Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
1.1. Theo UNESCO, học tập gồm có các mục đích sau: “Học để biết, học
để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Trường học chúng ta
hiện đang nặng về học để biết, chương trình đào tạo và việc đánh giá năng lực
của học sinh, sinh viên vẫn dựa chủ yếu vào kiến thức, nghĩa là chỉ đạt được một
trong bốn mục tiêu của UNESCO. Tuy nhiên, từ biết đến hiểu, đến làm việc
chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách rất lớn. Chính vì vậy, việc
giáo dục kĩ năng mềm trong nhà trường là một yêu cầu cấp thiết, quan trọng.
1.2. M.Gorki đã khẳng định: “Văn học là nhân học”, học văn chính là học
làm người, học văn luôn gắn với đời sống của con người, các kiến thức Ngữ văn
đem lại hiệu quả tác động đến mỗi cá nhân học sinh. Bởi vậy, Ngữ văn là môn
học có lợi thế rất lớn trong việc giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh.
1.3. Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan
tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới. Ở nước
ta, tích hợp được xem là nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình,
biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy. Với môn Ngữ
văn, nguyên tắc tích hợp được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn,
Tiếng Việt đến Làm văn; trong mọi khâu của quá trình dạy học; trong mọi yếu tố
của hoạt động học tập.
Các văn bản văn học Việt Nam được đưa vào chương trình Ngữ văn 10
trong các tiết đọc - hiểu văn bản là những văn bản văn học dân gian và văn học
1
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
trung đại – vốn là những tác phẩm văn học khá khó hiểu đối với học sinh, không
gần gũi với đời sống sinh hoạt hằng ngày của các em trong thời đại hiện nay,
đặc biệt là các tác phẩm văn học trung đại. Chính vì vậy các em ít có hứng thú
khi tiếp nhận các tác phẩm. Do đó, việc tích hợp giáo dục kĩ năng mềm cho học
sinh trong quá trình đọc - hiểu văn bản sẽ góp phần tạo hứng thú học cho học
sinh, giúp các em hiểu bài hơn, thấy được mối quan hệ mật thiết giữa văn
Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp. Nội hàm khoa
học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự
nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét
bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng
giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy. Trong lí luận dạy học, tích
hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ
khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp
phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ
về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần
của bộ môn đó.
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường trung
học phổ thông chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn
được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ
phận tri thức khác (hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật ) mà còn xuất
phát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép
kín, tách biệt nhà trường và cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng
vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với những tình huống cụ thể
mà học sinh sẽ gặp sau này trong đời sống thực tiễn.
4
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn nhằm nâng cao
năng lực sử dụng những kiến thức và kĩ năng mà học sinh lĩnh hội được, bảo
đảm cho mỗi học sinh khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và kĩ
năng của mình để giải quyết những tình huống trong đời sống thực tiễn. Mặt
khác, tránh được những nội dung, kiến thức và kĩ năng trùng lặp, đồng thời lĩnh
hội những nội dung, tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng
rẽ không có được.
1.2 Kĩ năng mềm
Theo quan niệm của WHO, kĩ năng sống có ba nhóm: Nhóm một - Nhóm
kĩ năng nhận thức, Nhóm hai - Nhóm kĩ năng liên quan đến cảm xúc, Nhóm ba -
phương diện khác nhau của đời sống. Do đó, thông qua việc đọc – hiểu các văn
bản văn học, giáo viên có thể tích hợp giáo dục các kĩ năng mềm cần thiết cho
học sinh.
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.1 Thuận lợi
6
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Xã hội hiện nay đang đặt ra vấn đề cấp thiết mong muốn đổi mới nền giáo dục,
gắn liền giáo dục trong nhà trường với thực tiễn đời sống. Ngành giáo dục cũng
ý thức rõ cần phải truyền đạt các kĩ năng sống cho học sinh trong thời kì hội
nhập. Trong các kĩ năng sống, kĩ năng mềm được quan tâm hàng đầu vì nó
quyết định chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân.
Môn văn có những đặc trưng riêng thích hợp với việc giáo dục các kĩ
năng, dạy văn cũng là dạy các em học sinh làm người, biết thích ứng, hội nhập
tốt với xã hội hiện đại.
Đây là những điều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện đề tài.
2.2 Khó khăn
Tuy ý thức được tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng mềm cho học
sinh nhưng hiện nay việc đưa giáo dục kĩ năng mềm vào trong nhà trường vẫn
còn hạn chế, việc chủ động tích hợp giáo dục kĩ năng mềm mới chỉ ở một số
giáo viên, chưa trở thành một quy định yêu cầu như một số nội dung tích hợp
khác.
Thời gian dạy một tiết rất ngắn nên việc tích hợp cũng chỉ trong một thời
gian hạn hẹp, vì vậy, giáo viên khó kết hợp được nếu không khéo léo.
Học sinh có tình trạng học lệch nên các em ít đầu tư vào môn văn, yếu về
cảm thụ văn học nên khó có khả năng rút ra bài học kĩ năng mềm cho bản thân.
Ngoài ra, việc rèn luyện kĩ năng mềm cần tiến hành thông qua những hoạt động
tích cực thực tiễn, trong khi nhiều học sinh vẫn quen với lối học thụ động. Học
sinh của trường đa số xuất thân từ nông thôn nên khả năng thích ứng với xã hội
7
tiêu quan trọng của giáo viên là giúp học sinh nắm bắt được các giá trị nội dung,
nghệ thuật của văn bản và rèn luyện một số kĩ năng đọc – hiểu. Tuy nhiên, nhiều
chi tiết nghệ thuật trong văn bản bên cạnh việc góp phần thể hiện nội dung của
tác phẩm còn có khả năng gợi đến một bài học, một kĩ năng mềm nào đó có thể
ứng dụng trong đời sống. Giáo viên cần có sự liên tưởng rộng, phát hiện ra các
chi tiết để đặt ra các câu hỏi nêu vấn đề có tính chất gợi mở để dẫn dắt học sinh
rút ra các bài học đó.
Ví dụ 1: Khi tìm hiểu văn bản Chiến thắng Mtao Mxây, trước chi tiết
Đăm Săn ăn được miếng trầu của Hơ Nhị trở nên khỏe mạnh và được ông trời
mách cho cách đánh Mtao Mxây, nhờ đó mới giành được thắng lợi cuối cùng,
giáo viên đặt câu hỏi: Em có thể rút ra bài học nào từ chi tiết này? Giáo viên có
thể gợi dẫn thêm: Tại sao Đăm Săn là một người anh hùng tài giỏi võ nghệ mà
vẫn phải nhờ đến sự giúp đỡ của Hơ Nhị và ông trời? Lúc này học sinh có thể
trả lời được câu hỏi của giáo viên: Bài học rút ra ở đây là sống trong xã hội,
chúng ta rất cần sự giúp đỡ của người khác, khi sự nỗ lực của bản thân chưa
đem lại kết quả mong muốn, người ta cần tìm kiếm sự hỗ trợ của mọi người. Do
đó đặt ra vấn đề là bản thân mình cũng cần luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác, từ
9
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
đó mà xây dựng ý thức làm việc tập thể, tinh thần đoàn kết tương trợ lẫn nhau.
Đây chính là một kĩ năng mềm quan trọng trong công việc của mỗi cá nhân, bởi
lẽ kĩ năng này giúp chúng ta có thể nhận được những lời khuyên, sự can thiệp
cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề khó khăn, giảm bớt được căng
thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúp
cá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiều trường hợp, giúp
chúng ta có cái nhìn mới và hướng đi mới.
Ví dụ 2: Khi tìm hiểu văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu –
Trọng Thủy, sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về các nhân vật chính trong
tác phẩm, giáo viên yêu cầu học sinh rút ra các bài học cho riêng mình. Học sinh
có thể rút ra rất nhiều bài học khác nhau. Đối với nhân vật Mị Châu, một số học
trang bị cho bản thân, không được che đậy chỗ thiếu hụt kiến thức, đây chính là
tiền đề quan trọng để mỗi người rèn luyện cho mình kĩ năng tự học.
11
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Ví dụ 5: Trong văn bản Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, và Thái
sư Trần Thủ Độ, giáo viên đặt ra các câu hỏi yêu cầu học sinh rút ra các bài học
sống cho bản thân thông qua các chi tiết trong các văn bản:
Chi tiết Trần Quốc Tuấn trả lời vua Trần về kế sách chống giặc: “nó cậy
trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản (binh) chế trường (trận) là sự
thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì dễ chế
ngự. Nếu nó đến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn
dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được
đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được…” giáo viên cần hướng dẫn
học sinh không chỉ thấy được tài dùng binh của Trần Quốc Tuấn mà còn thấy
được sự cần thiết phải linh hoạt ứng biến trong những tình huống khác nhau.
Đây là bài học không bao giờ cũ, đặc biệt vẫn luôn có ý nghĩa trong thời đại
hiện nay.
Qua chi tiết Trần Thủ Độ lấy tiền lụa thưởng cho người hặc nói xấu mình
trước mặt vua Thái Tông, giáo viên định hướng cho học sinh một kĩ năng mềm
quan trọng, đó là kĩ năng chấp nhận và học hỏi từ những lời phê bình, biết biến
lời phê bình thành kinh nghiệm và bài học cho bản thân.
Qua chi tiết Linh Từ Quốc Mẫu bị người quân hiệu ngăn lại không cho đi
trong thềm cấm, về nhà khóc bảo Thủ Độ rằng: “Mụ này làm vợ ông mà bọn
quân hiệu khinh nhờn như thế”, Thủ Độ giận sai đi bắt, nhưng khi nghe người
quân hiệu kể sự thực, Trần Thủ Độ không trách gì lại còn lấy vàng lụa ban
12
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
thưởng, giáo viên cần giúp học sinh không chỉ thấy được sự công tư phân minh,
xem trọng phép tắc của Trần Thủ Độ mà còn rút ra một bài học kĩ năng quan
trọng là: trước một vấn đề xảy ra, rất cần xem xét, lắng nghe một cách toàn diện,
đây sẽ phần nào giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng đó.
3.2 Tạo tình huống giả định để học sinh rèn luyện kĩ năng mềm
Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống, những tình huống nghệ thuật
trong văn chương là sự khúc xạ của những tình huống có trong cuộc đời thực
hằng ngày. Do đó, việc tạo ra những tình huống giả định để học sinh rèn luyện
kĩ năng mềm là một cách hữu hiệu để các em thấy văn chương hoàn toàn không
xa rời cuộc sống thực tế, nó gắn liền với những con người hằng ngày xung
quanh các em. Đối với yêu cầu này, các em được tự do trình bày ý kiến của
mình, giáo viên lắng nghe và tôn trọng các ý kiến phát biểu của học sinh. Tuy
nhiên, giáo viên cần khái quát lại để các em nắm được một số kĩ năng mềm quan
trọng.
14
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Ví dụ 1: Khi dạy đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, giáo
viên có thể đặt ra tình huống giả định: Nếu có mặt trong đêm người chinh phụ
đang cô đơn, buồn tủi đó, anh chị sẽ nói những gì, làm những gì để nàng vơi bớt
nỗi buồn? Khi tạo ra tình huống này, rất nhiều em học sinh ở các lớp tôi trực
tiếp giảng dạy đã đưa ra những suy nghĩ rất sâu sắc: Yên lặng lắng nghe người
chinh phụ giãi bày nỗi buồn, những lo lắng chất chứa trong lòng; động viên
nàng rằng tương lai không xa chồng nàng sẽ trở về; khuyên nàng tìm những
niềm vui khác để vơi đi nỗi buồn nhớ,…
Ví dụ 2: Trong đoạn trích Trao duyên, giáo viên đặt ra tình huống: Nếu
đặt mình ở vị trí của Thúy Vân, anh chị sẽ suy nghĩ gì trước những lời nói và
hành động của Thúy Kiều? Nhiều em học sinh khi nhập vai Thúy Vân đã thể
hiện lòng thương cảm, sự cảm thông sâu sắc với nỗi đau của Thuý Kiều, một số
em học sinh cũng bày tỏ băn khoăn vì có thể bản thân sẽ phải chịu thiệt thòi
trong một cuộc hôn nhân không có tình yêu, cuộc sống vợ chồng sẽ không hạnh
phúc khi Kim Trọng lúc nào cũng hướng về Thúy Kiều. Tuy nhiên, cuối cùng
các em vẫn khẳng định sẽ đồng ý nhận lời trao duyên của chị, bởi sự hi sinh, bởi
những lí lẽ ràng buộc chí tình, chí nghĩa của Thúy Kiều.
cần thiết cho cuộc sống của các em.
Các bước tiến hành thảo luận nhóm:
Bước 1: Giáo viên nêu lên vấn đề cần thảo luận, chia nhóm và đề ra nhiệm
vụ cụ thể cho các nhóm.
Bước 2: Từng nhóm ngồi với nhau để dễ dàng trao đổi ý kiến, giáo viên
quan sát, dẫn dắt học sinh vận dụng tư duy vốn có để giải quyết từng vấn đề: gợi
lại những tri thức đã có, khơi gợi suy nghĩ thông qua vốn sống của các em.
Nhóm trưởng thu thập các ý kiến trong nhóm để báo cáo trước lớp.
*Tổ chức thuyết trình trước lớp
Sau khi học sinh đã có kết quả thảo luận nhóm, giáo viên cần tổ chức cho
các nhóm thuyết trình trước lớp, qua đó, rèn luyện cho các em kĩ năng thuyết
trình.
Khi tiến hành thuyết trình trước lớp, những học sinh khác cần lắng nghe,
ghi dàn ý, nội dung chính, vạch ra ý không hiểu hoặc không đồng tình để thắc
mắc. Sau khi người thuyết trình đã hoàn thành bài nói, các em cần nêu nhận xét,
đánh giá, đề xuất thắc mắc, tranh luận về những ý kiến đã đưa ra. Học sinh cần
tích cực tham gia thảo luận để giải quyết một cách đúng đắn, toàn diện vấn đề.
Sau đó, học sinh tranh luận, phân tích cũng như đặt ra các câu hỏi để bảo vệ ý
kiến của mình. Giáo viên nhận xét, đánh giá, rút ra kết luận cuối cùng, học sinh
lắng nghe, kết hợp ghi chép.
17
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Ví dụ 1: Khi dạy bài Tấm Cám, giáo viên đặt ra vấn đề: Tấm giết Cám là
một hành động đáng sợ. Liệu chi tiết đó có làm giảm đi vẻ đẹp của Tấm, trái với
truyền thống nhân ái, giàu lòng vị tha của người Việt Nam không? Vì sao?
Với câu hỏi như vậy, học sinh sẽ trả lời là “không” hoặc “có”; còn phần lý
giải sẽ gặp những khó khăn. Trong trường hợp này, giáo viên định hướng cho
các em nhớ lại những đặc điểm của nhân vật Tấm, nhớ lại đặc trưng của văn học
dân gian - về nhân vật chức năng trong các truyện cổ tích, gợi mở các quan điểm
khác nhau mà người thời xưa và nay đánh giá, cảm nhận cá nhân của em về vấn
Các buổi thảo luận và thuyết trình trên lớp như vậy không chỉ giúp học
sinh hào hứng trong học tập mà còn góp phần giúp các em rèn luyện các kĩ năng
mềm cần thiết để vận dụng trong đời sống hằng ngày.
IV. Kiểm nghiệm
Sau một thời gian sử dụng các biện pháp để tích hợp giáo dục kĩ năng
mềm cho học sinh trong các giờ đọc - hiểu văn bản, tôi nhận thấy không khí các
19
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
giờ học được cải thiện đáng kể. Số lượng học sinh xung phong phát biểu xây
dựng bài cũng như số học sinh trả lời được câu hỏi do giáo viên nêu ra ngày
càng nhiều hơn. Nhờ thế, các em có vốn liếng văn học nhất định để làm tốt các
bài nghị luận văn học. Điểm số của các em được cải thiện đáng kể: Lớp 10c3:
28/36 em (78 %) có điểm trung bình học kì 2 cao hơn kì 1; Lớp 10c7: 28/33 em
(85 %) có điểm số kì 2 cao hơn kì 1.
Trong mỗi tiết học, giáo viên phát huy được khả năng nhiều mặt của học
sinh, kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học, phát huy tính độc lập,
khả năng sáng tạo. Người học tự định hướng hoạt động học tập, tự khám phá,
tích hợp, trình bày, tự chủ động tổ chức hoạt động học tập, dám chịu trách
nhiệm. Các em bước đầu hình thành cho mình năng lực làm việc theo nhóm,
nâng cao khả năng tổ chức, năng lực tư duy sáng tạo,…
Kết quả cụ thể như sau:
20
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Lớp 10c3:
Họ và tên
TBHK
1
TBHK
2
Đặng Thị An 6.3 6.9
Hùng
5.4 6.4
Nguyễn Thị
Hương
6.1 7.1
Phạm Thị
Hương
4.4 6.0
Hoàng Thị
Hường
6.0 4.8
Trần Thị
Loan
6.2 6.7
Đậu Thị Nghĩa 6.0 7.4
Trần Khắc
Phong
5.1 5.1
Nguyễn Bá
Quyết
6.5 7.4
Lê Thị Thảo 5.6 6.5
Lê Thị Thắng 5.5 6.2
Nguyễn Thị Thu 5.5 7.2
21
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Lê Đại Tiến 6.9 7.3
Lê Thị Trang 6.9 7.7
Trần Văn Tuấn 3.8 5.6
Đậu Trọng Vọng 4.4 5.3
3.1 5.3
Nguyễn Trọng
Minh
4.0 5.5
Đỗ Thị Phương 5.3 6.3
Mai Văn Sơn 4.7 5.3
Nguyễn Anh Sơn 3.4 4.9
Ngô Quang Sửu 3.7 6.1
Mai Hữu Tâm 2.4 5.4
Mai Thị Thanh 4.1 6.0
Lê Thị Thắm 4.9 6.0
Nguyễn Đức
Thắng
5.4 6.4
Mai Văn Thêm 3.9 5.0
Lê Văn Thức 4.9 6.2
Lê Văn Tĩnh 5.8 5.9
Nguyễn Đức
Toàn
3.6 5.7
Lê Thị Trang 5.9 6.2
Lê Thị Thu
Trang
4.9 5.6
Ngô Thị Hà
Trang
3.2 4.3
Mai Thị Thu
Trâm
6.6 7.4