụ của nông nghiệp trong những năm tới phải đảm bảo 2 yêu cầu
lớn là:
Một là: Tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của SXNN theo hướng
SXHH nhằm đảm bảo nhu cầu đời sống nhân dân được cải thiện thêm một
bước, có đủ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, kim ngạch xuất khẩu ngày
càng lớn.
Hai là: Đồng thời phải góp phần giải quyết yêu cầu về công bằng xã hội
trong nông thôn, trong đó những vấn đề đòi hỏi giải quyết bức bách trong quá
trình thực hiện cơ chế quản lý kinh tế.
1.1.2.2. Phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững
Mục đích cuối cùng của nông nghiệp không chỉ là sản xuất ra nông sản
mà chính là sự bồi dưỡng và hoàn thiện đời sống con người. Để đáp ứng nhu
cầu nhiều mặt ngày càng tăng của con người đòi hỏi ngành nông nghiệp phải
12
sản xuất ra ngày càng nhiều lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến, đồng thời tạo ra cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho SXNN hàng hoá
phát triển. Với những thành tựu của khoa học nông nghiệp, các hộ nông dân,
các cơ sở sản xuất đã tập trung sản xuất những cây trồng có khả năng thích
nghi cao với điều kiện sinh thái, có lợi thế hơn các vùng khác trên thị trường,
hình thành hệ thống cây trồng ngày càng có hiệu quả kinh tế cao. Sử dụng
một cách hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, gắn lợi ích
trước mắt với hiệu quả lâu dài, bền vững, gắn lợi ích kinh tế với bảo vệ môi
trường và cải tạo môi trường sinh thái [39].
Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp đòi hỏi sự quản lý thành
công nghệ được cải tiến, cải thiện tài nguyên môi trường và hiệu suất kinh tế
được nâng cao, ổn định. Mục tiêu của quản lý đất bền vững là “Điều hoà các
mục tiêu và tạo cơ hội cho việc đạt được kết quả về môi trường, kinh tế, xã
hội vì lợi ích của không chỉ các thế hệ hiện nay mà còn cho thế hệ trong tương
lai” trong khi vẫn duy trì và nâng cao chất lượng của tài nguyên đất.
Cơ sở SXNN hàng hoá phụ thuộc vào các nhóm yếu tố sau :
- Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên: Bao gồm đất, nước, thời tiết
khí hậu, sinh vật… là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông
nghiệp. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể lợi dụng
những yếu tố đầu vào miễn phí để tạo ra những nông sản hàng hoá với giá rẻ.
Lưu ý cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây
trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định lượng đầu tư thâm canh phù hợp.
- Nhóm các yếu tố về kỹ thuật canh tác: là những tác động của con
người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố
của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế.
- Nhóm các yếu tố tổ chức: gồm công tác quy hoạch và bố trí sản xuất,
dịch vụ kỹ thuật….
- Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội: Phát triển nông nghiệp theo hướng
14
SXHH cũng giống như ngành sản xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự
chi phối của quy luật cung cầu, chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đầu
vào và quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn, thị trường, kiến thức và
cả kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản.
- Thị trường là yếu tố quan trọng, dựa vào nhu cầu của thị trường mà
nông dân lựa chọn hàng hoá để sản xuất.
Theo Lê Khả Phiêu (1998), trong quá trình nông nghiệp chuyển mạnh
sang nền kinh tế hàng hoá hội nhập quốc tế thì động lực quan trọng trước hết
các vùng khó khăn còn có yêu cầu thêm về giống mới thích hợp hơn nữa, các
tiêu chuẩn giống chống chịu cũng cần được xác định chuẩn xác hơn. Đối với
các vùng khó khăn, công tác cải tạo đất và nguồn nước tưới luôn luôn cần kết
hợp giữa giống với các biện pháp kỹ thuật thích hợp để tăng khả năng thương
mại hoá hàng nông sản [14].
Đào Thế Tuấn (1998), khi nghiên cứu mô phỏng chiến lược phát triển nông
nghiệp vùng ĐBSH đã khẳng định để phát triển nông nghiệp của vùng theo
hướng SXHH, bền vững và ổn định cần thực hiện theo các hướng sau:
+ Tăng sản xuất lương thực.
+ Tăng sản xuất các sản phẩm xuất khẩu.
+ Tạo việc làm mới để ổn định đời sống nông dân [47].
Vùng ĐBSCL: Tác giả Trần An Phong (1996), cho rằng: khả năng thâm
canh, tăng vụ và đa dạng hoá cây trồng ở vùng phù sa chủ động nước ven sông
Tiền, sông Hậu cần phải đi đôi với việc đổi mới cơ cấu cây trồng [30].
Còn Tào Quốc Tuấn (1994), khi nghiên cứu xác định cơ cấu cây trồng
hợp lý cho vùng phù sa ngọt ven sông Tiền và sông Hậu có nhận xét: các mô
hình chuyên canh lúa đều sử dụng rất nhiều nước vào mùa khô; trong khi đó
các mô hình luân canh 1 vụ lúa - 1 vụ màu, cây ăn quả hay mía sử dụng tiết
kiệm nước hơn [48].
Với Hoàng Tuấn Hiệp (2009), đưa ra quan điểm bố trí sử dụng đất
trồng chè cả nước cần tiết kiệm và có hiệu quả, trước mắt nên tập trung cải
16
tạo giống, thâm canh cho năng suất cao và nâng cao chất lượng sản phẩm sau
chế biến để đem lại giá trị hàng hoá cao [13].
Theo Hồ Gấm (2003) đã nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo
hướng SXHH tại huyện Đak Mil, tỉnh Đak Nông đã cho rằng CCCT, hiệu quả
kinh tế của các loại hình sản xuất, của các nhóm nông hộ rất khác nhau phụ
Sự gia tăng này cho thấy nguồn cung gạo tại một số nước xuất khẩu lớn bị thắt
chặt trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo không giảm. FAO dự báo về năng suất và
diện tích sản xuất lúa của thế giới và vùng Đông Á, Đông Nam Á như sau:
Bảng 1.3. Dự báo tình hình sản xuất lúa gạo thế giới đến năm 2030
Chỉ tiêu
Sản lượng (triệu tấn)
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Vùng
2015
2030
1364,80
1550,72
- Đông Á và Đông Nam Á
387,6
418,4
- Thế giới
324,2
327,8
luật nhất định, các quy luật này lại chịu sự khống chế bởi điều kiện thiên
nhiên phức tạp. Do vậy, điều kiện tự nhiên của vùng sản xuất có ảnh hưởng
lớn đến năng suất, chất lượng sản phẩm lúa. Đất, nước, khí hậu, thời tiết, cây
trồng có mối quan hệ khăng khít với nhau bằng những quy luật chặt chẽ, phức
18
tạp. Vì vậy chúng ta cần phải hiểu và nắm chắc các quy luật đó để vận dụng
chúng vào trong sản xuất lúa.
c) Giống
Giống cây trồng là tiền đề cho sự phát triển ngành trồng trọt, là điều
kiện quan trọng để tăng quy mô cả về sản lượng và chất lượng lương thực.
Giống có vị trí đặc biệt quan trọng chi phối đến nhiều biện pháp kỹ thuật và
hiệu quả kinh doanh của ngành nông nghiệp. Để có được giống tốt, cần giải
quyết các yêu cầu sau:
- Tổ chức lai tạo chọn lọc giống, tạo ra nguồn giống có năng suất, chất
lượng, thích nghi được với điều kiện tự nhiên và sản xuất cụ thể. Tổ chức quản
lý tốt các nguồn gen gốc làm cơ sở cho sự lai tạo các giống lúa chất lượng.
- Xây dựng một cơ cấu giống hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế của
từng khu vực, địa phương.
- Xây dựng một hệ thống giống quốc gia, tăng cường đưa các giống
mới có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp vào sản xuất đại trà.
d) Vật tư, phân bón
Trước những năm 70 của thế kỷ XX, phân bón được sử dụng chủ yếu là
các loại phân chuồng, phân rác, phân xanh ... Từ khi bắt đầu cuộc "Cách
mạng xanh" đến nay, với các cơ cấu cây trồng mới; giống mới (đặc biệt là các
giống lai); hệ thống tưới tiêu được cải thiện; khả năng cung ứng phân bón,
thuốc BVTV được tăng cường. Đặc biệt sau khi một số điều trong Luật đất
đai được sửa đổi (tháng 12/l998), sản xuất nông nghiệp của nước ta đã đi theo
nghề, vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý kinh tế…. Do vậy,
để phát triển lúa hàng hoá cần nâng cao dân trí, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ,
công nhân lành nghề cả về kỹ thuật - quản lý kinh tế, đưa tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất, nhằm phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá bền vững.
Giá cả đầu vào, đầu ra
Việc lựa chọn và phối hợp các yếu tố đầu vào cũng như việc xây dựng
thị trường đầu ra với giá cả phù hợp là việc làm cần cân nhắc tính toán kỹ khi
xây dựng phương án sản xuất. Vì giá cả các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản