ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ THANH HUYỀN
TÍCH HỢP TRI THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC
Ở PHẦN TRI THỨC ĐỌC – HIỂU
VỚI QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI CỤ THỂ
TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Hà Nội 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ THANH HUYỀN
TÍCH HỢP TRI THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC
Ở PHẦN TRI THỨC ĐỌC – HIỂU
VỚI QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI CỤ THỂ
TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Lê Thời Tân
2.1.3. Hệ thống hóa tri thức lí luận văn học trong tác phẩm văn xuôi qua các
phần tri thức đọc - hiểu (CTNV12 - NC) ........ Error! Bookmark not defined.
2.1.4. Vài so sánh dạy học tri thức lí luận văn học ở các tác phẩm văn xuôi
giữa chƣơng trình Ngữ văn 12 cơ bản và chƣơng trình nâng cao............ Error!
Bookmark not defined.
1
2.2. Một số phƣơng pháp tích hợp lí luận văn học ở phần tri thức đọc - hiểu
với quá trình dạy học các tác phẩm văn xuôi cụ thể trong CTNV - 12
NC…Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Tích hợp "xuôi chiều", từ đọc - hiểu tác phẩm tới tổng kết tri thức lí
luận văn học .................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Tích hợp "ngƣợc chiều", từ tri thức lí luận văn học đến bài học tác
phẩm ................................................................ Error! Bookmark not defined.
2.2.3. Tích hợp "song song", qua quá trình giảng dạy, ôn tập và hệ thống hóa
......................................................................... Error! Bookmark not defined.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2.................................. Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 3 – GIÁO ÁN VÀ THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM .............. Error!
Bookmark not defined.
3.1. Thiết kế giáo án thực nghiệm .................. Error! Bookmark not defined.
3.2. Những vấn đề chung của thực nghiệm ..... Error! Bookmark not defined.
3.2.1. Mục đích thực nghiệm .......................... Error! Bookmark not defined.
3.2.2. Đối tƣợng, địa bàn và thời gian thực nghiệmError!
Bookmark
not
sáng tạo, thông minh hòa nhập với cuộc sống.
Từ thực tế dạy học của Việt Nam cho thấy cách dạy học Ngữ văn theo lối
bình giảng và cung cấp cho học sinh các kiến thức lí thuyết một cách tách biệt
không đáp ứng đƣợc nhu cầu học tập của giới trẻ ngày nay và không còn phù
hợp với xu thế của giáo dục hiện đại. Đổi mới chƣơng trình theo hƣớng tích
hợp và đa dạng hóa các thể loại văn bản đƣợc đƣa vào nhà trƣờng đặt cơ sở
cho việc tiếp tục đổi mới trong bối cảnh xây dựng chƣơng trình phát triển
năng lực nói chung.
1.2. Phạm Văn Đồng, ngƣời học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị
lãnh tụ kính mến của nhân dân ta, đã từng cho rằng: "Văn học là một hình thái
ý thức đặc biệt của xã hội, là nghệ thuật vận dụng ngôn ngữ một cách tài tình
và sáng tạo để nhận thức và phản ánh đời sống xã hội, để biểu hiện tâm tư
con người. Văn học đã trở thành công cụ để giáo dục con người, cải tạo xã
hội mạnh mẽ, nó là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén có tác dụng to lớn, sâu
rộng và bền bỉ mà lịch sử loài người từ trước đến nay đã xác nhận".
Văn học là nhân học (Học văn là học cách làm ngƣời), bên cạnh đó môn
văn còn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những hiểu biết một cách có hệ
thống về lí luận văn học, cung cấp những hiểu biết cơ bản, sơ giản nhất về
văn học, về tác phẩm văn học với các loại thể khác nhau. Song nhƣ đã nói,
4
dạy học không phải là quá trình nhồi nhét kiến thức mà quan trọng là giúp các
em trang bị những phƣơng pháp nghiên cứu, học tập, phƣơng pháp giải quyết
các vấn đề. Mục đích cao nhất và cuối cùng của dạy học trong nhà trƣờng là
phát triển năng lực cho học sinh. Tri thức lí luận văn học góp phần nâng cao
trình độ và mở rộng vốn văn hóa đọc cũng nhƣ phát triển năng lực, kỹ năng
đọc văn cho học sinh. "Lí luận văn học là một chuyên ngành nghiên cứu về
mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống, quan hệ giữa văn học và các
của tác phẩm văn học với các yếu tố không gian, thời gian, nhân vật, ngƣời kể
chuyện, cốt truyện...; đặc trƣng các thể loại nhƣ thơ ca, tiểu thuyết, truyện
ngắn...
Nhìn chung, kiến thức lí luận văn học mang tính chất tổng kết, khám phá
những vấn đề cốt lõi, bản chất của văn học [28, tr.3]. Những bài viết của giáo
sƣ Phan Trọng Luận "Lí luận văn học - kiến thức siêu kiến thức" [36] đã giúp
ngƣời đọc thấy đƣợc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của bộ môn lí luận văn
học. Trong luận văn của mình, Th.S Đoàn Thị Vân đã giúp ngƣời yêu văn có
đƣợc cái nhìn sâu, rộng về Phương pháp khai thác các kiến thức Lí luận văn
học trong đọc- hiểu văn bản văn học lớp 11- Nâng cao nhƣ khai thác các yếu
tố lí luận văn học để định hƣớng cho việc đọc - hiểu; khai thác các yếu tố lí
luận văn học để đi sâu đọc hiểu các tác phẩm văn học tự sự...
Nhƣ vậy có thể thấy tầm quan trọng của kiến thức lí luận văn học đối với
việc dạy - học văn, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Kĩ năng đọc hiểu
văn bản cũng chỉ rõ vấn đề, định hƣớng để từ đó giúp học sinh tự khai mở
kiến thức. "Thầy giáo là yếu tố quyết định của việc dạy học thành công. Hơn
bất cứ nghề nào, nghề dạy học luôn luôn đòi hỏi người thầy giỏi, uyên bác,
biết cập nhật thông tin. Dạy học yêu cầu đào tạo thế hệ công dân tương lai,
cho nên người thầy phải là người có đạo đức, yêu thiết tha đất nước, tiếng nói
dân tộc mình. Thầy biết yêu nhân dân, yêu quý và tôn trọng học trò. Thầy
phải là người có trách nhiệm với công việc trồng người, không thể là kẻ ba
hoa, dạy học qua quýt, chuộng thành tích hơn thực tế. Một người thầy có đủ
phẩm chất là điều cần thiết để đảm bảo dạy học thành công". Những tâm sự
của GS Trần Đình Sử trong cuốn Lý luận và phê bình văn học của mình
(NXB Giáo dục), đã có định hƣớng tốt, giúp cho ngƣời giáo viên dạy văn biết
cách đi cho đúng, biết xác định rõ vai trò của tri thức lí luận văn học.
7
8
phần nhỏ nhằm gợi mở những giải pháp đem lại hiệu quả cho hoạt động dạy
học tích hợp tri thức lí luận văn học ở phần đọc - hiểu với quá trình dạy học
tác phẩm văn xuôi ở trƣờng phổ thông nói chung và học sinh trƣờng THPT
Lý Thƣờng Kiệt nói riêng để tạo đƣợc sự hứng thú, lòng say mê của học sinh
trong khám phá tác phẩm và góp phần nâng cao chất lƣợng học tập môn Ngữ
văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
+ Nhận diện và hệ thống hóa toàn bộ tri thức lí luận văn học liên quan đến tác
phẩm văn xuôi trình bày phân tán trong các phần Tri thức đọc - hiểu đặt kèm
sau các bài học nhất định trong SGK Ngữ văn 12, Nâng cao.
+ Xác định đƣờng hƣớng và cách thức tích hợp các tri thức lí luận văn học đó
vào quá trình dạy học tác phẩm đọc - hiểu cụ thể trong chƣơng trình dạy học
ngữ văn nói chung, chƣơng trình ngữ văn 12 nâng cao nói riêng.
+ Giúp ngƣời dạy - ngƣời học nhận thức sâu sắc hơn mối quan hệ giữa lí luận
văn học (lí thuyết văn chƣơng) và thực tiễn sáng tác cũng nhƣ quan hệ giữa tri
thức lí luận với việc tiếp nhận tác phẩm văn học nói chung.
+ Giúp các em hình thành kĩ năng tự đọc, tự nghiên cứu, biết cách chiếm lĩnh
tác phẩm văn học trong và ngoài nhà trƣờng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến:
+ Lí luận dạy học;
+ Tri thức lí luận văn học trong phần đọc - hiểu của sách giáo khoa
Ngữ văn 12 nâng cao;
+ Hoạt động dạy và học trong trƣờng phổ thông.
3.2.2. Điều tra thực trạng dạy và học lí luận văn học trong phần tri thức đọc hiểu tác phẩm văn xuôi 12 nâng cao.
3.3.3. Phân tích nội dung kết nối lí luận văn học ở phần tri thức đọc - hiểu với
Chƣơng 3 – Giáo án và thực nghiệm sƣ phạm
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm tích hợp
Tích hợp là một tƣ tƣởng sƣ phạm đã trở thành xu hƣớng chung của nhiều
nƣớc trên thế giới có nền giáo dục tiên tiến. Đƣa tƣ tƣởng sƣ phạm tích hợp
vào trong quá trình dạy học là cần thiết. Quan điểm dạy học này đã đƣợc
nghiên cứu và sử dụng để xây dựng chƣơng trình, biên soạn sách giáo khoa
phổ thông ở nƣớc ta trong những năm gần đây. Tuy nhiên cũng có nhiều cách
hiểu khác nhau về quan điểm giáo dục tích hợp.
Theo Từ điển tiếng Việt, tích hợp là "Lắp ráp, nối kết các thành phần của
một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ" [24, tr. 981]. Nhƣ
vậy, tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chƣơng trình hoặc các thành
phần khác nhau thành một khối chức năng.
Tuy nhiên vấn đề quan trọng là tích hợp cái gì và tích hợp nhƣ thế nào? Ở
đây, Bộ giáo dục cũng chỉ rõ "Tích hợp là sự phối hợp những tri thức gần gũi,
có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào
nhau, phối hợp với nhau, nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và
vững chắc" [47, tr. 35]. Bên cạnh đó "Tích hợp là sự phối hợp các tri thức
thuộc một số môn học có những nét tương đồng vào một lĩnh vực chung,
thường là quanh những chủ đề" [48, tr. 25]. Trong tiếng Anh, tích hợp đƣợc
viết là "integration" một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là "whole" hay "toàn
bộ, toàn thể". Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành
phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục
tiêu hoạt động của hệ thống ấy.
phong cách nghệ thuật của tác giả.
Dạy học tích hợp cũng chính là hành động liên kết các đối tƣợng nghiên
cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau
trong cùng một kế hoạch dạy học. Cuộc sống là một bộ đại bách khoa toàn thƣ
của tri thức, kinh nghiệm và phƣơng pháp, mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống
bao giờ cũng yêu cầu ngƣời gặp phải giải quyết theo hƣớng tích hợp. Không
thể giải quyết một vấn đề và nhiệm vụ nào của lí luận và thực tiễn mà lại
12
không sử dụng tổng hợp và phối hợp kinh nghiệm kĩ năng đa ngành của nhiều
lĩnh vực khác nhau. Rèn đƣợc khả năng tích hợp sẽ giúp học sinh học tập
thông minh, biết vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phƣơng pháp của
khối lƣợng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tình huống
khác nhau của cuộc sống hiện đại, giúp các em khi ra cuộc sống luôn chủ động
tự tin và hòa nhập với môi trƣờng mới.
1.1.2.2. Dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn
Phƣơng pháp dạy học tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện
đại đang đƣợc quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trƣờng ở nhiều nƣớc
trên thế giới. Ở Việt Nam, từ thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây vấn đề xây
dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự đƣợc tập
trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trƣờng phổ thông, chủ yếu ở
bậc học Tiểu học và Trung học cơ sở. Trƣớc đó, tinh thần giảng dạy tích hợp
mới chỉ thực hiện ở mức độ thấp nhƣ liên hệ, phối hợp các kiến thức kĩ năng
thuộc các môn học hay phân môn khác nhau để giải quyết một vấn đề giảng
dạy. Hiện nay, xu hƣớng tích hợp vẫn đang đƣợc tiếp tục nghiên cứu, thử
nghiệm và áp dụng đổi mới chƣơng trình và SGK bậc THPT. Các môn học
trong nhà trƣờng đều lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ
chức nội dung chƣơng trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phƣơng pháp
phƣơng diện cụ thể nhƣ :
+ Tích hợp các nội dung dạy học của phần Văn học với nội dung dạy học của
các phần Tiếng Việt và Làm văn; tích hợp tri thức lí luận văn học với các bài
giảng, tích hợp với nội dung các phần trong bài đọc hiểu;
+ Tích hợp dạy kiến thức với thực hành luyện tập các kĩ năng quan sát, nghe,
nói, đọc, viết và rèn luyện tƣ duy;
+ Tích hợp dạy các kiến thức, kĩ năng của môn Ngữ văn với các kiến thức kĩ
năng thuộc các ngành khoa học, nghệ thuật khác và thực tiễn đời sống;
+ Tích hợp việc dạy của giáo viên với việc học của học sinh.
Khi tiến hành tích hợp ngƣời giáo viên đã góp phần giải quyết những vấn
đề của giáo dục nhƣ: Mâu thuẫn giữa lƣợng kiến thức, kĩ năng cần đƣa vào
nhà trƣờng với quỹ thời gian có hạn, mâu thuẫn giữa việc tiếp nhận lí thuyết
và sử dụng trong thực tiễn, đặc biệt là mâu thuẫn giữa sự tiếp nối hệ thống
14
kiến thức và sự trùng lặp kiến thức, ngƣời học thƣờng gặp kiến thức quen
quen, và nhƣ vậy chƣơng trình đã bị lặp lại.
Đích của việc dạy học tích hợp Ngữ văn còn nhằm hình thành, vận dụng
bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và hình thành cho học sinh năng lực phân tích,
bình giá, cảm thụ văn học một cách chủ động, sáng tạo. Giúp các em có thể sử
dụng kiến thức mình ra thực tiễn cuộc sống, trong lao động và công tác.
Tích hợp trong môn Ngữ văn cũng còn hƣớng tới đích tích hợp với nhiều
môn học khác trong chƣơng trình, giúp học sinh làm chủ kiến thức và biết vận
dụng chúng trong đời thƣờng.
Tích hợp trong môn Ngữ Văn đƣợc hiểu là sự kết nối tri thức và kỹ năng
giữa ba phần: Văn - Tiếng Việt - Làm văn và trong từng phân môn, trong từng
vấn đề cụ thể. Đó chính là cách tiếp cận tri thức từ việc sử dụng hiệu quả các
tri thức công cụ.
lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời
kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà học sinh
sẽ gặp sau này.
Cùng với việc đổi mới phƣơng pháp dạy học, cách gọi phân môn văn
trong nhà trƣờng phổ thông cũng có nhiều thay đổi. Chúng ta đều biết ở nƣớc
ta môn học này từ lâu có những tên gọi khác nhau. Trƣớc Cách mạng tháng
Tám và sau đó ở miền Nam ngƣời ta thƣờng dùng chữ môn Quốc
văn hay Việt văn. Ở miền Bắc trƣớc đây có khi gọi là môn Văn học, có khi
gọi là Tiếng Việt và Văn học và gần đây nhất thì gọi là Ngữ văn. Đây có thể
hiểu là cách rút gọn của Tiếng Việt và Văn học và có lẽ những ngƣời ủng hộ
cách gọi này cho rằng ngoài tiện lợi của sự ngắn gọn, tên gọi này phản ánh
đƣợc sự thống nhất của Ngữ và Văn mà mục tiêu dạy tích hợp đang đặt ra.
[40]. Ngày nay ta nên hiểu phân môn văn trong nhà trƣờng là phân môn Đọc
văn, dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể
đọc - hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại. Từ đọc - hiểu văn mà trực tiếp nhận
các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tƣ tƣởng và cảm xúc đƣợc truyền
đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính. Đó là con
đƣờng duy nhất để bồi dƣỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận
thẩm mỹ. Dạy đọc là dạy cho học sinh một hoạt động phải làm việc với con
16
chữ, với câu văn, với dấu phẩy, dấu chấm của văn bản để hiểu đúng, hiểu sâu
văn bản đó. Các cuốn SGK nâng cao có điểm đặc biệt hơn các cuốn SGK cơ
bản đó là sau phần lớn các bài đọc văn đều có phần tri thức đọc – hiểu.
Vậy phần Tri thức đọc - hiểu là gì?
Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hùng, tri thức đọc - hiểu đƣợc hiểu là
thành quả do con ngƣời tạo ra, là toàn bộ thế giới vật chất và thế giới tinh thần
của con ngƣời, mà thế giới đó lại bao la sâu thẳm…Việc cung cấp tri thức đọc
Tích hợp kiến thức lí luận văn học ở phần tri thức đọc - hiểu trong quá
trình dạy học tác phẩm là quá trình lâu dài và nên thực hiện đồng bộ ở các
khối lớp, ở học sinh học chƣơng trình nâng cao; từ đó có thể áp dụng với học
sinh THPT nói chung. Các khái niệm lí luận văn học chỉ có thể đƣợc học sinh
nắm vững và vận dụng một cách có ý thức thông qua con đƣờng đọc - hiểu
văn bản văn học. Nhƣ vậy, việc học lí luận văn học mới không khô cứng, đồng
thời giúp các em hƣớng tới giá trị đích thực của văn học một cách hiệu quả
nhất. Ở đây chúng tôi đề xuất một số phƣơng pháp để tích hợp một cách hiệu
quả nhằm khai thác tác phẩm văn xuôi 12 trong chƣơng trình Ngữ văn 12
Nâng cao trên nền tảng của các tri thức lí luận văn học.
1.2. Tri thức lí luận
1.2.1. Tri thức lí luận văn học
Định nghĩa về Lí luận văn học, Từ điển Bách khoa tập II có viết: "Lí luận
văn học là hệ thống những quan điểm và lập luận chỉ ra cội nguồn, bản chất,
chức năng và sự phát triển của văn học trong đời sống xã hội, nói một cách cụ
thể, lí luận văn học nghiên cứu quan điểm, nguyên lý và nguyên tắc sáng tạo,
phương pháp biểu hiện, miêu tả, đánh giá, cảm thụ tác phẩm văn học và các
sự kiện, trào lưu văn học, nhằm phát hiện những vấn đề có tính quy luật trong
quá trình phát triển của từng nền văn học dân tộc và cả nền văn học thế giới".
Theo Bách khoa toàn thư: Lí luận văn học là bộ môn nghiên cứu văn
học ở bình diện lý thuyết khái quát, bao gồm trong đó sự nghiên cứu bản chất
của sáng tác văn học, chức năng xã hội - thẩm mỹ của nó, đồng thời xác định
phƣơng pháp luận và phƣơng pháp phân tích văn học.
18
"Lí luận văn học là một chuyên ngành nghiên cứu về mối quan hệ giữa
văn học và hiện thực đời sống, quan hệ giữa văn học với các loại hình nghệ
thuật khác, từ đó làm nổi bật đặc trưng, vị trí của văn học.
20
hiện tƣợng văn học phát triển đến mức điển hình làm đối tƣợng chủ yếu. Nếu
trong lịch sử văn học và phê bình văn học, những hiện tƣợng văn học cụ thể là
những cái đích cần khám phá; thì trong lí luận văn học, chúng lại là những
phƣơng tiện nhằm dẫn đến những khái quát trừu tƣợng.
Văn học với chỉnh thể là một tác phẩm, tự bản thân nó, cũng là một cấu
trúc nội tại, mà sự xuyên thấu qua lại giữa nội dung và hình thức là một mối
liên hệ biện chứng cơ bản. Ở đây, ta bắt gặp những yếu tố về nội dung sẽ đƣợc
chuyển hóa ra hình thức nhƣ: đề tài, chủ đề, tƣ tƣởng chủ đề, tính cách, cốt
truyện... và những yếu tố về hình thức sẽ đƣợc chuyển hóa vào nội dung nhƣ:
kết cấu, biện pháp nghệ thuật, ngôn ngữ, loại thể...
Tri thức lí luận văn học là tri thức công cụ, tri thức phƣơng pháp, là kiến
thức siêu kiến thức, giúp cho việc đọc văn có phƣơng pháp, phù hợp với bản
chất đặc trƣng của văn học, đồng thời giúp phân tích, lí giải tác phẩm văn
chƣơng một cách đầy đủ và sâu sắc. Nếu không, những kiến thức mà học sinh
có đƣợc cũng chỉ là những kiến thức vụn vặt, cảm tính, mang tính tƣ liệu. Mục
đích cuối cùng và cao nhất của dạy học trong nhà trƣờng hiện đại là phát triển
toàn diện học sinh. Mục đích của dạy đọc hiểu văn bản là rèn luyện và phát
triển khả năng tự học, tự đọc và tạo lập văn bản ở các em. Tri thức lí luận văn
học góp phần nâng cao trình độ trong việc tiếp nhận văn học, củng cố và mở
rộng vốn văn hóa đọc cũng nhƣ phát triển năng lực, kĩ năng đọc văn cho học
sinh. Nhƣ vậy, lí luận văn học trong nhà trƣờng phổ thông giữ một vị trí quan
trọng, then chốt.
1.2.2.2. Tri thức lí luận văn học trong việc đào tạo giáo viên giảng dạy bộ
môn ngữ văn trong nhà trường phổ thông
Trong chƣơng trình khoa tiếng Việt và văn học ở các trƣờng Đại học Sƣ
phạm, bộ môn Lí luận văn học đƣợc xem nhƣ bộ môn mang hai chức năng:
vừa là bộ môn khoa học cơ bản, vừa là bộ môn khoa học cơ sở. Với tƣ cách là