Để hoàn thành khóa luận này, với tình cảm chân thành, em xin trân trọng cảm ơn
Trường Đại học Quảng Bình, tập thể giảng viên khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã
tận tình giảng dạy, động viên khích lệ, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên - TS Nguyễn Thị Nga, đã
hướng dẫn chỉ bảo tận tâm, tận sức để em hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Đồng Phú đã
tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn lo lắng động viên em trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Do điều kiện về thời gian cũng như năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn
chế, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được các ý kiến đóng
góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Dương Thị Huyền
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Nga. Các tài liệu, những nhận định là trung thực.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này.
Quảng Bình, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Dương Thị Huyền
1.2. Cơ sở thực tiễn .........................................................................................................................16
1.2.1. Nội dung dạy học cụ thể về câu ghép ở lớp 5 hiện nay ..............................................16
1.2.2. Khái quát một số thông tin về thực trạng dạy học ở trường Tiểu học Đồng Phú
có liên quan đến đề tài .....................................................................................................................18
1.2.3. Thực trạng của việc dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Đồng
Phú từ quan điểm giao tiếp .............................................................................................................19
1.2.3.1. Mục đích khảo sát thực trạng .........................................................................................19
1.2.3.2. Nội dung khảo sát thực trạng ..........................................................................................19
1.2.3.3 Cách thức khảo sát thực trạng .........................................................................................19
1.2.3.4. Chọn mẫu khảo sát thực trạng ........................................................................................19
1.2.3.5. Kết quả khảo sát thực trạng.............................................................................................20
1.2.3.5.1. Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên ...........................................20
1.2.3.5.2. Thực trạng kiến thức về câu ghép và kỹ năng sử dụng câu ghép trong giao
tiếp của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú .................................................................24
1.2.4. Nguyên nhân của thực trạng dạy và học câu ghép .......................................................25
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................................................26
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY CÂU GHÉP CHO HỌC SINH
LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG PHÚ TỪ QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP ..................27
2.1. Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học để nâng cao chất lượng dạy câu ghép .......27
2.1.1. Dạy câu ghép theo hướng phát huy tính tích cực trong hoạt động giao tiếp của
học sinh ..............................................................................................................................................27
2.1.2. Dạy câu ghép phải đặt trong ngữ cảnh ............................................................................27
2.1.3. Vận dụng hình thức tổ chức trò chơi học tập trong dạy học câu ghép ...................27
2.2. Trên quan điểm giao tiếp, đề xuất bổ sung một số nội dung dạy học về câu ghép .29
2.3.Vận dụng linh hoạt một số phương pháp dạy học để tổ chức dạy câu ghép cho học
sinh lớp 5 từ quan điểm giao tiếp .................................................................................................36
2.3.1. Vận dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ trong dạy học câu ghép .....................36
2.3.2. Vận dụng phương pháp luyện tập theo mẫu trong dạy học câu ghép .....................36
3.4. Kết luận thực nghiệm...............................................................................................................59
KẾT LUẬN CHUNG ......................................................................................................................61
1. Kết luận ...........................................................................................................................................61
2. Kiến nghị ........................................................................................................................................62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................................................63
PHỤ LỤC 1 ........................................................................................................................................65
PHỤ LỤC 2 ........................................................................................................................................66
PHỤ LỤC 3: .......................................................................................................................................68
KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
STT
Kí hiệu
Chú giải
1
[17, tr.40]
2
CN
Chủ ngữ
3
9
SGK
Sách giáo khoa
10
TV
Tiếng việt
11
VD
Ví dụ
12
VN
Vị ngữ
Trích dẫn từ tài liệu tham khảo 17 trang 40
Luyện từ và câu
Phương pháp
góp phần trong việc hoàn thành các nhiệm vụ của môn tiếng Việt ở tiểu học.
1
Xuất phát từ những lý do vừa nêu, tôi chọn vấn đề “Tổ chức dạy câu ghép cho
học sinh lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú – Đồng Hới – Quảng Bình từ quan điểm
giao tiếp” làm đề tài nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Câu ghép và vấn đề dạy câu ghép ở tiểu học
Theo sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5, tập 2: “Câu ghép là câu do nhiều vế câu
ghép lại. Mỗi vế câu thường có cấu tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và
thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác” [19, tr.8].
Việc dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5 là một vấn đề từ lâu đã được chú trọng.
Điều này thể hiện khá rõ nét ở chỗ, có nhiều tài liệu tham khảo đã đề cập đến nội dung
này:
Về mặt lý luận, một số công trình khoa học của các tác giả khi nghiên cứu về câu
ghép như: công trình “Ngữ pháp Tiếng Việt” của Đỗ Thị Kim Liên, năm 1999, ở
chương V – Câu [8, tr.100], tác giả đề cập đến các khái niệm về câu đơn, câu ghép,
việc phân loại câu ghép: câu ghép có quan hệ từ liên kết, câu ghép không có quan hệ
từ liên kết. “ Cơ sở ngữ pháp Tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Kim Thản, năm 2008, ở
chương II – Cách đặt câu ghép [17, tr.40], tác giả đề cập về câu ghép có phần rộng hơn
ngoài định nghĩa câu ghép, tác giả còn nêu các quy tắc đặt câu ghép. Tất cả các tài liệu
trên cũng chỉ mới đề cập đến vấn đề lý thuyết về câu ghép chưa nhắc đến việc dạy câu
ghép như thế nào?
Về mặt dạy học, có công trình “Câu tiếng Việt và việc luyện câu cho học sinh tiểu
học” của Nguyễn Quý Thành, năm 2009, trong chủ đề hai – Luyện câu cho học sinh
tiểu học theo hướng giao tiếp [18, tr.159], tác giả nói đến các định nghĩa giao tiếp,
chức năng của giao tiếp, các nhân tố giao tiếp,… tác giả cũng đã nêu lên các phương
pháp luyện câu cho học sinh tiểu học theo hướng giao tiếp.
2.2. Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Đề tài nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết những khó khăn của giáo viên và
học sinh trong quá trình dạy và học về câu ghép, góp phần nâng cao chất lượng dạy
học vấn đề về câu ghép tiếng Việt cho học sinh lớp 5 theo quan điểm giao tiếp.
3
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học về câu ghép tiếng Việt cho học sinh lớp 5 trong phân môn
Luyện từ và câu theo quan điểm giao tiếp.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các phương pháp dạy học và hệ thống bài tập dạy học về câu ghép tiếng Việt cho
học sinh lớp 5 trong phân môn Luyện từ và câu theo quan điểm giao tiếp.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ khảo sát thực trạng và thử nghiệm kết quả dạy học về câu ghép tiếng
Việt cho học sinh lớp 5 theo quan điểm giao tiếp, qua phân môn Luyện từ và câu, tại
trường Tiểu học Đồng Phú trên địa thành phố Đồng Hới.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài đề xuất được cách thức vận dụng các phương pháp dạy học tích cực và
xây dựng được hệ thống bài tập dạy học về câu ghép theo quan điểm giao tiếp, sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học về câu ghép cho học sinh lớp 5.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể
sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
- Tìm hiểu thực trạng về dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5 tại trường Tiểu học
Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Đề xuất cách thức vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc dạy học
câu ghép theo quan điểm giao tiếp ở lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú.
giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy câu ghép nói riêng. Đồng thời đưa
ra các phương pháp dạy học tích cực và xây dựng các dạng bài tập nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5. Qua đó, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích
đối với giáo viên, phụ huynh và sinh viên.
5
10. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài.
Chương 2: Một số biện pháp tổ chức dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 Trường
Tiểu học Đồng Phú từ quan điểm giao tiếp.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
6
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.1.1. Giao tiếp và hoạt động giao tiếp
a. Giao tiếp
Giao tiếp là sự tiếp xúc, trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm,…
giữa các thành viên trong cộng đồng (giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập
thể, giữa tập thể với tập thể).
Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người, là phương tiện cơ bản để hình
thành nhân cách trẻ. Con người sử dụng nhiều phương tiện để giao tiếp nhưng ngôn
ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất.
được sử dụng trong hoạt động giao tiếp thường ngày, phù hợp với hoạt động giao tiếp
ở lứa tuổi tiểu học. Không sử dụng những ngữ liệu khô cứng, rập khuôn, xa đời sống
thực của HS.
Ngữ liệu để dạy tiếng Việt không chỉ là những bài có sẵn trong tài liệu học tập
(SGK, vở luyện tập, ...) mà còn bao gồm những lời nói, bài nói, bài viết do HS tạo ra.
Nghĩa là HS không chỉ học đọc, học viết, học nói, học nghe trên các tài liệu học tập do
nhà trường cung cấp mà còn thực hành các kĩ năng trên trong khi các em giao tiếp ở
nhà, ở trường. Thông qua các nội dung phong phú của những ngữ liệu dạy giao tiếp
bằng tiếng Việt sẽ giúp HS ngoài việc đọc, viết, nghe, nói thông thạo, còn tích lũy
được các tri thức thiết thực, không bỡ ngỡ với thực tiễn cuộc sống.
Để tổ chức hoạt động giao tiếp, chúng ta cần tạo ra những môi trường giao tiếp có
chọn lọc, phù hợp với cuộc sống thực thông qua các bài tập rèn kĩ năng mang tính tình
huống, sinh động, hấp dẫn, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên, kích
thích HS hào hứng tham gia, bộc lộ bản thân, từ đó phát triển kĩ năng giao tiếp.
* Quan điểm giao tiếp chi phối phương pháp dạy học
Quán triệt quan điểm giao tiếp, trong dạy học tiếng Việt nói chung và trong dạy
học LT&C nói riêng:
9
- Phải luôn xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, tức là đưa
chúng vào các đơn vị lớn hơn, đặt nó trong hoạt động giao tiếp, trong các sản phẩm
giao tiếp.
- Phải xuất phát từ ngữ cảnh giao tiếp, từ ngữ liệu điển hình để quy nạp thành dấu
hiệu khái niệm có tính lý thuyết rồi từ đó vận dụng vào giải quyết các bài tập cụ thể.
- Phải coi trọng việc tổ chức dạy học câu giao tiếp cho HS, coi thực hành giao
tiếp là hoạt động chủ yếu.
Vì vậy, trong dạy học LT&C hay trong tổ chức dạy học câu thì phương pháp dạy
học cần gắn dạy ngôn ngữ với giao tiếp, nghĩa là gắn ngôn ngữ với những yếu tố ngoài
Các hình thức dạy học trên góp phần tăng cường tối đa cơ hội để các HS trong
lớp được làm việc và thể hiện khả năng của mình, phát huy cao tinh thần hiểu biết, học
hỏi và khả năng hợp tác, thi đua giữa các thành viên trong lớp.
Các em mạnh dạn tham gia ý kiến, phát huy được tính chủ động của mình;
khuyến khích những em nhút nhát, những em không dám phát biểu chỗ đông người
cũng có cơ hội nói lên suy nghĩ của mình trong nhóm nhỏ hơn. Qua đó, HS chia sẻ ý
kiến và kinh nghiệm; tạo điều kiện để các em học hỏi lẫn nhau theo quan điểm "Học
thầy không tày học bạn"; hình thành và phát triển cho HS khả năng hợp tác. Bên cạnh
đó, các hình thức dạy học này còn giúp HS củng cố, đào sâu tri thức mới được học,
làm sáng tỏ những điều thắc mắc, GV có cơ hội thu được thông tin phản hồi từ HS
nhiều hơn.
Tóm lại, quá trình dạy học tiếng Việt ở tiểu học cần nghiên cứu hoạt động giao
tiếp bằng ngôn ngữ để làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung, phương pháp và hình
thức dạy học cho đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học tiếng Việt.
1.1.2. Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4-5
Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu
học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi
sang hoạt động học tập. Đây là một bước ngoặt lớn trong đời sống của trẻ.
11
1.1.2.1. Đặc điểm nhận thức
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính
không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến
cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện
tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương
hướng rõ ràng - tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công
việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,...).
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang
xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn
thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả
năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông
qua các kênh thông tin khác nhau.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý
tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát
triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt
khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ
của trẻ.
Xuất phát từ đặc điểm nhận thức và đặc điểm ngôn ngữ của trẻ, chương trình
môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu lớp 5 nói riêng lấy nguyên
tắc dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản.
Tóm lại, việc tìm hiểu chung về các bài học câu ghép, cách vận dụng quan điểm
giáo tiếp trong dạy học và đặc điểm tâm lý học sinh lớp 4-5 là cơ sở vững chắc về mặt
lí luận cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Tổ chức dạy câu ghép cho học
sinh lớp 5 trường tiểu học Đồng Phú từ quan điểm giao tiếp”.
1.1.3. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.3.1. Khái niệm về câu tiếng Việt
Từ trước đến nay có rất nhiều định nghĩa về câu. Ở Việt Nam, hầu hết các nhà
ngôn ngữ học đều dựa vào các định hướng của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới để
định nghĩa về câu. Các định nghĩa này có thể được căn cứ về mặt nội dung của câu,
hoặc căn cứ vào mối liên hệ của câu với hiện thực. Cũng có tác giả định nghĩa câu dựa
13
vào cả hai mặt nội dung và hình thức cấu tạo câu. Có thể kể ra một số định nghĩa sau:
Tác giả Trương Văn Chình lấy mục đích giao tiếp làm cơ sở, ông chọn định nghĩa về
câu do A. Meillet nêu: “Câu là một tổ hợp tiếng dùng để diễn tả một sự tình hay nhiều
sự tình có quan hệ với nhau; tổ hợp ấy tự nó tương đối đầy đủ ý nghĩa và không phụ
huộc về ngữ pháp về một tổ hợp khác” [10, 476]. Tác giả Nguyễn Kim Thản không
1.1.3.2. Quan niệm và cách định nghĩa câu ghép tiếng Việt
Trong Việt ngữ học, có ít nhất là ba quan niệm khác nhau tương đối phổ biến về
câu đơn, câu ghép (hoặc câu đơn, câu phức; câu đơn giản, câu phức hợp):
Một số tác giả quan niệm câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ - vị, câu ghép là câu
chứa hai cụm chủ - vị trở lên. VD:
a/ Trời mưa rất to (câu đơn)
b/ Trời mưa rất to, mọi người đều mang áo mưa. (câu ghép)
c/Vì trời mưa rất to nên mọi người đều mang áo mưa. (câu ghép)
Một số tác giả phân biệt ba loại câu: câu a là câu đơn, câu b là câu phức, còn câu
c là câu ghép.
Đi vào chi tiết, các tác giả còn trình bày nhiều ý kiến khác nhau, VD: Nên dựa
vào cụm chủ - vị hay dựa vào nòng cốt câu để phân biệt câu đơn, câu ghép? Nên hiểu
nòng cốt câu thế nào cho đúng? Những câu như Trời ơi, đội ta thắng rồi! hay Hoa, lá,
cành là câu đơn hay câu ghép?...
Định nghĩa câu ghép trong SGK Tiếng Việt 5 thể hiện quan niệm thứ 2 – một
quan niệm được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về cụm từ được trình bày trong cuốn
Ngữ pháp tiếng Việt, năm 1983 của Viện Ngôn ngữ học và nhiều giáo trình đại học,
nhiều sách nghiên cứu. Để phù hợp với trình độ nhận thức của HS tiểu học, sách định
nghĩa: “Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại. Mỗi vế của câu ghép thường có cấu
tạo giống câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý
của những vế câu khác”
15
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Nội dung dạy học cụ thể về câu ghép ở lớp 5 hiện nay
Bảng 1.1: Bảng nội dung các bài dạy câu ghép trong sách Tiếng Việt 5, tập hai
Tuần
hệ từ.
20
Người công
dân
- Những quan hệ từ thường được dùng là: và,
Nối các vế
rồi, thì, nhưng, hay, hoặc,…
câu ghép
bằng quan - Những cặp quan hệ từ thường được dùng là:
hệ từ
+ Vì… nên…; do… nên…; nhờ… mà…
+ Nếu… thì…; giá… thì…; hễ… thì…
+ Tuy… nhưng…; mặc dù… nhưng…
+ Chẳng những… mà…; không chỉ… mà…
- Để thể hiện quan hệ nguyên nhân – kết quả
21
Người công
dân
Nối các vế giữa hai vế câu ghép, ta có thể nối chúng bằng:
câu ghép
+ Một quan hệ từ: vì, bởi vì, nên, cho nên…
bằng quan
+ Hoặc một cặp quan hệ từ: vì… nên…; bởi
hệ từ
Nối các vế vế câu ghép, ta có thể nối chúng bằng:
câu ghép
+ Một quan hệ từ: tuy, dù, mặc dù, nhưng…
bằng quan
+ Hoặc một cặp quan hệ từ: tuy… nhưng…;
hệ từ
mặc dù… nhưng…; dù… nhưng…
Vì cuộc
23
sống thanh
bình
Nối các vế - Để thể hiện quan hệ tăng tiến giữa các vế câu
câu ghép
ghép, ta có thể nối chúng bằng một trong các
bằng quan
cặp quan hệ từ: không những… mà…; chẳng
hệ từ
những… mà…; không chỉ… mà….
- Để thể hiện quan hệ về nghĩa giữa các vế câu,
ngoài quan hệ từ, ta còn có thể nối các vế câu
Vì cuộc
24
với nhà trường. Với đội ngũ giáo viên đạt chuẩn của trường luôn nêu cao tinh thần
đoàn kết, nhiệt tình , có kinh nghiệm trong giảng dạy, gắn bó với nhà trường. Có ý
thức tự học, tự bồi dưỡng, trau dồi kiến thức trình độ chuyên môn; đặc biệt luôn là đội
ngũ đi đầu trong việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ
thông tin trong dạy học.
Đội ngũ cán bộ giáo viên giỏi chuyên môn nghiệp vụ, dày dặn kinh nghiệm, có
lòng nhiệt huyết, yêu trẻ mến nghề. Trường có 38 giáo viên, trong đó 100% giáo viên
đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định, đều có năng lực sư phạm tốt. cán bộ và giáo
viên nhà trường luôn học hỏi, cầu tiến, trau dồi, tiếp thu những phương pháp dạy học
mới. Chính nhân tố này đã góp phần tạo nên một môi trường giáo dục tiến bộ. lành
mạnh tạo niềm tin cho cả phụ huynh và học sinh. Bên cạnh đó nhà trường luôn đảm
bảo về điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học được trang bị đầy đủ. Các phòng học
đều kiên cố, được trang bị bàn ghế đúng chuẩn, có bảng chống lóa và tủ đựng thiết bị
đồ dùng được trang trí đẹp mắt, tạo không gian lớp học gần gũi với học sinh. Mang lại
cảm giác thích thú cho học sinh khi đến trường. yếu tố này giúp cho quá trình dạy học
của các giáo viên được thuận lợi hơn và học sinh có hứng thú vào việc học tập, hình
thành ý thức học tập, biết cố gắng phấn đấu trở thành con ngoan ,trò giỏi xứng đáng là
những chủ nhân tương lai của đất nước.
18