skkn phát triển năng lực sử dụng từ ngữ cho học sinh lớp 6 qua việc phát hiện và chữa lỗi dùng từ trong bài văn miêu tả - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Phát triển năng lực sử dụng từ ngữ cho học sinh lớp 6 qua
việc phát hiện và chữa lỗi dùng từ trong bài văn miêu tả.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn
3. Tác giả:
- Họ và tên: Trương Thị Như Hoa
- Sinh ngày 01/02/1979
- Trình độ chuyên môn: Đại học Văn
- Chức vụ: Phó hiệu trưởng
- Đơn vị: THCS Hoàng Hanh
- Điện thoại: 01638555057
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường THCS Hoàng Hanh
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Học sinh THCS
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: năm học 2013- 2014

Tác giả

Xác nhận của đơn vị áp dụng
sáng kiến

1


TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1. Hoàn cảnh chung
- Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực đã trở thành xu hướng
giáo dục quốc tế và trong nước, đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo con người .
- Nhận thức chung của xã hội, người dạy và người học về dạy học theo định
hướng năng lực còn chung chung, mơ hồ.

3.2 Khả năng áp dụng
- Các biện pháp đưa ra trong sáng kiến có thể được sử dụng linh hoạt ở các
khâu, các phần của bài dạy trong các tiết Ngữ văn đặc biệt trong phân môn tập
làm văn ( phần kiến thức về văn miêu tả).
- Áp dụng trong dạy học văn miêu tả ngữ văn 6 và một số tiết ở ngữ văn 8,9. Nó
được thực hiện ở trong giờ trả bài tập làm văn, và trong phần luyện tập của các
tiết tìm hiểu về văn miêu tả, cách làm, luyện nói, phương pháp tả cảnh, tả người
3.3. Lợi ích thiết thực của sáng kiến
- Trong các giờ học này, khi được sáng kiến cung cấp hệ thống các lỗi dùng từ
thường gặp của HS, giáo viên dễ dàng nhận biết các lỗi sử dụng từ ngữ của các
em, từ đó có thể tạo tình huống và đưa ra các biện pháp sửa lỗi cho HS.
- Từ sáng kiến này giáo viên sẽ chú ý nhiều hơn đến việc giúp học sinh sử dụng
từ ngữ trong những tình huống cụ thể chứ không dừng lại ở việc cung cấp kiến
thức đơn thuần. Học sinh được làm, được thay đổi, được lựa chọn các từ ngữ
chuẩn mực cho bài văn của mình để từ đó làm phong phú vốn từ vựng của bản
thân.
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
* Với giáo viên: Hệ thống được các lỗi dùng từ thường gặp của HS, có quy
trình và biện pháp sử lý lỗi dùng từ đó một cách cụ thể, hợp lý.
* Với học sinh: Giá trị của sáng kiến nằm ở chỗ phát triển năng lực sử dụng từ
ngữ cho HS qua những tình huống phát hiện và sữa lỗi thực tế. Nâng cao chất
lượng bài văn miêu tả của học sinh. Năng lực giao tiếp được cải thiện đáng kể.
5. Đề xuất kiến nghị: - Chương trình mới cần tăng cường thời gian thực hành
vận dụng từ ngữ vào trong các tình huống cụ thể.
- Giáo viên cần có sự chuẩn bị bài dạy chu đáo, luôn có ý thức rèn năng lực sử
dụng ngôn ngữ cho học sinh.
- HS cần xây dựng thói quen nói đúng, viết đúng, giữ gìn sự trong sáng của
Tiếng Việt.

3

Khả năng nhận diện và sửa lỗi trong quá trình viết văn đặc biệt là văn miêu
tả của học sinh lớp 6 còn hạn chế.

2. Cơ sở lí luận:
Khi xác định các nhóm năng lực cần hình thành và phát triển ở học sinh
phổ thông, đã chia năng lực thành hai nhóm: các năng lực chung và các năng lực
4


chuyên biệt. Các năng lực chung gồm: nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản
thân (năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy, năng lực tự
quản lí); nhóm năng lực về quan hệ xã hội (năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác)
và nhóm năng lực công cụ (năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền
thông, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán) .Như vậy, năng lực sử
dụng ngôn ngữ thuộc nhóm năng lực công cụ.
Các nhà khoa học và sư phạm đánh giá rất cao vai trò của từ ngữ đối với
sự phát triển năng lực tư duy của học sinh. Vốn từ của mỗi người được hình
thành ngay từ khi chưa đến trường qua lời nói của cha mẹ và của những người
xung quanh nhưng thực sự hoàn thiện và phong phú hơn trong môi trường giáo
dục, đặc biệt là thông qua bộ môn Ngữ Văn. Nhờ có các hoạt động của môn học
này mà vốn từ của các em không ngừng được bổ sung và hoàn thiện và cũng qua
quá trình dạy- học Ngữ văn ta nhận ra những hạn chế trong cách sử dụng từ ngữ
của học sinh.
Có thể nói quá trình tạo lập văn bản nói riêng, văn miêu tả nói chung có
mối liên hệ mật thiết với vốn từ và kĩ năng dùng từ của học sinh. Văn miêu tả là
loại văn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất
nổi bật của một sự vật, sự việc, con người, phong cảnh...làm cho những cái đó
như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe.
Theo Đào Duy Anh trong Hán văn từ điển: “ Miêu tả là lấy nét vẽ hay
câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật. Như vậy văn miêu tả hướng tới

miêu tả, kĩ năng dùng từ cũng rất được chú trọng. Tuy nhiên từ thực tế đứng lớp
tôi thấy nhiều học sinh của chúng ta rất ngại viết văn miêu tả và trong giao tiếp
ít khi miêu tả về hiện thực cuộc sống một cách đến nơi đến chốn để người nghe
có thể hình dung sự vật, sự việc, con người một cách cụ thể, rõ ràng. Chất lượng
các bài văn miêu tả của học sinh phần nhiều còn rất hạn chế.
Để đánh giá đúng thực trạng của vấn đề này, tôi đã tiến hành điều tra
trong nhiều năm, thông qua việc trao đổi trực tiếp với giáo viên bộ môn, với học
sinh và trên chính bài làm của học sinh tôi trực tiếp giảng dạy.
Tôi đã tiến hành thu thập ý kiến của nhiều giáo viên dạy ngữ văn 6 về
nguyên nhân chất lượng bài văn miêu tả của học sinh lớp 6 còn hạn chế, kết quả
điều tra 80% giáo viên cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến học sinh chưa làm
tốt bài văn miêu tả là do chưa có kĩ năng quan sát và chưa biết cách dùng từ, số
còn lại thiên về nguyên nhân học sinh thiếu vốn sống và chưa thật sự chú tâm
vào việc học và một số nguyên nhân khác.
Điều tra 22 học sinh lớp tôi trực tiếp đứng lớp với câu hỏi trắc nghiệm:
Những nguyên nhân nào khiến các em khó viết văn miêu tả?
a. Chưa có kiến thức về văn miêu tả
b. Có ít thời gian để quan sát thực tế
c. Rất “ bí” từ khi viết văn
d. Tất cả các ý kiến trên.
6


Kết quả 57% lựa chọn đáp án (c): rất bí từ khi diễn đạt; 31% chọn đáp án
(b): có ít thời gian để quan sát thực tế, số còn lại là đáp án (a), (d) một số em
nêu ý kiến riêng. Như vậy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này.
Trước hết ta thấy vốn sống thực tế của các em còn rất hạn chế. Nhiều học
sinh nông thôn chưa từng được ra thành phố, học sinh miền núi chưa từng được
đến biển...Nhiều HS thành phố chưa hề được nghe hay nhìn thấy một con gà
đang gáy, con trâu đang cày ruộng, được quan sát cánh đồng lúa xanh mướt

trôi (...). Mặt trời ló ra. Nắng (...). Rồi nắng (...) dần lên. Trong khu vườn nhỏ,
chim chóc gọi nhau (...) nghe vang động và (...) biết bao”
Kết quả thu được rất đáng báo động. Vốn từ ngữ của học sinh quá ít học
sinh tìm được nhiều nhất cũng chỉ được 5 từ ngữ, có học sinh chỉ tìm được có 3
từ, còn lại là dùng sai hoặc chưa tìm được từ thích hợp. Như vậy số từ ngữ mà
học sinh có không đủ dùng trong giao tiếp hàng ngày chưa nói đến việc tạo lập
văn bản miêu tả theo đúng yêu cầu.
Chính từ những kết quả khảo sát trên tôi thấy đây là thực trạng rất đáng
lo ngại . Vậy nên vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế đến mức thấp nhất việc
dùng sai từ ngữ trong bài văn miêu tả nói riêng và trong cả quá trình tạo lập văn
bản nói chung cho học sinh lớp 6 - lứa tuổi mới lớn đang hình thành và phát
triển mọi mặt trong đó có sự hình thành và phát triển ngôn ngữ - công cụ đặc
biệt cần thiết để phát triển tư duy. Dạy và rèn cách dùng chuẩn từ ngữ cho học
sinh lớp 6 từ chính bài văn miêu tả là bước chuyển hợp lí nhất, làm nền tảng
vững chắc cho các dạng văn bản khác, dẫn đến hạn chế tối đa việc mắc lỗi dùng
từ ở trường THCS và cả ở bậc học trên nữa.Chính vì vậy trong quá trình dạy học
bằng kinh nghiệm và ý thức nghề nghiệp tôi rất chú ý đến việc phát hiện và khắc
phục lỗi dùng từ cho học sinh ngay trong bài văn miêu tả- một thể loại gần gũi
nhất với học sinh lớp 6.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
Như đã nói ở trên một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng
bài văn miêu tả của học sinh còn kém bởi học sinh chưa có ý thức cũng như
chưa có kĩ năng trong cách dùng từ. Việc phát hiện, phân tích và chữa lỗi dùng
từ trong bài làm của HS là hết sức cần thiết. Việc làm này một mặt giúp học sinh
loại bỏ lỗi dùng từ trong bài văn của mình mặt khác giúp học sinh nâng cao ý
thức về việc dùng từ hình thành kĩ năng dùng từ đúng, hay qua đó nâng cao chất
lượng bài văn miêu tả. Có thể nói, lỗi dùng từ trong bài văn miêu tả của HS lớp
6 rất phong phú và đa dạng. Để khắc phục được tình trạng này, trước hết mỗi
giáo viên chúng ta cần nắm vững và hệ thống được các lỗi dùng từ cơ bản,
thường gặp của học sinh và có cách chữa cụ thể, hợp lí.


4.1.2. Lỗi về kết hợp từ.
Các từ khi được dùng trong câu văn,trong bài miêu tả, luôn có mối quan
hệ về ngữ nghĩa và ngữ pháp. Chúng nằm trong các mối quan hệ với các từ đi
trước và các từ đi sau. Vì thế do không nắm chắc được nghĩa, hoặc không chú ý
đến các mối quan hệ về nghĩa và ngữ pháp giữa các từ dùng trong câu nên học
sinh đã kết hợp từ không đảm bảo sự tương tác với nhau, không ăn khớp với
nhau.
9


VD1 : Mỗi khi ba tiếng tiếng trống đổ hồi đều đặn, chúng em lại nhanh
chân xếp hàng vào lớp.
VD2 : Cô có hàm răng trắng, thẳng tắp.
Ở VD1 ta không thể dùng từ đổ một hồi để miêu tả 3 tiếng trống vì nghĩa
của chúng không tương hợp với nhau. Hồi là nhiều âm thanh kế tiếp nhau trong
một thời gian nhất định, chỉ có 3 tiếng trống không thành hồi được. Vì thế cần
thay thế từ đổ hồi bằng từ ngữ khác, VD như vang lên..., ở VD2, thẳng tắp
nghĩa là thẳng thành một đường dài, dùng để miêu tả hàm răng là không hợp lí
nên thay bằng từ đều đặn.Như vậy để tránh lỗi về kết hợp từ giáo viên cần lưu ý
HS thật chú ý đến nghĩa của từ và ngữ cảnh mà từ xuất hiện, đặt chúng trong
mối quan hệ với những từ ngữ trong cùng câu văn, đoạn văn. Nếu cảm thấy
chưa thật chắc chắn vào sự lựa chọn của mình nên tra từ điển Tiếng Việt để tìm
được những từ phù hợp nhất.

4.1.3. Lỗi dùng thừa từ, lặp từ.
Dùng thừa từ, lặp từ là lỗi học sinh thường mắc phải trong bài văn miêu
tả. Nguyên nhân của lỗi này là do HS không nắm chắc nghĩa của từ, không nắm
chắc mô hình câu. Đồng thời do nghèo về vốn từ, khả năng huy động và lựa
chọn từ hạn chế.

Văn miêu tả là loại văn giàu hình ảnh và cảm xúc. Vì thế trong bài văn
miêu tả yêu cầu dùng từ đúng là chưa đủ mà còn phải dùng từ hay. Bởi khi
dùng từ đúng lúc, đúng chỗ, những từ ngữ gợi tả, gợi cảm, những hình ảnh so
sánh, nhân hoá,... sẽ làm cho đối tượng miêu tả được hiện ra một cách cụ thể,
sinh động, đồng thời cũng bộc lộ được tình cảm, cảm xúc của người viết, cũng
như khơi gợi được tình cảm, cảm xúc ấy ở người đọc. Cái đích của người viết
văn miêu tả là làm thế nào để phác họa được những bức tranh thiên nhiên, bức
tranh sinh hoạt hoặc chân dung của con người một cách cụ thể, sống động và có
hồn như nó vốn có trong cuộc sống. Chính vì thế trong bài văn miêu tả, nhiều
HS dùng từ đúng nhưng vẫn mắc lỗi, đó là lỗi dùng từ không hay (còn gọi là lỗi
dùng từ thiếu hình ảnh, cảm xúc)
VD1: Chiếc bút có màu đen.
VD2:Những bông hoa trong vườn toả hương rất thơm
VD3: Phía chân núi, mặt trời màu đỏ đang từ từ lên
Những câu văn trên đây nếu xét một cách cô lập, tách khỏi bài văn miêu
tả thì hoàn toàn bình thường cả về cấu tạo ngữ pháp cũng như về ý nghĩa. Tuy
nhiên khi đặt trong bài văn miêu tả, mới thấy chúng chưa thật hay, chưa hấp dẫn
và truyền cảm.
Để chữa lỗi này cần phải thay thế vào vị trí của những từ ngữ thiếu hình
ảnh và cảm xúc bằng các từ láy, tính từ gợi tả, gợi cảm hoặc các biện pháp so
sánh, nhân hoá...thích hợp. Đối với câu ở VD1 có thể thay từ đen bằng đen
nhánh; VD 2 có thể thay bằng thơm ngát hoặc ngào ngạt; VD3 cần phối hợp
11


hình ảnh so sánh và nhân hoá: Phía chân núi, ông Mặt Trời như một quả cầu
lửa khổng lồ đang nhô lên...Cách tốt nhất là cần hướng dẫn HS lựa chọn tinh
tường, sao cho giữa một hệ thống các từ phải luôn có thói quen tìm các từ gợi
hình, biểu cảm. Muốn làm nổi bật hình ảnh của đối tượng thì chú ý nhiều đến hệ
thống từ tượng hình, muốn làm nổi bật không khí của cảnh thì dùng hệ thống

lĩnh hội thật sát nội dung định miêu tả của người viết. Để đạt được điều này, nên
đặt từ đang xét trong câu, trong đoạn văn, thậm chí trong cả bài văn miêu tả. Do
đó cần tìm tòi và cân nhắc, thật thận trọng và kĩ lưỡng để lựa chọn được những
từ ngữ thích hợp. Trong quá trình chấm bài giáo viên nên dành thời gian trao
đổi với học sinh cho các em cơ hội để lí giải những từ ngữ mà các em đã sử
dụng.

12


4.2.3. Tìm ra nguyên nhân sai
Như ta đã biết, các lỗi dùng từ xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau,
khi thống kê phân loại lỗi, nắm được nội dung định miêu tả của HS giáo viên
cần xác định chính xác nguyên nhân mắc lỗi dùng từ của HS như lỗi lặp từ, dùng
từ không đúng nghĩa, nhầm lẫn giữa các từ gần âm, hay dùng sai phong
cách...Giáo viên cần xác định câu văn đã mắc lỗi nào trong các lỗi cơ bản nêu
trên hoặc có thể mắc nhiều lỗi trong cùng một câu để có cách sửa lỗi thích hợp.

4.2.4. Chữa lỗi.
Thao tác cơ bản được sử dụng để chữa lỗi dùng từ là lựa chọn và thay
thế. Do đó cần lựa chọn được từ ngữ thích hợp để thay thế vào vị trí của từ
dùng không đúng hoặc không hay. Chữa lỗi phải đảm bảo được nội dung của bài
làm. Cũng nên tránh cách chữa làm thay đổi quá nhiều làm khác biệt cả nội
dung và cách diễn đạt mà học sinh sử dụng.
Không nên chọn những câu văn chứa quá nhiều lỗi dùng từ, bởi những
câu như vậy sẽ làm cho việc chữa lỗi ở lớp rất phức tạp, khiến cho học sinh khó
phát hiện ra nguyên nhân mắc lỗi cũng như khó tìm ra cách chữa.
Có thể nói chữa lỗi dùng từ là một trong những biện pháp có tác dụng rất
tích cực đối với việc rèn luyện kĩ năng dùng từ và nâng cao chất lượng bài văn
miêu tả cho HS lớp 6. Giáo viên cần căn cứ vào bài văn miêu tả cụ thể của HS

điểm số.
GV cần quan sát bầu không khí của lớp trong tiết trả bài và những phản
ứng của các em về lỗi dùng từ và các từ được sửa, tạo cho các em có cơ hội
được bộc lộ suy nghĩ để biết rõ hơn vì sao các em lại dùng sai, dùng chưa hay.
Không nên nhận xét nặng lời, chì chiết làm các em cảm thấy nặng nề, xấu hổ
dẫn đến giờ trả bài thành giờ “ tố lỗi”. Nhận xét cụ thể, chi tiết, thấu tình đạt lí,
gợi ý cách chữa hợp lí sẽ làm cho các em “ tâm phục, khẩu phục” .
Lời nhận xét của giáo viên giúp học sinh biết được điểm mạnh, điểm yếu,
chỗ sai, nguyên nhân mắc lỗi, cách sửa chữa từ đó có kế hoạch tự hoàn thiện rèn
kĩ năng dùng từ, làm giàu vốn từ của mình để nâng cao chất lượng bài văn miêu
tả như là một kĩ năng sống quan trọng trong giao tiếp hằng ngày. Thực tế các bài
viết văn của HS hiện nay rất cần những lời phê thấu tình đạt lí. Nhất là đối với
HS lớp 6, các em vừa chập chững bước vào trường THCS, giáo viên chúng ta
cần thật mềm dẻo và linh hoạt trong những lời phê của mình để khích lệ sự tiến
bộ của HS qua từng bài viết.
4.4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUAN TRỌNG CẦN LÀM HẠN CHẾ LỖI
DÙNG TỪ CỦA HỌC SINH TRONG BÀI VĂN MIÊU TẢ
Phát hiện lỗi và sửa lỗi dùng từ cho HS việc rất quan trọng song quan
trọng hơn là làm thế nào để học sinh hạn chế nhất việc mắc lỗi dùng từ trong bài
văn miêu tả nói riêng và trong viết văn nói chung, bởi việc phát hiện và chữa lỗi
dù sao cũng là giải pháp tình thế. Qua thực tế đứng lớp, nghiên cứu, khảo sát,
chúng tôi có nhận định rằng: Để viết được những câu văn miêu tả có nghĩa chính
14


xác và giàu hình ảnh, giáo viên cần giúp học sinh được làm quen với từ - hiểu từ
và sử dụng được từ - biết lựa chọn và sử dụng từ một cách linh hoạt trong mọi
văn cảnh” để thực hiện được điều đó tôi thường sử dụng một số giải pháp sau
đây:


4.4.3. Tăng cường các dạng bài tập rèn kỹ năng sử dụng từ và kết hợp từ
đúng:
Trong việc trau dồi từ ngữ nghệ thuật, cần thấy cách sử dụng từ chịu sự
quy định của mục đích, hoàn cảnh nói năng của phong cách ngôn ngữ nhất định.
Nói chung trong phong cách này, hoàn cảnh này thì có nghĩa chính xác, giàu
hình ảnh gợi cảm và mang tính nghệ thuật cao nhưng ở một văn cảnh khác thì
không thích hợp và thiếu tính nghệ thuật đôi khi không chính xác.
Ví dụ: “ Oai hùng” mà đặt vào ngữ cảnh khi học sinh miêu tả: “Vầng trán
cao thể hiện sự oai hùng”. Đó là một sự kết hợp thiếu hình ảnh, thiếu chính xác.
Trong ngữ cảnh này ta nên dùng từ “thông minh” để thay thế - “Vầng trán cao
biểu lộ sự thông minh”.
Vốn từ được tích lũy là cơ sở quan trọng trong việc trau dồi ngôn ngữ.
Nhưng chỉ có vốn từ phong phú thôi thì chưa đủ để trình bày tốt một văn bản mà
còn đòi hỏi khả năng tự chọn kết hợp từ ngữ một cách hợp lí, chính xác. Đồng
thời phải rèn luyện và xây dựng một kỹ năng thành thạo trong việc sử dụng từ.
Muốn xây dựng kỹ năng này, chúng ta cần hướng dẫn học sinh thường xuyên
giải quyết các loại bài tập như sau:
- Dùng từ đặt câu: Tạo cho học sinh huy động vốn từ ngữ của mình để
diễn đạt ý nghĩa một câu trọn vẹn theo chủ đề nhất định. Ví dụ: Đặt câu với từng
cặp từ sau:
a) Rộng lớn / rộng rãi
b) Đen đúa / đen đủi
c) Thanh bình / thanh nhàn
- Điền từ: Dạng bài tập này nhằm rèn kỹ năng kết hợp từ là hình thức tìm
và lựa chọn từ thích hợp để đặt vào ngữ cảnh đó sao cho đúng nghĩa. Ví dụ: Tìm
từ thích hợp điền vào dấu (…) :
a) Dữ dội/ dữ dằn : Gió bắt đầu lên, mặt biển nổi sóng (…)
b) Hiền hòa / hiền hậu: Dòng sông(…) chảy
c) Êm đềm / êm ái : Tuổi học trò trôi qua (…)
d) Lạnh lùng / lạnh lẽo: Ngôi nhà hoang thật(…)

2. Kĩ năng
- Luyện kỹ năng miêu tả, dùng từ
3. Thái độ
- Biết tự nhận xét, sửa bài làm của mình và của bạn.
B/ CHUẨN BỊ

- GV chấm bài, nhận xét chi tiết
- HS xem lại đề bài, lập dàn ý chi tiết
C/ HOẠT ĐỘNG TRÊN LỚP:

* Ổn định lớp:

17


* Kiểm tra bài cũ: ( Miễn)
* Bài mới:
Hoạt động của thày
Hoạt động của trò
* Gv chấm bài trước một tuần, nhận I. CHUẨN BỊ Ở NHÀ
xét bài làm của học sinh. Hệ thống các
ưu điểm, nhược điểm ( đặc biệt chú ý
đến lỗi dùng từ)
* Trả bài trước tiết trả bài 3 ngày để * HS xem xét nội dung nhận xét của
HS tiện theo dõi.
giáo viên, hệ thống lỗi sai, xác định
nguyên nhân sai và cách sửa lỗi của cá
nhân.
II. HOẠT ĐỘNG TRÊN LỚP
* GV tổ chức cho HS thực hiện các a. Tìm hiểu bài làm.


- H/s tự nhớ lại bài làm của mình để tự
nhận xét

(Sau đó h/s trao đổi các vấn đề trên theo
nhóm).
* G/v nêu đến khuyết điểm nào, h/s tự
phát hiện lỗi qua lời cô phê, h/s lên
bảng ghi ra lỗi của mình và tự sửa; Lớp
cùng sửa


b. Nhận xét ưu, khuyết điểm:
1. Ưu điểm:
- Đa số h/s biết xác định đúng thể loại: văn tả cảnh.
- Chọn được đối tượng miêu tả thích hợp: cảnh đẹp trên quê hương.
- Ban đầu đã biết sử dụng từ ngữ gợi cảm để miêu tả, biết xây dựng các
hình ảnh so sánh, nhân hoá tạo sự sinh động, hấp dẫn.
- Chữ viết rõ ràng, sạch sẽ, bớt lỗi chính tả.
- Lỗi câu đã giảm đáng kể.
- Bố cục bài viết rõ ràng.
2. Khuyết điểm:
- Dùng từ chưa hợp lý ( đã hệ thống cụ thể trong bài làm của HS)
- Chưa có sáng tạo, còn cứng nhắc trong trình bày phần thân bài: Đa số
các bài làm, phần thân bài chỉ có một bạn duy nhất, không biết triển khai ý lớn
thành đoạn để tạo sự cân xứng cho bài làm.
- Các bài viết hầu hết đều tham tả. Mang tâm lý sợ tả ít sẽ thiếu hình ảnh
nên cố gắng đưa vào tả hết mà không chọn lọc xem tả những hình ảnh nào, hình
ảnh nào chỉ tả qua, hoặc không cần tả hình ảnh nào.
Chính vì vậy bài văn chưa tạo được nét nổi bật, ấn tượng.

dòng lặng, dòng nước lững
nước trôi từ từ. lờ trôi.
* GV đọc 2-3 bài làm tốt, có khả năng dùng từ và diễn đạt hay. Đọc
những đoạn tiêu biểu nhất về cách dùng từ sáng tạo để tuyên dương trước lớp.

19


* Kết quả chung:
Điểm 9, 10

Điểm 7, 8

Điểm 5, 6

Điểm dưới trung
bình

0

21

20

0

* Phấn đấu bài viết sau sẽ nâng tỷ lệ lượng bài khá giỏi lên cao hơn.
*. HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ :
- Tự hoàn thiện bài làm của mình. Tiếp tục sửa các lỗi đã mắc bằng nhiều
cách khác nhau.

sinh sử dụng từ đúng hơn, lỗi dùng từ đã giảm đi đáng kể so với trước khi thực
hiện. Đặc biệt là lỗi lặp từ gần như đã hết, nội dung miêu tả được biểu đạt chính
xác và sinh động hơn trước khi các biện pháp trên được áp dụng, chất lượng bài
văn miêu tả được nâng lên rõ rệt. Tiến hành khảo sát qua hai đợt với đề văn:
Hãy tả lại một cảnh đẹp trên quê hương em, kết quả thu được như sau:
Cụ thể là:
Trước khi thực

Sau khi thực hiện

hiện phương

phương pháp

Kết quả thu được
Lỗi dùng lặp từ
Lỗi dùng từ không đúng nghĩa
Lỗi lẫn lộn từ gần âm
Lỗi dùng từ thiếu hình ảnh, cảm

SL
30
20
25
27

pháp
%
81
54


Khá

số HS

SL

%

SL

28

1

3,6

6

28

6

21,4 11

%

Trung
bình
SL

( tuần 29)

6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
6.1. Về nhân lực:

21

3,6


- Giáo viên đạt trình độ chuẩn về đào tạo, có vốn từ vựng phong phú và khả
năng sử dụng từ ngữ linh hoạt trong các tình huống cụ thể.
- Giáo viên nắm vững chương trình bộ môn, có cái nhìn khái quát về chương
trình và khả năng tích hợp giữa các phân môn một cách mềm dẻo.
- Luôn có ý thức sử dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng
lực của học sinh, tôn trọng và coi trọng khả năng độc lập, chủ động và sáng tạo
của học sinh trong quá trình học tập.
- Học sinh luôn có ý thức rrèn luyện năng lực sử dụng từ ngữ làm giàu vốn từ
bản thân để tạo lập văn bản miêu tả một cách chính xác.
6.2. Về trang thiết bị, kĩ thuật.
- Các tiết học có liên quan đến sửa lỗi phải được soạn chi tiết cụ thể. Tốt nhất
nên soạn giáo án trình chiếu.
- Phòng học được bố trí máy chiếu, camera vật thể, và bảng phụ phục vụ cho
việc hệ thống và sửa lỗi.
- Thư viện nhà trường trang bị đầy đủ các từ điển Tiếng Việt, từ điển ngữ nghĩa
Tiếng Việt phục vụ cho việc tra cứu nghĩa từ của giáo viên và học sinh.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN


Việt.
II. KIẾN NGHỊ

1. Về phía giáo viên
23


* Để thực hiện việc rèn và chữa lỗi cho học sinh có kết quả mỗi giáo viên nói
chung, giáo viên Ngữ văn nói riêng cần phải:
- Phải thực sự hiểu được tầm quan trọng của văn miêu tả và việc sửa chữa lỗi
dùng từ cho học sinh.
- Phải có ý thức để hướng dẫn học sinh rèn luyện việc dùng từ. Nên đề xuất với
chuyên môn tăng cường thời gian cho các tiết rèn kĩ năng dùng từ để tạo lập văn
bản, nhất là văn miêu tả ( tiết tự chọn, hoặc tiết học phụ đạo)
- Bản thân giáo viên phải là tấm gương sáng trong việc dùng từ khi nói và viết.

2. Về phía học sinh
* Để thực hiện việc rèn và chữa lỗi cho học sinh có kết quả mỗi học sinh lớp 6
nói chung, học sinh THCS nói riêng cần phải:
- Phải thực sự hiểu được tầm quan trọng của văn miêu tả và mối quan hệ chặt
chẽ giữa kĩ năng dùng từ và kĩ năng miêu tả.
- Phải có ý thức để dùng từ cho đúng để miêu tả cho chính xác và sinh động .
- Bản thân tuân thủ những hướng dẫn của thày cô trong việc sử chữa lỗi dùng từ.
Những điều nêu trên là kết quả nghiên cứu bước đầu của tôi, việc để xuất
các biện pháp nhằm phát hiện và chữa lỗi dùng từ trong bài văn miêu tả của HS
lớp 6, cũng như những biện pháp để hạn chế lỗi dùng từ của các em nhằm tích
cực hóa hoạt động nhận thức của HS THCS, nâng cao chất lượng bài văn miêu
tả từ đó giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt; mong tiếp tục sẽ được trao đổi,
nghiên cứu cùng các đồng nghiệp.
Xin chân thành cám ơn!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status