Một số kinh nghiệm trong dạy văn miêu tả người cho học sinh lớp 5 trường tiểu học cẩm sơn, huyện cẩm thủy - Pdf 43

MỤC LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16

Đề mục

Trang
I. MỞ ĐẦU
1
1. Lí do chọn đề tài.
1
2. Mục đích nghiên cứu
1
3. Đối tượng nghiên cứu.
1
4. Phương pháp nghiên cứu.

I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tiếng Việt là môn học chủ công trong nhà trường tiểu học, góp phần đắc
lực thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ. Việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường
tạo cho học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt văn hoá để suy nghĩ, giao tiếp và
học tâp. Qua đó, rèn cho các em năng lực tư duy, phương pháp suy nghĩ, giáo
dục các em những tư tưởng lành mạnh, trong sáng.
Trong chương trình tiểu học mới, môn Tiếng Việt được chia thành các
phân môn, mỗi phân môn có nhiệm vụ rèn cho HS một số kĩ năng nhất định.
Phân môn Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao nhất, rèn cho HS cả
bốn kĩ năng, trong đó chú trọng vào các kĩ năng nghe, nói, viết. Đối với phân
môn này HS phải được hình thành và rèn luyện năng lực trình bày văn bản (nói
và viết) ở nhiều thể loại khác nhau.
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân môn
khó trong các phân môn của Tiếng Việt. Để thực hiện được mục tiêu của phân
môn Tập làm văn, HS cần huy động tất cả kiến thức của Tiếng Việt thu được qua
việc học các phân môn khác. Trường Tiểu học Cẩm Sơn, số học sinh dân tộc
thiểu số chiếm trên 80%, đa số còn sai về phương ngữ nên việc giúp các em đạt
được các yêu cầu trên là vấn đề hết sức cần thiết. Với HS lớp 5, việc rèn kĩ năng
làm văn miêu tả cho HS là thiết thực. Học tốt văn miêu tả sẽ là điều kiện thuận
lợi để HS học tốt các môn học khác ở Tiểu học và học lên lớp trên.
Việc dạy Tập làm văn nói chung và dạy văn tả người nói riêng bên cạnh
những thành công còn nhiều hạn chế. Học sinh thường có tâm trạng chung là
ngại viết và sợ viết văn. Các bài văn miêu tả của các em thường hời hợt, chung
chung, thiếu những sắc thái cảm xúc riêng biệt. Nhiều giáo viên còn lúng túng
trong phương pháp dạy văn mới, năng lực, sự am hiểu thực sự về môn học còn
hạn chế...Chính vì vậy, kết quả làm văn của học sinh hầu như chưa được như
mong muốn, năng khiếu, sự sáng tạo của học sinh khá giỏi đa phần chưa được
phát huy.
Xuất phát từ những nhận thức trên, tôi đã trăn trở suy nghĩ, tìm tòi, học

1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao. Tổng
hợp các kiến thức, kĩ năng từ các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả,
Luyện từ và câu,... để viết nên một bài văn hay. Góp phần cùng các môn học
khác mở rộng vốn sống, rèn tư duy logic và bồi dưỡng tâm hồn cho trẻ.
Học làm văn là học làm Người, chính vì vậy mà mục đích dạy văn ở mọi
nhà trường, dù khác nhau do đòi hỏi của mỗi thời kì lịch sử vẫn có nét chung là
vươn tới những giá trị tinh thần vĩnh cửu: Cái đẹp, lòng tốt, tình thương đồng
loại, đức hạnh, thuỷ chung,...
Trong phân môn Tập làm văn lớp 5, Miêu tả là thể loại văn điển hình,
chiếm số lượng lớn. Học miêu tả, học sinh có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp
muôn màu của cuộc sống. Qua đó, tình cảm yêu mến thiên nhiên, con
người,...của trẻ được nảy nở, tâm hồn, tình cảm của trẻ thêm phong phú. Dạy
học sinh làm văn miêu tả tốt, người giáo viên sẽ tiếp thêm một phương tiện để
các em khám phá cái hay, cái đẹp của văn chương, của cuộc sống... và tự khám
phá những năng lực sáng tạo còn tiềm ẩn ngay trong những tâm hồn thông minh
và đáng yêu. Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt
đẹp của trẻ.
Chương trình Tập làm văn lớp 5 tiếp tục dạy về văn miêu tả với hai kiểu
bài: “Tả cảnh”, “Tả người”. Trong mỗi kiểu bài nói trên, ngoài việc tiếp tục rèn
luyện cho học sinh các kĩ năng cơ bản đã dạy ở lớp 4 như:
- Quan sát đối tượng miêu tả.
- Lựa chọn và sắp xếp ý để miêu tả.
- Dựng đoạn và viết bài miêu tả.
Chương trình còn chú trọng rèn luyện một số kĩ năng miêu tả gắn với đặc
điểm của kiểu bài cụ thể. Ví dụ về kiểu bài tả người: tả ngoại hình của người, tả
hoạt động của người.
3



con em mình.
Thực trạng học sinh còn nhiều hạn chế như vậy đã làm cho tiết Tập làm
văn trở nên nặng nề đối với học sinh và giáo viên tiểu học. Ý nghĩ cho rằng Tập
làm văn là một phân môn khó dạy, khó học và khó đạt hiệu quả cao đã là nhận
thức chung của nhiều thầy cô giáo dạy lớp 4, lớp 5.
Sau một thời gian giảng dạy, tôi tiến hành khảo sát học sinh lớp 5A với đề
bài gợi ý sau: Chọn một trong các đề sau:
1. Tả một em bé đang tuổi tập đi, tập nói.
2. Tả một người thân (ông, bà, cha, mẹ, anh, em…) của em.
3. Tả một bạn học của em.
4. Tả một người lao động (công nhân, nông dân, thợ thủ công, bác sĩ, y
tá, cô giáo, thầy giáo,…) đang làm việc.
Sau khi kiểm tra kết quả đạt được như sau :
4


Lớ
p


số

Hoàn thành tốt
Số lượng

Tỉ lệ

Khảo sát chất lượng
Hoàn thành
Số lượng

- Tiếp tục rèn viết văn cho mọi đối tượng học sinh ở tất cả các tiết học
chính khoá. Quan tâm đặc biệt tới học sinh diễn đạt yếu, viết chậm. Rèn tư duy
logic, bồi dưỡng khả năng cảm thụ văn học cho các em ở mọi lúc, mọi nơi trong
tất cả các môn học.
- Củng cố, nâng cao cách hành văn cho học sinh khá, giỏi trong các giờ
Hoạt động ngoại khoá và trong các tiết Hướng dẫn học buổi chiều.
3. Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề:
Chất lượng bài văn viết của học sinh sau mỗi tiết học chính là kết quả
cuối cùng của việc dạy Tập làm văn. Bài văn miêu tả tốt phải tả được sự vật, sự
việc một cách đầy đủ, chân thật, từ ngữ trong sáng, giàu màu sắc hình ảnh,... thể
hiện được tình cảm, cảm xúc phù hợp với lứa tuổi.
Để đạt được những mục tiêu đó, tôi tiến hành thực hiện một số biện pháp
sau:
3.1. Biện pháp1: Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của đề bài:
Kết quả của giờ Tập làm văn phụ thuộc ở nhiều yếu tố, trong đó sự tìm
hiểu, nắm vững yêu cầu của bài tập là hết sức cần thiết. Kĩ năng này có vai trò
định hướng khái quát, quyết định bài văn đáp ứng đúng hay sai yêu cầu của đề
bài. Trong quá trình tìm hiểu đề văn miêu tả, người viết cần xác định rõ những
yêu cầu về đối tượng miêu tả, trọng tâm miêu tả và trình tự tả bài văn miêu tả.
Vì thế, giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập cũng như đề bài văn miêu tả,
giáo viên đã giúp các em định hướng rõ nội dung cần thực hiện một cách chính
xác, có hệ thống. Không những vậy, học sinh còn có thể "tự do", thả sức bay
bổng vào thế giới sáng tạo của riêng mình mà không sợ "nhầm đường, lạc lối".
5


Do vậy, với mỗi bài tập hay đề bài văn bất kì, tôi đều hướng dẫn các em
tìm hiểu để nắm vững yêu cầu của đề, từ đó xây dựng nội dung, trình tự tả... một
cách hợp lí qua các gợi ý sau:
- Đọc thầm yêu cầu của đề.

và rèn luyện. Để tạo lập được một văn bản tốt, học sinh cần kiên trì tiến hành
từng bước luyện tập theo một trình tự nhất định.
Tiếp theo việc nắm nội dung, cùng với việc hướng tới người đọc và mục
đích đạt tới của bài văn, học sinh phải tìm ý để triển khai nội dung đề bài văn.
Câu hỏi đặt ra là: Muốn tìm ý phải làm gì? Tìm ý ở đâu? Ý nhất định phải
hiện ra trong óc, trong sự suy nghĩ của trí tuệ, sự hồi tưởng của kí ức, là phải do
sự xúc cảm thôi thúc từ con tim.... Đây cũng là những điều quan trọng mà giáo
viên cần chuyển tải tới các em học sinh.
6


Ý bắt nguồn từ cuộc sống, vì vậy giáo viên cần hướng dẫn học sinh có
thói quen quan sát để tích luỹ các nhận xét sau này làm ý cho bài văn. Tôi luôn
đặt ra yêu cầu với học sinh là: Nhận xét thấy gì, ghi thế ấy, nhận xét đến đâu, ghi
luôn đến đó.
Bằng cách làm như vậy, học sinh đều có thể tìm được các ý miêu tả cho
bài viết của mình.
Tuy nhiên, giáo viên cần lưu ý học sinh là các "ý" trong một bài văn cần
có quan hệ với nhau bởi các ý đó trước hết phải nhằm biểu hiện thống nhất nội
dung bài văn.
Do vậy, để tránh hiện tượng sa đà vào ghi chép dẫn tới lan man, xa đề, tôi
luôn hướng dẫn các em bám sát yêu cầu của đề, xác định rõ trọng tâm của bài, tự
đặt ra những câu hỏi: Đề bài yêu cầu chúng ta miêu tả gì? Để làm tốt bài văn ta
phải thu thập những ý nào? (miêu tả, bộc lộ cảm xúc...), ý nào có trong sách, ý
nào lấy ở thực tế quan sát đời sống, ý nào lấy trong " Sổ tay văn học"?
Với mỗi đề bài cụ thể, tôi yêu cầu học sinh lập một dàn ý chi tiết theo các
bước sau:
- Xác định cấu tạo của bài văn (tả người) nói chung.
- Quan sát đối tượng, tìm ý (qua thực tế và qua sách vở); (Công việc này
yêu cầu học sinh chuẩn bị trước ở nhà).

người khác, không lẫn với con sông, cánh đồng của môn Tự nhiên xã hội.
Hướng dẫn học sinh tìm ý, hoàn chỉnh dàn ý trên cơ sở tôn trọng cái
riêng, tôn trọng cách nghĩ, cách cảm của mỗi học sinh, tôi đã giúp các em có cơ
sở vững chắc để tạo lập được những văn bản hoàn chỉnh.
3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh có những kĩ năng cần thiết để
viết văn hay:
Viết văn hay đòi hỏi một số kĩ năng nhất định ở người viết. Phần lớn các
kĩ năng cơ bản như: tìm ý, sắp xếp ý, lập dàn bài,… các em đều nắm được qua
các giờ học chính khoá. Nhưng với những hiểu biết đó, không phải ai cũng viết
được văn hay.
Để học sinh có được những bài viết thực sự có chất lượng và đạt kết quả
cao, tôi đã hướng dẫn các em một số kĩ năng cần thiết sau:
3.3.1. Tạo cảm hứng để viết văn hay:
Cảm hứng là động cơ thúc đẩy ham muốn viết văn. Cảm hứng thôi thúc
tình cảm (yêu, ghét,...), gợi mở trí tuệ (chọn lựa từ ngữ, sắp xếp ý tứ trong câu
trong đoạn vv…) để viết bài văn hay.
Đứng trước sự vật mà lòng ta dửng dưng, không mảy may xúc động thì
khó có thể có được những nhận xét, phát hiện tinh tế, mới mẻ và độc đáo.
Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã viết: "Khi người ta cảm hứng, dường như
giọng và ngữ điệu nảy sinh trước và từ ngữ dường như được gọi đến để thể hiện
ngữ điệu thành lời, thành câu,…"
Vì vậy, tạo cảm hứng là việc làm hết sức cần thiết để có thể viết được bài
văn hay. Tạo cảm hứng không chỉ diễn ra trong một tiết học, một thời điểm…mà
cần diễn ra trong cả một quá trình học tập lâu dài.
Giáo viên giúp học sinh tạo cảm hứng viết văn thông qua các biện pháp:
a- Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học:
Cảm hứng bắt nguồn từ cảm thụ văn học (qua sách báo, kể chuyện, thơ và
văn được học và được đọc).
Khi đọc một cuốn truyện, một bài văn, bài thơ hay, các em cảm nhận được
bao điều mới mẻ, lí thú và hấp dẫn về thiên nhiên, về cuộc sống, con người...

"Phương pháp chỉ hình thức của sự tự vận động bên trong của chính nội
dung" (Hê ghen). Khi cách dạy làm dấy lên trong lòng học sinh những rung
động, tạo được cho các em tâm trạng có giai điệu và nhu cầu thể hiện tâm trạng
ấy thì sự diễn đạt của các em sẽ trở nên lưu loát, trôi chảy, bài viết sẽ có sức
thuyết phục, hấp dẫn và truyền cảm mạnh mẽ.
3.3.2. Rèn óc quan sát, phát huy trí tưởng tượng:
Một bài viết đủ về nội dung, phong phú về ý là kết quả của óc quan sát
tinh tế và trí tưởng tượng tốt. Quan sát giúp phát hiện những chi tiết sinh động,
phong phú của sự vật, sự việc, tìm ra "cái để viết" ra nội dung bài văn.
Do vậy, bản thân người viết phải là cây ăng ten nhạy cảm theo định hướng
yêu cái đẹp, trọng sự thực và quý điều thiện thì quan sát mới có hiệu quả, mới
bắt được làn sóng tốt lành.
Quan sát chính xác về đối tượng giúp cho việc tìm được những chi tiết
tiêu biểu để không lẫn nó với đối tượng khác (tả ông không lẫn với tả bà, tả em
bé này không lẫn với em bé khác…), đồng thời để người được tả là một người
cụ thể chứ không phải là một người chung chung ước lệ.
Do đó, trước hết, giáo viên giúp học sinh xác định đối tượng và mục đích
quan sát để tìm ý cho bài văn.
Ví dụ: Để xây dựng nội dung cho bài văn "Tả một người trong gia đình"
tôi hưóng dẫn xác định như sau:
- Đọc kĩ yêu cầu đề bài.
- Hãy nêu đối tượng cần quan sát? (Bố hoặc mẹ, ông, bà, anh, chị, em..)
- Em cần quan sát những gì để thực hiện đúng yêu cầu của đề bài? (Đặc
điểm nổi bật về ngoại hình, tính tình hoặc hoạt động của người đó).
Bằng cách làm như vậy, các em đều tìm được các chi tiết cụ thể cho bài
viết.
Để giúp học sinh biết cách quan sát, trong những điều kiện thích hợp, tôi
hướng dẫn học sinh quan sát một đối tượng cụ thể, để qua đó các em có được
những kĩ năng khi thực hiện quan sát những đối tượng khác. Để quan sát có hiệu
quả, giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng tất cả các giác quan khi quan sát như:

phát huy trí tưởng tượng khi quan sát, có được các kĩ năng cần thiết để viết ra
bài văn hay.
3.3.3. Biết diễn đạt có nghệ thuật khi viết văn:
Vẻ đẹp của một bài văn hay không chỉ ở ý nghĩa, nội dung, tình cảm, cảm
xúc mà nội dung và cảm xúc đó phải được thể hiện thông qua vẻ đẹp của Tiếng
Việt.
Do vậy, dạy viết văn miêu tả, giáo viên cần hướng dẫn học sinh những kĩ
năng diễn đạt ngôn ngữ, đó là:
a- Biết lựa chọn và sử dụng từ ngữ:
Từ ngữ là vật liệu chính để xây dựng bài văn. Dạy viết văn, người giáo
viên cần hướng dẫn các em biết lựa chọn từ ngữ có sức gợi tả hình ảnh, âm điệu
và gợi cảm xúc để diễn đạt nội dung đề bài một cách tốt nhất, hay nhất.
"Có bột mới gột nên hồ", muốn sử dụng từ đúng và hay, học sinh phải có
vốn từ phong phú và luôn biết cách làm giàu vốn từ ngữ đó.
Giáo viên cần tập cho học sinh thói quen tích luỹ vốn từ ngữ cho riêng
mình thông qua quá trình quan sát thực tế, qua đọc sách, báo, truyện,…qua một
số hoạt động được tổ chức như: Câu lạc bộ yêu văn thơ, xem băng đĩa hình …
Biết lắng nghe để học cách nói, cách viết của các nhà thơ, nhà văn, của thầy, của
bạn, của mọi người qua tiếp xúc hàng ngày.
Ví dụ: Khi tìm hiểu "Hạng A Cháng" học sinh phát hiện các đặc điểm
ngoại hình của Hạng A Cháng qua "ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay
bắp chân rắn như trắc, gụ… sức lực tràn trề…", thấy sự dồi dào của thân thể
Hạng A Cháng qua hoạt động cày "thân hình nhoài thành đường cong mềm
mại… đôi chân xoải dài… băm những bước ngắn, gấp gấp…".
Sau mỗi lần tìm hiểu như vậy, tôi yêu cầu các em chọn lọc, ghi chép để
thu nhận, tích luỹ những từ ngữ hay, những hình ảnh đẹp. Mỗi em sẽ tập cho
11


mình thói quen ghi "Sổ tay văn học", nhờ vậy vốn hiểu biết được nâng cao, vốn

sự lười biếng nhưng không nặng lời trách mắng, chê bai.
Không ngần ngại động viên các em, tôi đã có được những thành công bất
ngờ. Niềm vui của tôi được nhân lên khi tôi cảm nhận được sự xúc động, niềm
vui sướng từ phía các em. Chưa bao giờ học sinh của tôi lại yêu thích môn làm
văn và hào hứng khi viết văn đến vậy.
Thái độ nâng đỡ, khích lệ, cảm thông… của giáo viên đã khơi gợi niềm tự
hào về thành công ở mỗi học sinh, điều đó có ý nghĩa vô cùng to lớn, bởi chỉ có
thành công, niềm tự hào về thành công, cảm giác xúc động khi thành công mới
là nguồn gốc của sự mong muốn học hỏi.
4. Một số trò chơi học tập lồng ghép trong dạy học văn tả người.
Trò chơi học tập là một hoạt động giúp học sinh thư giãn sau mỗi tiết học
căng thẳng. Bên cạnh đó qua trò chơi học tập, còn giúp học sinh lĩnh hội kiến
thức của bài học một cách nhẹ nhàng nhưng vẫn đạt hiệu quả cao. Từ thực tế đó,
trong các tiết luyện tập về văn tả người, tôi đã áp dụng một số trò chơi học tập
vào tiết dạy. Bước đầu tôi đã gặt hái được kết quả nhất định.
Tôi xin giới thiệu một số trò chơi lồng ghép trong những tiết tập làm văn
tả người:
Trò chơi: Tả gương mặt người (Cả lớp, nhóm, cặp, cá nhân)
*Mục tiêu:
- Giúp HS phát triển kĩ năng vận dụng từ ngữ miêu tả người (gương mặt,
hình dáng bên ngoài...) qua việc sử dụng tranh, ảnh.
- Giúp cho các tiết luyện tập miêu tả trở nên sinh động hơn.
- Hỗ trợ cho các tiết làm văn miệng.
*Đồ dùng:
- GV sưu tầm hình chụp hay tranh vẽ lớn một gương mặt người với các
chi tiết rõ ràng cho cả lớp quan sát. Ví dụ :

+ Một số thẻ từ miêu tả đặc điểm gương mặt người:
14


Làn da
Trắng hồng,
ngăm đen, sạm
nắng, nhăn
nheo, mượt mà,
xanh xao,…..

Miệng

Mũi

- Vài tờ giấy lớn.
- Bút lông.
* Cách thực hiện:
B1: Để vận dụng vốn từ sẵn có của HS, GV có thể gắn các tờ giấy ghi tên
các bộ phận của gương mặt lên bảng. Yêu cầu HS xung phong viết các từ miêu
tả vào mỗi tờ giấy. Các từ sẽ được cả lớp vận dụng trong các bước tiếp theo.
B2: GV gắn hình chụp lên bảng, cả lớp có vài phút xem hình.
B3: GV yêu cầu cả lớp viết các câu văn miêu tả sử dụng các từ ngữ miêu tả
các bộ phận được viết ra trong bước 1. (GV có thể gắn thêm các thẻ từ miêu tả
lên bảng hỗ trợ HS trong việc chọn hay sử dụng từ để đặt câu).
B4: HS đọc lại và sửa các câu miêu tả.
B5: GV yêu cầu HS xung phong viết các câu miêu tả hoàn chỉnh lên bảng
hay một tờ giấy lớn. Cả lớp đọc và nhận xét các câu miêu tả của bạn.
Trò chơi: Người tôi yêu quý (Cả lớp, nhóm, cặp, cá nhân)
* Mục tiêu:
- Phát triển kĩ năng viết văn miêu tả người (tính cách) của học sinh.
- Tạo điều kiện cho HS chia sẻ với các bạn khác về hoàn cảnh, ước muốn
và khả năng của bản thân thông qua việc viết.
* Vật liệu: GV và HS mang đến lớp một số ảnh chụp của bản thân hay các


* Cách thực hiện:
B1: HS trao đổi ảnh chụp với các bạn trong nhóm.
B2: HS xem ảnh và suy nghĩ về một số câu hỏi giúp mình có thông tin về
hình người trong ảnh. Các em viết câu hỏi của mình ra mẩu giấy nhỏ (Các câu
hỏi về tính cách, sở thích, nghề nghiệp...).
VD: Em bé này có quan hệ gì với bạn ? Em tên gì ?
Bạn này thích làm việc gì nhất khi rãnh rỗi ?
Bạn này ước mơ trở thành một người như thề nào khi lớn lên ?
B3: HS trả lại ảnh chụp cho bạn kèm theo mẩu giấy có các câu hỏi.
B4: HS viết một đoạn miêu tả ngắn về ảnh chụp của mình heo các câu
hỏi. GV gắn các thẻ từ miêu tả tính cách, nghề nghiệp,... trên bảng để HS tham
khảo khi viết miêu tả.
B5: Các em đặt câu hỏi và đọc các đoạn miêu tả về ảnh chụp của bạn và
nhận xét.
Hoạt động này còn có thể thực hiện tiếp theo bằng cách GV gắn các hình
hay ảnh chụp lên bảng. Mỗi em nhận một đoạn miêu tả và tìm ảnh phù hợp trên
bảng để đặt bên cạnh.
Trò chơi ô: Miêu tả người (Hoạt động nhóm)
* Mục tiêu:
- Giúp HS phát triển vốn từ miêu tả người, đặc biệt là các từ miêu tả ngoại
hình.
- Giúp cho các tiết làm văn miệng trở nên lí thú hơn đối với HS.
VD: Vận dụng cho bài “Luyện tập tả người” (TV5, tập 1- trang 132)
*Vật liệu: - Bảng trò chơi ô hình rắn kích thước 1/2 tờ A0.

Xuất
phát

Nơi

ảnh theo thứ tự từ trên xuống của bộ ảnh. Em này sẽ xem ảnh và đặt 2- 3 câu
văn miêu tả về người trong ảnh. Cả nhóm xem ảnh và nhận xét câu miêu tả của
bạn.
VD:
Đây là bé gái người dân tộc Kinh.
Bé có khuôn mặt bầu bĩnh. Nước
da trắng hồng. Mái tóc cắt ngắn
trông rất xinh xắn.

+ Sau khi thực hiện xong, em đặt ảnh chụp vào vị trí dưới cùng của bộ
thẻ.
+ Nếu vòng nhựa của em nào vào các vòng tròn nhỏ, thì em hết lượt đi.
B4: Trò chơi sẽ kết thúc khi tất cả các em trong nhóm cùng về đến Đích
hay tất cả các ảnh đã được HS xem và miêu tả hết.
Bộ thẻ đọc: “Các bài miêu tả hay”
*Mục tiêu:
- Cung cấp tài liệu đọc về văn miêu tả cho GV và HS.
- Phát triển lòng yêu thích đọc và viết văn miêu tả của HS.
*Vật liệu :
GV sưu tầm các bài hay đoạn văn miêu tả tiêu biểu, hay và đạt hiệu quả,
viết ra và trình bày trên các tờ giấy kích thước A4 và ép nhựa cho HS đọc. Nếu
19


được, các bài hay đoạn văn miêu tả này nên kèm theo tranh hay hình ảnh minh
họa. Các bài nên được lựa chọn theo nhiều đề bài đa dạng theo chương trình dạy
và học môn Tập làm văn miêu tả của chương trình lớp 5.
* Cách sử dụng các bài văn miêu tả hay với HS
- Bộ thẻ đọc “Các bài miêu tả hay” là tài liệu học tập của lớp. Do đó, bộ
thẻ đọc này nên được giữ thường xuyên trong lớp học để HS dễ dàng mượn đọc

15
62,5%
0
Trên đây là một số kết quả viết văn mà học sinh lớp tôi đã đạt được trong
hơn một học kì qua. Kết quả đạt được tuy ở mức độ khiêm tốn nhưng đã động
viên được cả thầy và trò cố gắng hơn để đạt được kết quả cao hơn trong thời
gian tới.
Giải pháp trong thời gian tới:
Trong thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục duy trì phát huy hiệu quả các biện pháp
trên để giúp học sinh viết văn ngày càng tốt hơn. Tìm và nghiên cứu tài liệu về
cách dạy học sinh viết văn nói chung và cách dạy viết văn tả người nói riêng.
Đặc biệt, tôi sẽ cố gắng tổ chức nhiều hơn các tiết học ngoại khoá, đưa
thêm một số hình thức vào giờ sinh hoạt lớp. Cụ thể: thi sáng tác thơ, viết văn
theo mùa, theo các chủ đề: Kỉ niệm ngày 8/3, 26/3, 30/4, 19/5...Thi viết về bà,
về mẹ, về anh bộ đội Cụ Hồ và về Bác Hồ kính yêu...
20


III. K ẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Hơn một học kì tiến hành áp dụng dạy học sinh viết văn miêu tả kiểu bài
“Tả người” đạt kết quả tốt, tôi đã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Muốn dạy học sinh viết văn tả người tốt, giáo viên cần nắm vững các
kiến thức của môn học và hình thành cho học sinh các kiến thức cơ bản để thực
hiện chính xác và đầy đủ các yêu cầu của bài văn tả người.
- Luôn trau dồi vốn kiến thức văn học cho bản thân. Rèn luyện để có khả
năng cảm thụ văn học tốt.
- Nâng cao ý thức học văn cho học sinh, đồng thời giúp học sinh có những
kĩ năng cần thiết để viết văn hay bằng sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo, cụ
thể,... của giáo viên.
- Cần hướng dẫn học sinh học tốt ở tất cả các môn học: Tập đọc, Đạo

Việt.
5. Chuyên đề giáo dục Tiểu học - Nhà xuất bản giáo dục.

22


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Cẩm Sơn.
TT

1
2
3

4

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh giá xếp Kết quả
Năm học
loại (Phòng, Sở,
đánh giá
đánh giá
Tỉnh,..)
xếp loại
xếp loại



ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG.
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………..
…….................................................................................................................................
........................................................................................................................................
............................................................ ……………………………………………………..
…….................................................................................................................................
.............................................................……………………………………………………..
…….................................................................................................................................
.............................................................
XẾP LOẠI: ………………….................

24


ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GD&ĐT.
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………..
…….................................................................................................................................
........................................................................................................................................
............................................................ ……………………………………………………..
…….................................................................................................................................
.............................................................……………………………………………………..
…….................................................................................................................................
.............................................................


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status