bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh lớp 6 qua việc dạy học truyện cổ tích - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
PHAN THỊ PHƢƠNG LY
BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 6
QUA VIỆC DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là
khách quan, trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình
nghiên cứu nào khác.
Tác giả
Phan Thị Phƣơng Ly

ii
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS. Hoàng Hữu Bội
- Người thầy đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Ngữ văn,

Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1. Cơ sở lí luận 7
1.1.1. Lí thuyết về tự học 7
1.1.2. Truyện cổ tích và quan điểm dạy học truyện cổ tích trong chương
trình Ngữ Văn 6 11
1.2. Cơ sở thực tiễn 18
1.2.1. Đặc điểm tiếp nhận bài học về thể loại truyện cổ tích của học
sinh lớp 6 18
1.2.2. Thực trạng hoạt động tự học, năng lực tự học thể loại truyện cổ tích
của học sinh lớp 6 và việc hướng dẫn học sinh tự học của giáo viên 21
Tiểu kết chƣơng 1 30
Chƣơng 2. BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
LỚP 6 QUA CÁC BÀI HỌC VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH 32
2.1.1. Bồi dưỡng kĩ năng đọc văn bản 32
2.1.2. Bồi dưỡng năng lực thâm nhập vào “thế giới cổ tích” trong truyện 33
2.2. Bồi dưỡng năng lực tự học qua bài học về văn bản “Sọ Dừa” 37
2.2.1. Bồi dưỡng kĩ năng đọc văn bản 37
2.2.2. Bồi dưỡng năng lực thâm nhập vào “thế giới cổ tích” trong truyện 39
2.3. Bồi dưỡng năng lực tự học qua bài học về văn bản “Thạch Sanh” 44
2.3.1. Bồi dưỡng kĩ năng đọc văn bản 44

iv
2.3.2. Bồi dưỡng năng lực thâm nhập vào “thế giới cổ tích” trong truyện 45
2.4. Bồi dưỡng năng lực tự học qua bài học truyện cổ tích “Em bé
thông minh” 50
2.4.1. Bồi dưỡng kĩ năng đọc văn bản 50
2.4.2. Bồi dưỡng năng lực thâm nhập vào “thế giới cổ tích” trong truyện 52

NXB
Nhà xuất bản
NCGD
Nghiên cứu giáo dục
SGK
Sách giáo khoa
TTHL
Trung tâm học liệu
THPT
Trung học phổ thông
THCS
Trung học cơ sở
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Về lí thuyết
Chuyện học hành đối với mỗi con người là hết sức quan trọng. Từ lúc là
một đứa trẻ non nớt với những bài học đầu tiên tập lẫy, tập bò, tập đứng, tập đi,
ê a tập nói cho đến khi lớn lên, rất tự nhiên, đứa trẻ ấy được tiếp thu những bài
học từ đơn giản đến phức tạp. Môi trường học tập cũng ngày càng được mở
rộng: Từ gia đình đến nhà trường và xã hội. Kho tàng tri thức của nhân loại vô
cùng rộng lớn và vì thế việc học của con người cũng không có giới hạn. Cha
ông ta xưa đã đúc kết những câu tục ngữ nói về sự học như “ Học ăn, học nói,
học gói, học mở”, “Học đi đôi với hành”, “Học một biết mười” hay “Không
thầy đố mày làm nên”, “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” Lênin cũng đã
dạy: “Học, học nữa, học mãi”. Có thể nói, trong một xã hội hiện đại, nhu cầu
học tập của con người ngày một tăng cao, mọi người muốn học để biết, học để

học sinh tự học lại chưa được giáo viên chưa quan tâm đúng mức.
1.2.3. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và thế giới vô cùng phong phú,
hấp dẫn nhiều thế hệ bạn đọc, đặc biệt là trẻ em. Trong chương trình Ngữ văn 6
chọn giảng năm câu chuyện, thời lượng học trên lớp là 10 tiết (mỗi tiết 45 phút)
chưa đủ để khai thác hết chiều sâu ý nghĩa cũng như đặc sắc nghệ thuật của
truyện. Việc bồi dưỡng năng lực tự học thể loại này qua việc dạy học các bài
học trong chương trình sẽ giúp các em có một phương pháp tìm hiểu văn bản
sâu hơn và có cái nhìn khái quát hơn khi đọc các câu truyện cổ tích khác trong kho
tàng truyện cổ tích nhân loại. Hơn thế, khi đã có kĩ năng tự học văn bản truyện
cổ tích các em có được một phương pháp nghiên cứu hay nói cách khác là có
được năng lực tự học các văn bản văn chương khác.
Bởi vậy, là giáo viên giảng dạy môn Ngữ Văn ở trường phổ thông, chúng
tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh lớp 6
qua việc dạy học truyện cổ tích” nhằm đóng góp một chút ít vào lí luận về vấn
đề tự học nói chung và việc bồi dưỡng năng lực tự học qua việc dạy học truyện

3
cổ tích cho học sinh lớp 6 nói riêng, góp phần vào việc đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng tích cực hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Vấn đề tự học
Trên thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tự học. Ngay
từ năm 1973, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng qua bài viết “Dạy văn là một quá
trình rèn luyện toàn diện”(Tạp chí NCGD, số 11/1973) đã nêu lên nhận thức
mang tính lí luận về việc đổi mới tư duy trong giảng dạy môn văn. Bài viết đã
phê phán lối dạy học kiểu xưa cũ, theo điệu “sáo”, từ đó tác giả đề nghị không
nên dạy học theo kiểu đọc chép vì như vậy học sinh bị sa vào lối học bắt chước,
thụ động mà phải tạo ra cho học sinh phương pháp học tập, rèn luyện và vận
dụng tốt bộ óc của mình trong việc chiếm lĩnh kiến thức.
Cố Giáo sư Phan Trọng Luận trong một số công trình nghiên cứu khoa học

thể)” tác giả Nguyễn Viết Chữ đã xác định: “Loại và thể là vấn đề mấu chốt
trong dạy học tác phẩm văn chương. Xác định loại thể là xác định“chất của
loại”trong thể” [2]. Tuy nhiên, cũng như Trần Thanh Đạm, tác giả Nguyễn
Viết Chữ khẳng định: “Không có loại, thể nào thuần túy, triệt để, giữa chúng
luôn có sự chuyển hóa, thâm nhập lẫn nhau” [2]. Vì vậy khi tìm hiểu văn bản
văn học ta không nên đi tìm biên giới dứt khoát giữa các thể loại mà chủ yếu
chú ý đến đặc trưng của thể loại đó.
Trong cuốn “Thiết kế bài học Ngữ văn 6 theo hướng tích hợp”[1], tiến sĩ
Hoàng Hữu Bội đã thiết kế các bài học trong chương trình theo đặc trưng thể
loại. Với quan điểm khai thác giá trị của các văn bản văn học từ đặc trưng thể
loại tác giả đã đưa ra những hiểu biết cần thiết khi dạy các thể loại trong chương
trình, hướng tiếp cận các văn bản đó như thế nào cho hiệu quả và phát huy được
khả năng tư duy sáng tạo của học sinh. Phần khai thác các văn bản truyện cổ tích
cũng đã được tác giả dày công nghiên cứu và đưa ra những định hướng rất cụ thể
và trên thực tế nhiều giáo viên vận dụng trong giảng dạy rất thành công.

5
Trong khuôn khổ của đề tài này, người viết quan tâm đến việc bồi dưỡng
năng lực tự học truyện cổ tích cho học sinh lớp 6 từ đặc điểm thi pháp của
truyện cổ tích.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Năng lực tự học của học sinh lớp 6
- Hoạt động tự học của học sinh lớp 6 đối với truyện cổ tích và việc bồi
dưỡng năng lực tự học cho học sinh qua các bài học về truyện cổ tích.
4. Mục đích nghiên cứu
Tìm kiếm một phương pháp dạy học có khả năng bồi dưỡng năng lực
tự học nói chung và năng lực tự học truyện cổ tích nói riêng cho học sinh
lớp 6.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu vấn đề tự học truyện cổ tích trên bình diện lí thuyết, gồm:

Chƣơng 2. Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh lớp 6 qua các bài
học về truyện cổ tích.
Chƣơng 3. Thực nghiệm sư phạm.

7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Lí thuyết về tự học
1.1.1.1. Khái niệm tự học
Thế nào là tự học? Có nhiều cách định nghĩa về khái niệm này. Xin dẫn
ra các quan điểm sau đây:
Theo giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, sử dụng
các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ
bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ,
tình cảm, cả nhân sinh quan, cả thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí
tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý

Người học là chủ thể tự mình chiếm lĩnh tri thức. Kết quả tự học cao hay
thấp phụ thuộc vào năng lực tự học của cá nhân đó. Với học sinh phổ thông thì
việc tự học thường có sự hướng dẫn của giáo viên.
Chúng ta có thể kể đến những tấm gương tự học như Trương Vĩnh Ký
(1837 - 1898) – nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục, nhà khảo cứu văn
hóa tiêu biểu của Việt Nam. Ông là người có khả năng tự học rất cao, tri thức
uyên bác, biết và sử dụng thông thạo 27 ngoại ngữ, là một trong những người
biết nhiều ngoại ngữ nhất thế giới. Hay như Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tấm gương
sáng ngời về tinh thần tự học, với tinh thần lấy “tự học làm cốt” Bác đã không
ngừng tự học mọi lúc mọi nơi để có được tri thức uyên thâm và vốn sống
phong phú. Và ngày nay, rất nhiều những tấm gương tự học, tự tìm tòi, sáng tạo
trên nhiều lĩnh vực khác nhau, họ đã và đang cống hiến trí tuệ của mình để làm
cho thế giới ngày một phát triển.
1.1.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của người học. Cũng
theo tác giả Thái Duy Tuyên trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống
và đổi mới” [34], các nhân tố chính ảnh hưởng đến việc tự học là:

9
Thứ nhất, đó chính là bản thân người học. Người học phải xác định được
động cơ, nhu cầu học tập của bản thân, cộng với tố chất sẵn có như năng khiếu,
khả năng ghi nhớ của người học, trình độ lý luận và trải nghiệm thực tiễn, kỹ
năng tự học, ý chí, xúc cảm…
Thứ hai, đó là nhân tố xã hội. Nhân tố này gồm rất nhiều đối tượng như
thầy cô, cha mẹ, anh em họ hàng, bạn bè…Thầy cô giáo ảnh hưởng trực tiếp
đến quá trình tự học qua nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ
chức dạy học; Gia đình là nguồn động viên tinh thần cũng như vật chất cho
người học; Bạn bè trao đổi, tranh luận làm nảy sinh những vấn đề mới…
Thứ ba, đó là các điều kiện về vật chất và tinh thần. Đây là nhân tố không
thể thiếu trong hoạt động tự học bởi sách vở, thời gian, tài chính, môi trường

chủ động của B. F. Skinner cũng đã nghiên cứu hai thí nghiệm nổi tiếng là thí
nghiệm dạy chim bồ câu tự tìm lấy thức ăn trong các hạt có hình thù giống
nhau nhưng mầu sắc khác nhau và thí nghiệm chuột đạp cần câu cơm để nói về
việc tự học. Theo học thuyết này, bài học là vì lợi ích của chính người học; mục
đích học, nội dung học là do chính nhu cầu của người học. Chim bồ câu và
chuột trong thí nghiệm là hình ảnh của người học tích cực, chủ động tìm ra kiến
thức bằng hành động của mình. Học thuyết cũng khẳng định việc học (tự học)
thực chất là một quá trình tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kỹ xảo nhận thức, tạo
ra các cầu nối trong tình huống học từ đó tự biến đổi mình, tự làm phong phú
mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh
mình. Còn việc dạy thích hợp với quá trình tự học nói trên là một quá trình có
bản chất là cộng hưởng dạy học với tự học tạo ra chất lượng và hiệu quả giáo
dục cao.
Comenski (1852 - 1879) người Slovakia luôn đòi hỏi người giáo viên tạo
ra cho học sinh môi trường hứng thú học tập và tự lực cố gắng dành lấy kiến
thức. Ông tâm sự: “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi tư tưởng độc
lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng vào thực tiễn”
(Dẫn theo cuốn “Phương pháp dạy học ngữ văn THPT những vấn đề cập nhật”
của tác giả Nguyễn Thanh Hùng và Lê Thị Diệu Hoa – NXB Đại học sư phạm).

11
Như vậy, công việc dạy học của người thầy không phải là nhồi nhét cho
người học những kiến thức mà mình đã thu lượm được mà phải trao cho họ
chiếc chìa khóa để mở các cánh cửa tri thức đó một cách chủ động. Nói một
cách hình ảnh là trao họ cái cần câu chứ không phải là cho họ con cá. Trong
thời đại mà khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng như hiện nay, nhà trường
dù tốt đến mấy cũng không đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người học. Vì
vậy, việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh là điều rất quan trọng và cần
thiết. Có năng lực và kỹ năng tự học, các em học sinh có thể nắm vấn đề một
cách chắc chắn và bền vững, không những thế các em còn có thể phát huy khả

đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội: Nó hướng vào những vấn đề
cơ bản, những hiện tượng có tính phổ biến trong đời sống nhân dân, đặc biệt là
những xung đột có tính chất riêng tư giữa người với người trong phạm vi gia
đình và xã hội. Nó dùng một số tưởng trượng và hư cấu riêng (có thể gọi là
tưởng tượng và hư cấu cổ tích) kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đặc thù
khác để phản ánh đời sống và ước mơ của nhân dân trong những thời kỳ,
những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp (ở nước ta chủ yếu
là xã hội phong kiến)” [36]
Tác giả Nguyễn Bích Hà trong cuốn “Giáo trình Văn học dân gian Việt
Nam”có dẫn giải: “Cổ có nghĩa là cũ, tích là dấu vết còn để lại” và dựa vào
những nghiên cứu về truyện cổ tích tác giả “tạm định nghĩa”: “Truyện cổ tích
là những truyện kể có yếu tố hoang đường kỳ ảo. Nó ra đời từ sớm nhưng đặc
biệt nở rộ trong xã hội có sự phân hóa giàu nghèo, xấu tốt. Qua những số
phận khác nhau của nhân vật, truyện trình bày kinh nghiệm sống, quan niệm
đạo đức, lý tưởng và ước mơ của nhân dân lao động về một xã hội công bằng,
dân chủ, hạnh phúc” [8, tr. 75]
Tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Giáo trình Văn học dân gian
Việt Nam” nhận định: “Truyện cổ tích là sáng tác dân gian thuộc loại hình tự
sự, chủ yếu sử dụng yếu tố nghệ thật kỳ ảo để thể hiện cái nhìn hiện thực của

13
nhân dân với đời sống, bộc lộ quan niệm về đạo đức cũng như về công lý xã
hội và ước mơ một cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân lao động” [14, tr. 116]
Sách giáo khoa Ngữ văn 6 đưa ra khái niệm: “Truyện cổ tích: loại truyện
dân gian kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật quen thuộc: Nhân vật bất
hạnh (như: người mồ côi, người con riêng, người em út, người có hình dạng
xấu xí, ); Nhân vật dũng sĩ và nhân vật có tài năng kì lạ; Nhân vật thông minh
và nhân vật ngốc nghếch; Nhân vật là động vật (con vật biết nói năng, hoạt
động, tính cách như con người). Truyện cổ tích thường có yếu tố hoang đường,
thể hiện ước mơ, niềm tin của nhân dân về chiến thắng cuối cùng của cái thiện

với thế giới thực tại “Thế giới ấy – dù ở truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích
về loài vật hay truyện cổ tích sinh hoạt – là thế giới không có thực” [33, tr.8].
Đọc những câu chuyện cổ tích, người đọc bị hấp dẫn bởi thế giới cổ tích thần kì
với những ông bụt, bà tiên, những phép biến hóa khôn lường; bởi sự dũng cảm,
tài hoa, thông minh của các nhân vật chính diện. Không những thế, người đọc
còn hả hê, sung sướng khi cái xấu, cái ác bị trừng trị: Mụ dì ghẻ và Cám
(Truyện cổ tích Tấm Cám) vì tham lam, đố kị mà cuối cùng phải chuốc lấy cái
chết; Người anh (Truyện cổ tích Cây khế) cũng vì tham lam mà rơi xuống biển
sâu; Mụ vợ (Truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng) vì tham lam, bội bạc nên
dù đã được cá vàng đáp ứng cho thành Nữ hoàng sống trong cung điện nguy
nga cuối cùng lại ngồi bên cái máng lợn sứt mẻ trước túp lều nát ban đầu…
Truyện cổ tích ca ngợi, bênh vực cho đạo đức của con người thông qua việc
xây dựng hệ thống nhân vật chính diện ăn ở hiền lành, thật thà chất phác, vị
tha, độ lượng, hay giúp đỡ người khác. Còn hệ thống nhân vật phản diện tượng
trưng cho cái xấu, cái ác bao giờ cũng bị trừng phạt ở cuối truyện. Qua việc
thưởng phạt phân minh ấy, truyện cổ tích bao giờ cũng khuyên nhủ, dạy bảo
con người về đạo lý. Những triết lý sống như “Ở hiền gặp lành” “Ác giả ác
báo” “Tham thì thâm” …đều được rút ra từ những câu truyện cổ tích một cách
tự nhiên, không gò ép. Nói như Gu – xep: “Truyện cổ tích khái quát hóa kinh

15
nghiệm sống của nhân dân dưới một hình thức mọi người có thể tiếp thu được
và có hiệu lực về mặt thẩm mĩ đồng thời trong đời sống của bản thân nhân dân,
nó là một phương tiện giáo dục quan trọng đối với thế hệ trẻ ” (Dẫn theo luận
văn thạc sĩ của tác giả Hà Thị Phương Bắc “Dạy – học truyện cổ tích ở trưởng
THCS – Thực trạng và giải pháp”, TTHL Đại học Thái Nguyên).
Hư cấu là bản chất mang tính thẩm mỹ, là đặc trưng nổi bật của thể loại
truyện cổ tích. Nếu như thần thoại và truyền thuyết chú ý đến mảng hiện thực
rộng lớn, những đề tài cao cả, những nội dung hoành tráng mang tính cộng
đồng thì truyện cổ tích quan tâm đến những quan hệ giữa con người với con

Thứ nhất: Nhân vật trong truyện cổ tích.
Thứ hai: Xung đột trong truyện cổ tích.
Thứ ba: Kết cấu trong truyện cổ tích
Thứ tư: Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích
Thứ năm: Những “công thức” cố định trong truyện cổ tích
Giải mã được các yếu tố trên trong từng câu chuyện cổ tích sẽ giúp người
đọc có khả năng tự chiếm lĩnh, khám phá để hiểu đúng, hiểu sâu sắc truyện cổ
tích. Vì thế, chương 2 của luận văn chúng tôi sẽ căn cứ theo hướng nghiên cứu
này để bồi dưỡng năng lực tự học truyện cổ tích cho học sinh.
1.1.2.3. Việc dạy học truyện cổ tích trong chương trình Ngữ văn 6
Trong chương trình Ngữ văn 6, năm truyện cổ tích được lựa chọn vào
sách giáo khoa:
- Truyện cổ tích Thạch Sanh
- Truyện cổ tích Sọ Dừa
- Truyện cổ tích Em bé thông minh
- Truyện cổ tích Ông lão đánh cá và con cá vàng
- Truyện cổ tích Cây bút thần
Chúng tôi nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn (Sách giáo viên và một số
sách thiết kế của một số tác giả) xin được tóm tắt một số quan điểm về việc dạy
học truyện cổ tích như sau:

17
Theo quan điểm được trình bày trong sách giáo viên Ngữ văn 6 tập 1,
các tác giả viết sách thống nhất quan điểm: “Sách giáo khoa Ngữ văn không
chỉ chú ý cung cấp kiến thức mà còn chú ý hình thành kỹ năng tự học, tự tìm
hiểu ở học sinh. Với việc tổ chức học tập và giảng dạy theo thể loại, sách mong
muốn giúp học sinh không chỉ học một biết một mà thông qua các tác phẩm cụ
thể (nhưng tiêu biểu cho một thể loại) đã học, học sinh biết cách cảm thụ, tìm
hiểu và tiếp nhận các tác phẩm tương tự về đặc điểm thể loại, hệ thống, thi
pháp, cách thức thể hiện…; có nghĩa là không chỉ chú ý giúp học sinh học cái

Từ phương pháp tiếp cận chung này, giáo viên có thể vận dụng linh hoạt,
sáng tạo khi dạy từng văn bản cụ thể.
Như vậy, cả hai quan điểm trên đều dựa trên đặc điểm thi pháp của
truyện cổ tích để tiếp cận. Ở đề tài này, chúng tôi cũng chọn hướng tiếp cận từ
đặc điểm thi pháp để bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh lớp 6 qua việc
dạy học truyện cổ tích.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Đặc điểm tiếp nhận bài học về thể loại truyện cổ tích của học sinh lớp 6
1.2.1.1. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 6
Ngày nay, với quan điểm dạy học hướng vào người học thì việc phải
hiểu đối tượng mà người thầy đang tác động vào (học sinh) là điều vô cùng cần
thiết, không chỉ cho công việc dạy học mà cho cả công tác giáo dục. Cuốn
“Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm” có phân tích rất kỹ đặc điểm tâm lí
lứa tuổi học sinh trung học cơ sở. Các tác giả nhận định: “Học sinh THCS có
độ tuổi từ 11, 12 đến 14,15 tuổi. Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và
nó có một vị trí đặc biệt quan trọng trong trong thời kì phát triển của trẻ em. Vị
trí đặc biêt này được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau của nó (thời kì
quá độ, tuổi khó bảo, tuổi khủng hoảng, tuổi bất trị…). Những tên gọi đó nói
lên tính phức tạp và tầm quan trọng của lứa tuổi này trong quá trình phát triển
của trẻ em”[11, tr. 27]. Cụ thể là:

Trích đoạn Giờ dạy đối chứng: Kết quả dạy thực nghiệm:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status