Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời
cảm ơn chân thành đến thầy giáo, cô giáo Khoa Giáo dục Tiểu học Mầm non của Trường Đại học Quảng Bình đã hết lòng giảng dạy,
trang bị kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập tại tường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo
Mai Thị Liên Giang, giảng viên hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, động
viên em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành đề tài khóa
luận.
Xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình, giúp đỡ, động viên
của toàn thể bạn bè, người thân trong suốt quá trình làm khóa luận
này.
Mặc dù đã nổ lực cố gắng song khóa luận không thể tránh khỏi
những thiếu sót, kính mong quý thầy cô góp ý để khóa luận hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Cao Thị Hoài Thu
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nghiên
cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình
nào.
Đồng Hới, tháng 05 năm 2016
Tác giả khóa luận
Cao Thị Hoài Thu
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………………1
1. Lí do chọn đề tài ..........................................................................................................1
1.1.1.2. Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ........................................................... 8
1.1.1.3. Vài nét về nội dung chương trình và sách giáo khoa lớp 5 phân môn “Luyện từ
và câu” ................................................................................................................................... 9
1.1.2. Hiện tượng đồng nghĩa trong Tiếng Việt ................................................................... 11
1.1.2.1. Khái niệm từ đồng nghĩa trong Tiếng Việt ......................................................... 11
1.1.2.2. Phân loại từ đồng nghĩa trong Tiếng Việt ........................................................... 14
1.1.2.3. Đặc điểm của từ đồng nghĩa trong Tiếng Việt .................................................... 16
1.1.2.4. Giá trị biểu đạt của từ đồng nghĩa trong Tiếng Việt ........................................... 18
1.1.2.5. Nội dung dạy học từ đồng nghĩa qua phân môn Luyện từ và câu ...................... 29
1.1.3. Đặc điểm tâm lí, tư duy của học sinh trong tiếp nhận từ đồng nghĩa ......................... 32
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................34
1.2.1. Khái quát một số thông tin về thực trạng dạy học ở Trường Tiểu học Đồng
Phú có liên quan đến đề tài ............................................................................................34
1.2.2. Thực trạng phát triển năng lực sử dụng từ đồng nghĩa cho học sinh lớp 5 ở trường
Tiểu học đồng Phú qua phân môn Luyện từ và câu ................................................................. 36
1.2.2.1. Mục đích điều tra ............................................................................................... 36
1.2.2.2. Đối tượng điều tra .............................................................................................. 36
1.2.2.3. Nội dung điều tra ............................................................................................... 36
1.2.2.4. Kết quả điều tra .................................................................................................. 37
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG TỪ ĐỒNG
NGHĨA CHO HỌC SINH LỚP 5 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG PHÚ THÔNG
QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ & CÂU......................................................................45
2.1. Bồi dưỡng thói quen sử dụng từ đồng nghĩa qua hoạt động góc Tiếng Việt..................... 45
2.1.1. Nguyên tắc, cơ sở của biện pháp ............................................................................ 45
2.1.2. Cách thức thực hiện biện pháp ............................................................................... 48
2.2. Hình thành quy tắc sử dụng từ đồng nghĩa qua hệ thống tư liệu dạy học ......................... 52
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
HSTH
Học sinh tiểu học
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
NXB
Nhà xuất bản
TV
Tiếng Việt
TN
đọc, Chính tả, Tập làm văn... Nội dung dạy học Luyện từ và câu trong chương trình
Tiếng Việt chiếm một tỉ lệ đáng kể. Điều đó nói lên ý nghĩa quan trọng của việc dạy
Luyện từ và câu ở tiểu học. Luyện từ và câu có nhiệm vụ làm giàu vốn từ, phát triển kĩ
năng sử dụng từ và cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng Việt cho học sinh tiểu
học. Chẳng hạn, một số khái niệm có tính chất sơ giản ban đầu về cấu tạo từ và nghĩa
của từ Tiếng Việt như từ trái nghĩa, từ đồng âm, nghĩa của từ,… trong đó có từ đồng
nghĩa. Từ đồng nghĩa là nội dung dạy học khá thú vị trong phân môn Luyện từ và câu
lớp 5.
1.3. Từ đồng nghĩa là một hiện tượng độc đáo trong tiếng Việt. Cùng với các
lớp từ khác, từ đồng nghĩa làm cho tiếng Việt thêm phong phú và tươi mới hơn bởi
những biến tấu về sắc thái nghĩa, khả năng kết hợp, phong cách chức năng. Ở một
phạm vi rộng lớn hơn, phù hợp với việc sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp,
hiện tượng đồng nghĩa vượt ra khỏi ranh giới từ. Sử dụng từ đồng nghĩa giúp người
nói, người viết biểu đạt một cách hấp dẫn, hiệu quả tư tưởng, cảm xúc... Tuy nhiên,
nội dung, phương pháp dạy học lớp từ này ở nhà trường phổ thông chưa thực sự phát
huy được tác dụng giúp học sinh làm giàu vốn từ, nắm được các quy tắc sử dụng và
chiếm lĩnh thứ công cụ hữu hiệu ấy nhằm đạt đến đích giao tiếp. Từ đồng nghĩa chưa
1
tạo được dấu ấn trong các sản phẩm ngôn ngữ của học sinh tiểu học, chưa mang đến
những nét vẽ sinh động về cuộc sống trong các bài văn miêu tả,…
Từ các khảo cứu cả trên phương diện lí luận và thực tiễn, trên cơ sở những đòi
hỏi cấp thiết về việc phát triển ở người học năng lực sử dụng tiếng Việt, chúng tôi lựa
chọn đề tài “Phát triển năng lực sử dụng từ đồng nghĩa cho học sinh lớp 5 ở trường
Tiểu học Đồng Phú qua phân môn Luyện từ và câu”.
2. Lịch sử vấn đề
Từ đồng nghĩa là một trong những phương tiện ngôn ngữ có vị trí đặc biệt quan
trọng, giúp chúng ta biểu hiện tư tưởng, tình cảm của mình một cách chính xác hơn, ấn
tượng hơn, có hình ảnh và giàu sức biểu cảm. Đây là nội dung được đề cập đến trong
cập đến trong khá nhiều các công trình về phương pháp dạy học. Tiêu biểu là
Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học II của Lê Phương Nga; Tiếng Việt và
phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học công trình của Đinh Thị Oanh, Vũ Thị
Kim Dung, Phạm Thị Thanh;…
Trong “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học II” (NXB Giáo dục, 2000)
đã đưa ra phương pháp dạy học Tiếng Việt cụ thể cho từng phân môn theo chương
trình giáo dục cũ, khi đó phân môn “Luyện từ và câu” chưa xuất hiện mà nó tồn tại
dưới hai phân môn: Từ ngữ và ngữ pháp”
Công trình “Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” (NXB
Giáo dục, 2006) đã đưa ra phương pháp dạy học Tiếng Việt và cụ thể cho từng phân
môn Tiếng Việt. Trong đó có phương pháp dạy học “Luyện từ và câu” và điểm qua về
dạy học theo hướng đổi mới, tích cực, tạo hứng thú học tập cho HS.
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã cho tôi nền tảng cơ sở lí luận vững
chắc và định hướng quý báu trong việc triển khai đề tài. Phát triển năng lực sử dụng từ
đồng nghĩa cho học sinh qua phân môn Luyện từ và câu là một vần đề đang được
nhiều nhà giáo dục quan tâm, đề cập trên nhiều phương diện, tuy nhiên nó vẫn chỉ
dừng lại ở mức khái quát chung. Với khóa luận này, tôi tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn
về việc phát triển năng lực sử dụng từ đồng nghĩa cho học sinh lớp 5 qua phân môn
Luyện từ và câu nhằm rèn luyện và pháp triển năng lực sử dụng từ đồng nghĩa của HS
để đạt đến đích giao tiếp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ những phân tích, đánh giá về lí luận và thực tiễn của việc sử dụng từ đồng
nghĩa cho học sinh lớp 5 ở Trường Tiểu học Đồng Phú. Đề tài tập trung đề xuất các
biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực sử dụng từ đồng nghĩa cho học sinh lớp 5
thông qua phân môn “Luyện từ và câu”.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, khóa luận phải thực hiện nhiệm vụ sau:
3
- Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 9/2015 – 4/2016.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
khoa học giáo dục sau đây:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Đọc và phân tích các tài liệu liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu để thu thập
thông tin nhằm tìm hiểu, tham khảo, xây dựng đề cương nghiên cứu và được sử dụng
4
để xây dựng cơ sở lí luận trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động dạy học từ đồng nghĩa và việc sử dụng từ đồng nghĩa qua
phân môn Luyện từ và câu ở trường Tiểu học Đồng Phú nhằm nhận xét, đánh giá, rút
kinh nghiệm cho giờ dạy thực nghiệm.
7.2.2. Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra để thu thập ý kiến của giáo viên về vấn đề nghiên cứu.
7.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh để biết được khả năng tiếp nhận
và sử dụng từ đồng nghĩa của học sinh lớp 5 qua phân môn Luyện từ và câu.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng phương pháp thực nghiệm để kiểm tra khả năng ứng dụng các biện
pháp phát triển năng lực sử dụng từ đồng nghĩa cho học sinh lớp 5 trong giờ Luyện từ
và câu. Kết quả thực nghiệm là cơ sở để đánh giá hướng nghiên cứu và tính khả thi của
đề tài.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích kết quả điều tra thực
trạng và làm tăng độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực
sử dụng từ đồng nghĩa cho học sinh lớp 5 thông qua phân môn Luyện từ và câu.
1.1.1.1. Vị trí của phân môn Luyện từ và câu
Phân môn “Luyện từ và câu” chiếm một vị trí quan trọng trong môn Tiếng Việt
nói chung và Tiếng Việt lớp 5 nói riêng. Đây là một phân môn mới trong môn Tiếng
Việt ở Tiểu học, phân môn này được hình thành trên cơ sở của hai phân môn cũ trước
đây: Từ ngữ và ngữ pháp. Việc nhập hai phân môn lại với nhau dựa vào quan điểm
tích hợp trong việc biên soạn SGK Tiếng Việt ở Tiểu học mới. Theo quan điểm trên,
việc dạy kiến thức Tiếng Việt không tách rời cung cấp những kiến thức của môn học
khác, đồng thời các phân môn khác nhau trong Tiếng Việt cũng gắn bó, liên kết chặt
chẽ với nhau. “Luyện từ và câu” là một phân môn khoa học cung cấp cho HS những
kiến thức sơ giản về tiếng Việt, rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu và khả năng diễn đạt
cho HS.
Việc dạy và học “Luyện từ và câu” ở Tiểu học có một tầm quan trọng rất lớn
trong việc hình thành cho HS năng lực sử dụng từ và sử dụng câu. Việc dạy từ không
thể tách rời việc dạy câu. Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn
ngữ. Từ chỉ cho chúng ta biết khái niệm, còn câu mới cho chúng ta biết một thông báo.
Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chức
năng giao tiếp. Muốn hiểu rõ những đặc điểm khác nhau về từ, cần đặt từ vào trong
câu. Ngược lại câu được cấu tạo nên bởi một số lượng từ nhất định. Do đó, việc dạy từ
và câu trong phân môn “Luyện từ và câu” phải đi kèm với nhau.
Bên cạnh đó, việc dạy “Luyện từ và câu” nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm
phong phú vốn từ của HS, cung cấp cho các em những hiểu biết sơ giản, rèn cho HS kĩ
năng dùng từ đặt câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình một cách linh hoạt.
Thông qua phân môn “Luyện từ và câu” hướng dẫn cho HS trong việc nghe, viết, đọc,
nói và phát triển ngôn ngữ, trí tuệ cho trẻ.
Trong giao tiếp, chúng ta nói một người nào đó nắm được ngôn ngữ có nghĩa là
chúng ta đã khẳng định người đó có số lượng từ nhất định và biết sử dụng vốn từ đó
đúng với các quy tắc ngữ pháp, với nghi thức lời nói trong hoạt động giao tiếp của
mình. Một HS khi sở hữu một số lượng từ phong phú, điều đó có nghĩa là các em đã
7
thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa,
gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo..., tức là kĩ năng liên tưởng để huy động
vốn từ. Dạy cho HS sử dụng từ, phát triển kĩ năng sử dụng từ trong lời nói và lời viết
8
của HS, đưa từ vào trong vốn từ tích cực được HS dùng thường xuyên. Tích cực hóa
vốn từ tức là dạy HS biết dùng từ ngữ trong hoạt động nói năng của mình.
+ Dạy cho HS biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu, phù hợp với
hoàn cảnh và mục đích giao tiếp.
- Rèn luyện cho HS kĩ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng dấu câu
Phân môn “Luyện từ và câu” cung cấp cho HS một số kiến thức và câu cơ bản,
sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em. “Luyện từ và câu” trang bị cho HS những
hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành chức của chúng. Cụ thể đó là các kiến
thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo
văn bản để sử dụng trong giao tiếp.
- Bồi dưỡng cho HS thói quen dùng từ đúng khi nói và viết thành câu, có ý thức
sử dụng tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp
Phân môn “Luyện từ và câu” cung cấp cho HS một hệ thống vốn từ đa dạng và
phong phú. Thông qua việc dạy “Luyện từ và câu” tạo cho HS thói quen dùng từ đúng
khi nói và viết thành câu, rèn cho HS kỹ năng dùng từ đặt câu đúng để thể hiện tư
tưởng, tình cảm của mình một cách tốt nhất.
Việc dạy cho HS cách dùng từ đúng, hiểu nghĩa từ, từ đó HS thêm yêu ngôn
ngữ mẹ đẻ, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp.
1.1.1.3. Vài nét về nội dung chương trình và sách giáo khoa lớp 5 phân môn
“Luyện từ và câu”
a. Nội dung chương trình
Luyện từ và câu ở lớp 5 được học 62 tiết, mỗi tuần 2 tiết trong cả năm học (trừ
ôn tập), bao gồm các nội dung:
- Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ ngữ theo các chủ điểm: Tổ quốc, nhân dân;
+ Liên kết các câu trong bài bằng phép nối.
- Ôn tập: Hệ thống hóa tất cả nội dung về từ và câu mà HS được học ở Tiểu
học:
+ Ôn tập về từ loại.
+ Tổng kết vốn từ.
+ Ôn tập về cấu tạo từ dấu câu.
+ Ôn tập về câu đơn.
+ Ôn tập về dấu câu
b. Cấu trúc phân môn Luyện từ và câu trong SGK lớp 5
Cấu trúc kiểu bài lí thuyết gồm 3 phần:
- Nhận xét:
1. Cung cấp ngữ liệu: thường là những câu thơ, câu văn, đoạn văn, đoạn thơ có
chứa các hiện tượng ngôn ngữ cần tìm hiểu.
10
2. Cung cấp hệ thống câu hỏi gợi ý để HS tìm ra các đặc điểm có tính chất quy
luật của hiện tượng được khảo sát.
- Ghi nhớ:
Là nội dung kiến thức, quy tắc sử dụng từ và câu được rút ra sau phần nhận xét
để yêu cầu HS ghi nhớ. Ghi nhớ được đóng khung trong SGK.
- Luyện tập:
Gồm hệ thống bài tập nhằm củng cố và vận dụng các kiến thức đã học vào
những tình huống mới. Có 2 loại bài tập ở phần luyện tập là bài tập nhận diện và bài
bài tập vận dụng.
Cấu trúc kiểu bài thực hành gồm:
+ Tên bài
+ Các bài tập từ 3-5 bài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
1.1.2. Hiện tượng đồng nghĩa trong Tiếng Việt
1.1.2.1. Khái niệm từ đồng nghĩa trong Tiếng Việt
của chúng là như nhau, nghĩa là Nội dung (A) bằng Nội dung (B). Các đơn vị đồng
nghĩa là trường hợp riêng của các biểu thức đồng nghĩa. Ví dụ: to - lớn - khổng lồ - vĩ
đại; trông - nhìn - ngó - nhòm - liếc…
Tác giả Từ đồng nghĩa tiếng Việt cũng phân tích và đưa ra những chỉ dẫn quan
trọng cho việc nghiên cứu hiện tượng đồng nghĩa ở nhiều cấp độ nhằm thỏa mãn thực
tiễn và những yêu cầu phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp của con người:
“Hiện tượng đồng nghĩa trong ngôn ngữ có thể là hiện tượng đồng nghĩa từ vựng hoặc
hiện tượng đồng nghĩa ngữ pháp. Trong ngôn ngữ học truyền thống, người ta nghiên
cứu chủ yếu hiện tượng đồng nghĩa từ vựng và các đơn vị đồng nghĩa từ vựng. Trong
ngôn ngữ học hiện đại, người ta chú ý nhiều nhất đến hiện tượng đồng nghĩa của các
phát ngôn hoàn chỉnh (các mệnh đề và các khúc đoạn văn bản lớn hơn)” [16; 68].
Ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ học cũng đã bàn đến lí luận lớp từ vựng này.
Trước hết là nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu, ông được xem là một trong những người
đầu tiên đưa ra khái niệm chung về hiện tượng đồng nghĩa, từ đồng nghĩa. Năm 1962,
trong cuốn Giáo trình Việt ngữ (tập 2) tác giả viết: “Trong vốn từ hội của bất cứ một
ngôn ngữ nào cũng thường có những từ mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác
nhau nhưng từ nghĩa (tức là nghĩa của từ) là giống nhau; do đó, trong nhiều hoàn
cảnh ngôn ngữ cụ thể có thể thay thế cho nhau được. Những từ này là những từ đồng
nghĩa” [1; 63]. Thực ra, đây chưa phải là một định nghĩa thật sự khoa học về từ đồng
nghĩa. Bởi lẽ, tác giả chỉ mới nêu ra cái gọi là từ đồng nghĩa có những đặc điểm gì chứ
chưa nói rõ được sự giống nhau về ý nghĩa đến mức nào thì mới được coi là đồng
nghĩa. Do đó, đến năm 1981, chính Đỗ Hữu Châu đã phân tích một cách rõ ràng hơn
về “khả năng thay thế cho nhau giữa các từ khi xác lập dãy đồng nghĩa”. Ông còn bàn
12
luận rộng hơn về hiện tượng đồng nghĩa trong toàn bộ hệ thống từ vựng “giữa các từ ít
nhất có chung một nét nghĩa” và đã nhìn nhận: “Hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng
có nhiều mức độ tùy theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ. Mức độ đồng
nghĩa thấp nhất khi các từ ngữ có chung một nét nghĩa chung (nét nghĩa phạm trù). Số
vào chi tiết, cụ thể về khái niệm từ đồng nghĩa và chỉ ra được mức độ khác nhau của
các từ đồng nghĩa, đó là phân biệt một số nét nghĩa về sắc thái phong cách, sắc thái
ngữ nghĩa, khả năng kết hợp và phạm vi sử dụng. Điều đó thể hiện được nét bản chất
của sự tồn tại hệ thống từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ. Có thể nói chính những khác
biệt về sắc thái nói trên là lí do tồn tại của lớp từ này.
Đồng nghĩa là một hiện tượng phổ biến trong các ngôn ngữ nói chung và trong
tiếng Việt nói riêng, thể hiện trên nhiều cấp độ ngôn ngữ. Tuy nhiên cho đến nay, quan
niệm về hiện tượng này vẫn chưa được thống nhất. Nó được biết đến nhiều ở cấp độ
từ. Mặc dù thế, trong một số trường hợp, từ không thể diễn tả hết nội dung ý nghĩa
cũng như tình cảm cảm xúc của người nói, người viết mà thay vào đó cần phải sử dụng
một ngữ hay một câu tương đồng về ngữ nghĩa để thay thế, làm nổi bật và nâng cao
giá trị của lời nói hay một câu văn nào đó mà ý nghĩa vẫn không thay đổi.
Như vậy từ đồng nghĩa là một dạng thức, cấp độ biểu đạt sinh động của hiện
tượng đồng nghĩa trong ngôn ngữ. Từ những thành tựu nghiên cứu về hiện tượng này,
đặc biệt là những chỉ dẫn khoa học của các nhà ngôn ngữ học như Đỗ Hữu Châu,
Nguyễn Đức Tồn… chính là cơ sở để chúng tôi khảo sát, phân tích và đề xuất các biện
pháp nâng cao năng lực sử dụng từ đồng nghĩa cho HS lớp 5 qua phân môn Luyện từ
và câu.
1.1.2.2. Phân loại từ đồng nghĩa trong Tiếng Việt
* Cũng như vấn đề định nghĩa từ đồng nghĩa, cách phân loại về từ đồng nghĩa
có những khác biệt nhất định. Theo mô tả của Nguyễn Đức Tồn, từ đồng nghĩa có
ba nhóm chính:
- Các từ đồng nghĩa ý niệm: là các từ đồng nghĩa trung tính về phong cách,
khác biệt nhau về sắc thái của ý nghĩa cơ bản, chung cho mỗi từ.
Ví dụ: đừng – chớ có nghĩa chung là biểu thị ý “khuyên ngăn không nên
làm điều gì”. Tuy nhiên, hai từ này có sắc thái ý nghĩa khác nhau ở chỗ:
+ Đừng biểu thị ý khuyên ngăn nói chung. Như: đừng làm ồn, đừng khóc nữa
+ Chớ biểu thị ý khuyên ngăn không nên làm điều gì, thường cốt sự không hay
nào đó, biểu thị thái độ dứt khoát hơn so với đừng. Như: Chớ ăn quả xanh, chớ uống
+ Từ cũ và từ mới cùng tồn tại
Ví dụ: học trò (cũ) – học sinh (mới)
+ Từ địa phương và từ của tiếng phổ thông cùng tồn tại
Ví dụ: bố, cha (từ phổ thông) – tía (miền Nam)
+ Từ thuần Việt và từ vay mượn cùng tồn tại
Ví dụ: bệnh nhân (từ gốc Hán) – người bệnh (từ thuần Việt)
+ Thuật ngữ và từ thường dùng cho toàn dân cùng tồn tại
Ví dụ: trần bì (thuật ngữ đông y) – vỏ quýt (thường dùng)
15
- Từ đồng nghĩa phân loại theo sắc thái ý nghĩa
+ Sắc thái tình cảm: những từ này không khác nhau về nghĩa mà chỉ khác
nhau về thái độ của người nói đối với sự vật.
Ví dụ: khái niệm ăn được biểu thị bởi các từ như ăn, xơi, chén, táp
+ Về phạm vi to – nhỏ, rộng – hẹp khác nhau
Ví dụ: lâu đài và nhà là hai từ đồng nghĩa nhưng khác nhau về phạm vi to,
nhỏ. Lâu đài là cái nhà to của những nhà quyền quý thời xưa; còn nhà chỉ chung
chỗ ở.
+ Về mức độ khái quát khác nhau
Ví dụ: Từ cây cụ thể hơn từ ghép cây cối.
+ Về mức độ năng – nhẹ, cao – thấp khác nhau
Ví dụ: ngại có mức độ nhẹ hơn sợ, kinh lại có mức độ cao hơn sợ.
+ Về thái độ thân mật, kính trọng hay bình thường
Ví dụ: các từ chết, mất, toi mạng, từ trần
Chết: thái độ bình thường
Mất: thái độ thân mật
Toi mạng: thái độ khinh thường
Từ trần: thái độ kính trọng
+ Về phương pháp hay phương tiện khác nhau
số lượng nghĩa. Ví dụ: Trong hai từ lui và lùi thì lui có số lượng nghĩa nhiều hơn từ
lùi. Lùi tức là di chuyển ngược trở lại về phía sau trong khi vẫn giữ nguyên tư thế
như đang tiến về phía trước. Lui có các nghĩa là di chuyển ngược lại trong không gian
theo bất cứ tư thế nào còn; chỉ hành động trừu tượng hoặc hành động diễn ra
không phải trong không gian. Người ta chỉ nói: “Tôi xin rút lui ý kiến” chứ không nói:
“Tôi xin rút lùi ý kiến”.
- Trong mỗi nhóm từ đồng nghĩa thường có một từ mang nghĩa chung,
được dùng phổ biến và trung hòa về mặt phong cách, có tần số xuất hiện cao, được
lấy làm cơ sở để tập hợp và so sánh, phân tích các từ khác. Từ đó gọi là từ trung
tâm của nhóm. Ví dụ: từ ăn trong nhóm ăn, xơi, chén, nhậu, dùng, đớp, tạp… Về
mặt hình thức, nếu trong nhóm có cả từ đơn tiết và đa tiết thì từ trung tâm thường là
từ đơn tiết, đó cũng là từ có khả năng tạo từ phái sinh cao nhất. Ví dụ: hiền là từ
trung tâm trong dãy đồng nghĩa hiền - hiền lành – hiền hậu – hiền từ - nhân hậu –
nhân từ… ; ác là từ trung tâm trong dãy đồng nghĩa ác – dữ - độc ác – hiểm độc –
ác nghiệt… Cũng cần lưu ý rằng, một từ nhiều nghĩa có thể đồng thời tham gia
vào nhiều nhóm đồng nghĩa khác nhau nên có thể ở nhóm này nó là từ trung tâm
nhưng ở nhóm khác nó không mang tư cách đó.
17
- Trong nhóm từ đồng nghĩa bao giờ cũng có sự tương đồng và dị biệt.
Sự tương đồng sẽ có ở tất cả các từ còn sự dị biệt sẽ có ở từng từ trong nhóm. Ví
dụ: Trong câu “Con chim bé bỏng trở nên nhỏ nhoi giữa cái rộng lớn, bát ngát của
trưa hè”, dù mang nghĩa giống nhau nhưng “bé bỏng” và “nhỏ nhoi” vẫn có những
dị biệt thú vị. “Bé bỏng” gợi dáng vẻ nhỏ nhắn, đáng yêu nhưng “nhỏ nhoi” lại tạo
ấn tượng về sự “mỏng manh, yếu ớt” trong bức tranh đối lập “rộng lớn, bát ngát”
của trưa hè.
- Các từ đồng nghĩa phải thuộc cùng một từ loại. Chẳng hạn như:
+ Từ đồng nghĩa là động từ: ăn, xơi, chén, táp…
sống động. Bên cạnh đó, chúng còn là phương tiện ngôn ngữ giúp gia tăng tính liên kết
trong phát ngôn, tránh được lỗi lặp từ; đồng thời tạo nên các phép tu từ hiệu quả.
* Giá trị biểu đạt của từ đồng nghĩa trong giao tiếp
Với chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện trong giáo dục, thay sách giáo
khoa …, phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh được xem là yêu cầu có tính cấp
thiết và thời sự. Trong bối cảnh này, cần phải tìm ra những giải pháp tối ưu nhằm phát
triển năng lực ngôn ngữ cho các em, nhất là về kiến thức và các kĩ năng từ vựng như
sử dụng các lớp từ đồng nghĩa, trái nghĩa, nhiều nghĩa - những đơn vị ngôn ngữ được
sử dụng hiệu quả và rộng rãi hằng ngày trong đời sống.
Mỗi lớp từ đều có một đặc trưng riêng, trong đó đồng nghĩa là một trong những
lớp từ vựng được sử dụng thường xuyên trong hoạt động giao tiếp của mỗi người nói
riêng và cả cộng đồng dân tộc nói chung, có tác dụng miêu tả, thay thế, tránh lỗi
lặp, giúp cho hình thức diễn đạt trở nên sinh động hơn.
Trước hết, từ đồng nghĩa giúp diễn đạt được đúng nội dung tư tưởng của người
nói. Nếu như trong tư duy của chúng ta đã nảy sinh ý tưởng, nội dung để nói nhưng
không có tổ hợp các từ, cụm từ thì chắc chắn ý tưởng đó khó có thể trở thành dạng
hành chức. Mặt khác, trong các từ, cụm từ đó lại có vô vàn cách diễn đạt, vì vậy muốn
lời nói đạt hiệu quả cao đòi hỏi người nói phải biết lựa chọn chính xác một từ trong
dãy đồng nghĩa phù hợp với nội dung mình đang nghĩ. Triết học Mác - Lênin đã từng
khẳng định “ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy”, nó chính là hình thức biểu hiện tư
tưởng, tình cảm, thái độ hay tư duy của người nói. Do đó, để sử dụng từ đồng nghĩa
đạt hiệu quả, người nói cần phải có kĩ năng sử dụng từ ngữ chuẩn xác và tinh tế, đó là
“lựa chọn” và “kết hợp”.
Chẳng hạn khi muốn trao cái gì đó cho ai được quyền sử dụng riêng vĩnh viễn
mà không đòi hoặc đổi lại lấy một cái gì thì người nói phải hết sức tinh tế trong lựa
chọn và sử dụng 3 từ: cho, biếu, tặng.
- Dùng cho khi vị thế giao tiếp của người trao cao hơn hoặc ngang với người
nhận, vật được trao là cái có giá trị vật chất, giá trị sử dụng.
19
song chúng lại có sự khu biệt về vị thế giao tiếp giữa người trao và người nhận cũng
như thái độ của người trao đối với người nhận. Đặc biệt là thái độ đánh giá của người
trao đối với hiện thực khách quan - tức là sự vật được trao - mang giá trị vật chất, giá
trị sử dụng hay có giá trị tinh thần. Tóm lại các từ này tương đồng với nhau chứ không
bao nhau. Có khi, cùng một hành động trao bó hoa hồng cho người khác, nếu là học
sinh đối với cô giáo ngày 20 tháng 11 thì chỉ có thể dùng động từ tặng mà thôi. Còn
20